Thứ tư 13/05/2026 21:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện kinh doanh dịch vụ tư vấn du học ở Việt Nam hiện nay - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích quy định pháp luật hiện hành về kinh doanh dịch vụ tư vấn du học, trên cơ sở đó, chỉ ra một số vướng mắc, bất cập và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ tư vấn du học ở Việt Nam hiện nay.

Khi hội nhập quốc tế trở thành xu thế tất yếu toàn cầu thì giáo dục - đào tạo cũng không là ngoại lệ, du học đã trở thành xu hướng được nhiều người trong giới trẻ cùng phụ huynh lựa chọn. Nhu cầu du học nước ngoài tăng, dẫn đến sự ra đời của các công ty, trung tâm tư vấn du học trên khắp cả nước. Các tổ chức tư vấn du học đã góp phần đáp ứng nhu cầu cho học sinh và những người muốn tìm hiểu, được cung cấp thông tin trung thực về điều kiện học tập nâng cao trình độ ở nước ngoài. Trước đây, các công ty tư vấn du học hoạt động chủ yếu trên cơ sở quy định tại Quyết định số 05/2013/QĐ-TTg ngày 15/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập (Quyết định số 05/2013/QĐ-TTg), tuy nhiên, các quy định này trên thực tế đã phát sinh nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho sự phát triển của các công ty tư vấn du học trên cả nước. Những khó khăn, vướng mắc này đã được tháo gỡ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21/4/2017 quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2018/NĐ-CP ngày 04/10/2018 của Chính phủ (Nghị định số 46/2017/NĐ-CP). Lần đầu tiên, quyền và nghĩa vụ pháp lý của tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học được ghi nhận trong Nghị định số 86/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 của Chính phủ quy định về việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật (Nghị định số 86/2021/NĐ-CP), đồng thời, xác định rõ trách nhiệm cần phải thực hiện của các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học. Tuy nhiên, bên cạnh đó, quy định pháp luật hiện hành về hoạt động dịch vụ tư vấn du học vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, chưa rõ ràng cần được hoàn thiện nhằm góp phần ổn định hoạt động kinh doanh của tổ chức kinh doanh du học.

1. Quy định pháp luật hiện hành về kinh doanh dịch vụ tư vấn du học ở Việt Nam hiện nay

1.1. Tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học

Theo khoản 2 Điều 106 Nghị định số 46/2017/NĐ-CP, kinh doanh dịch vụ tư vấn du học bao gồm: (i) Giới thiệu, tư vấn thông tin về chính sách giáo dục của các quốc gia và vùng lãnh thổ; tư vấn lựa chọn trường học, khóa học, ngành nghề và trình độ phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người học; (ii) Tổ chức quảng cáo, hội nghị, hội thảo, triển lãm về du học theo quy định của pháp luật; (iii) Tổ chức chiêu sinh, tuyển sinh du học; (iv) Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng cần thiết cho công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập; (v) Tổ chức đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, đưa cha mẹ hoặc người giám hộ tham quan nơi đào tạo ở nước ngoài theo quy định của pháp luật; (vi) Các hoạt động khác liên quan đến kinh doanh dịch vụ tư vấn du học.

Ngoài ra, một trung tâm tư vấn du học cũng có thể tham gia vào toàn bộ các khâu trong quá trình tư vấn du học như: Giới thiệu, quảng cáo, chiêu sinh, tổ chức đưa học sinh Việt Nam sang nước ngoài, tham quan cơ sở đào tạo…

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 106 Nghị định số 46/2017/NĐ-CP quy định loại hình tổ chức kinh doanh tư vấn du học: (i) Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp; (ii) Các đơn vị sự nghiệp có chức năng kinh doanh dịch vụ tư vấn du học; (iii) Tổ chức giáo dục nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

1.2. Điều kiện kinh doanh dịch vụ tư vấn du học

Theo Phụ lục IV Luật Đầu tư năm 2020 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì dịch vụ tư vấn du học thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo nên dịch vụ tư vấn du học là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, trước khi tiến hành kinh doanh trong lĩnh vực này, doanh nghiệp cần xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học.

Về điều kiện kinh doanh dịch vụ tư vấn du học, theo quy định tại Điều 107 Nghị định số 46/2017/NĐ-CP, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học chỉ được phép hoạt động khi và chỉ khi đội ngũ nhân viên đáp ứng được 03 điều kiện cơ bản: (i) Đội ngũ nhân viên trực tiếp tư vấn du học có trình độ đại học trở lên; (iii) Có năng lực sử dụng ít nhất một ngoại ngữ từ bậc 4 trở lên theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam và tương đương; (iii) Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ tư vấn du học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Thủ tục để tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học được quy định tại Điều 108 Nghị định số 46/2017/NĐ-CP, theo đó: Tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học gửi trực tiếp hoặc qua bưu điện 01 bộ hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều này đến Sở Giáo dục và Đào tạo nơi kinh doanh dịch vụ tư vấn du học. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thẩm định hồ sơ, thẩm tra tính xác thực của tài liệu trong hồ sơ và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học; nếu chưa đáp ứng các điều kiện theo quy định thì thông báo bằng văn bản cho tổ chức dịch vụ tư vấn du học và nêu rõ lý do. Trong quá trình hoạt động, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo điều chỉnh, bổ sung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học. Trình tự điều chỉnh, bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học thực hiện như quy định tại khoản 3 Điều này. Như vậy, khi hồ sơ có đủ các tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 108 Nghị định số 46/2017/NĐ-CP và tuân thủ trình tự đã nêu trên, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học cho tổ chức đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học.

1.3. Quyền và trách nhiệm của tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học

Theo Điều 15 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP, quyền và trách nhiệm của tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học được quy định một cách cụ thể nhằm bảo vệ lợi ích của người học và bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong hoạt động của các tổ chức này.

1.3.1. Quyền của tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học

Thứ nhất, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học được ký kết hợp đồng đại diện tuyển sinh với các cơ sở giáo dục tại nước ngoài. Điều này giúp cho tổ chức có thể đại diện cho các học sinh Việt Nam trong quá trình xin học và tham gia các chương trình giáo dục tại các trường đại học, cao đẳng, trường phổ thông hay các tổ chức giáo dục khác ở nước ngoài.

Thứ hai, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học được công khai thông tin về hoạt động của mình trên trang thông tin điện tử của cơ quan cấp Giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ tư vấn du học. Việc công khai thông tin này giúp người học và phụ huynh có thể tra cứu và đánh giá về uy tín, kinh nghiệm và khả năng cung cấp dịch vụ của tổ chức.

Thứ ba, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh tư vấn du học mà không vi phạm các quy định khác tại Nghị định. Điều này bảo đảm tính pháp lý và tính chính đáng của các hoạt động mà tổ chức thực hiện.

Thứ tư, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học được hưởng thù lao theo thỏa thuận tại hợp đồng tư vấn du học. Quy định này là một phần quan trọng trong việc khuyến khích và thúc đẩy hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn du học chuyên nghiệp, bảo đảm các tổ chức có đủ động lực và khả năng để cung cấp dịch vụ tốt nhất cho người học và gia đình.

1.3.2. Trách nhiệm của tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học

Theo Điều 15 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học có trách nhiệm bảo đảm hoạt động đúng quy định và mang lại lợi ích cao nhất cho người học và cộng đồng.

Thứ nhất, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học phải thực hiện đăng ký cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm bảo đảm tính pháp lý của hoạt động và sự minh bạch trong quản lý.

Thứ hai, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học phải triển khai hoạt động tư vấn du học chậm nhất trong thời hạn 45 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Giấy Chứng nhận kinh doanh dịch vụ du học. Quy định này nhằm bảo đảm tính khách quan và hiệu quả của quá trình tư vấn cho người học và gia đình.

Thứ ba, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học có trách nhiệm tư vấn thông tin trung thực, chính xác về các điều kiện liên quan đến chất lượng giáo dục tại các cơ sở nước ngoài, học phí, sinh hoạt phí và các loại phí khác liên quan, cũng như các khó khăn, rủi ro có thể gặp phải trong quá trình du học, nhằm bảo vệ người học trước những thông tin thiếu minh bạch và bảo đảm quyền lợi của họ.

Thứ tư, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học cũng có trách nhiệm ký hợp đồng tư vấn du học với người có nhu cầu hoặc cha mẹ/người giám hộ hợp pháp theo nguyên tắc thỏa thuận, tự nguyện. Hợp đồng phải ghi rõ các nội dung như ngành nghề học, trường học, quốc gia đến học, thời gian học tập, các chi phí liên quan và các cam kết của mỗi bên, từ đó giúp người học và gia đình có được cái nhìn tổng thể và đầy đủ về các điều khoản và điều kiện của dịch vụ.

Thứ năm, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học không được ủy quyền hoặc nhận ủy quyền từ các tổ chức khác để triển khai hoạt động tư vấn du học nhằm bảo đảm sự minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học cũng phải niêm yết công khai thông tin tại trụ sở và trang thông tin điện tử của mình và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin này trước pháp luật.

Thứ sáu, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học có trách nhiệm giữ mối liên hệ, phối hợp với các cơ sở giáo dục nước ngoài để hỗ trợ du học sinh trong suốt quá trình học tập, đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của du học sinh.

Thứ bảy, tổ chức phải lưu trữ hồ sơ gửi công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập và thực hiện chế độ báo cáo hàng năm theo quy định, nhằm bảo đảm sự minh bạch và tính công bằng trong hoạt động.

1.4. Hậu quả pháp lý đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học vi phạm quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật

Hậu quả pháp lý khi tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học vi phạm quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật là rất nghiêm trọng và có thể gây ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động kinh doanh của tổ chức đó, cụ thể:

Thứ nhất, việc vi phạm có thể dẫn đến bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp xử phạt như phạt tiền hoặc các biện pháp khác tương đương để xử lý hành vi vi phạm của tổ chức. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tài chính mà còn đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức trong tương lai.

Thứ hai, hậu quả nghiêm trọng khác mà tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học có thể phải đối mặt là bị đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn du học. Biện pháp này nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm và bảo vệ quyền lợi của người học và gia đình. Đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn du học có thể kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định để bảo đảm rằng tổ chức đã sửa chữa và cải thiện các hành vi vi phạm trước khi được phép hoạt động trở lại.

Thứ ba, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học vi phạm có thể bị buộc phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng. Đây là biện pháp nhằm đền bù cho những tổn thất mà khách hàng đã phải chịu do sự cố, lỗi hoặc thiếu sót trong quá trình tư vấn và giải quyết hồ sơ du học. Việc bồi thường có thể bao gồm chi phí đã bỏ ra, thiệt hại về thời gian và cả những tổn hại về danh dự và uy tín của khách hàng do hành vi vi phạm của tổ chức.

2. Một số vướng mắc trong quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ tư vấn du học và kiến nghị hoàn thiện

Các quy định trong Nghị định số 46/2017/NĐ-CP và Nghị định số 86/2021/NĐ-CP ban hành đã góp phần tháo gỡ những hạn chế, vướng mắc cho các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học và bảo đảm quyền lợi của người có nhu cầu đi du học thông qua việc quy định cụ thể trách nhiệm mà các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học phải thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh đó, quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn du học vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc cần được hoàn thiện, cụ thể:

Thứ nhất, các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ tư vấn du học trong Nghị định số 46/2017/NĐ-CP về cơ bản được kế thừa từ Quyết định số 05/2013/QĐ-TTg theo hướng sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện đầu tư trong lĩnh vực giáo dục. Trong đó, Nghị định số 46/2017/NĐ-CP đã bỏ quy định về tiền ký quỹ trong Quyết định số 05/2013/QĐ-TTg, đây là một trong những rào cản lớn nhất của các doanh nghiệp muốn kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn du học. Bên cạnh đó, Nghị định số 46/2017/NĐ-CP cũng bỏ quy định về trình độ của người đứng đầu tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học phải có trình độ đại học trở lên. Tuy nhiên, điều kiện này vẫn còn được áp dụng đối với đội ngũ nhân viên tư vấn du học là không cần thiết vì có thể hạn chế cơ hội việc làm của nhiều cá nhân khi chỉ tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đặc biệt đối với những cá nhân rất giỏi về ngoại ngữ, am hiểu về nghiệp vụ du học, có kinh nghiệm học tập, sinh sống ở nước ngoài nhiều năm nhưng chỉ có bằng cao đẳng thì sẽ không có cơ hội hành nghề tư vấn du học. Vì vậy, pháp luật cần phải quy định cụ thể, rõ ràng, hợp lý hơn về tiêu chuẩn hành nghề tư vấn du học cho các nhân viên tư vấn theo hướng bám sát nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn trong việc học tập cũng như về chuyên môn của nhân viên.

Thứ hai, Điều 107 Nghị định số 46/2017/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ tư vấn du học, tuy nhiên, điều kiện được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học vẫn chưa rõ về số lượng cụ thể bao nhiêu nhân viên có đủ điều kiện về nghiệp vụ theo quy định hiện tại thì mới được cấp Giấy chứng nhận. Cụ thể, Điều 107 quy định “đội ngũ nhân viên trực tiếp tư vấn có bằng đại học trở lên” là rất chung chung, gây khó khăn cho các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học trong quá trình xin cấp Giấy chứng nhận, cũng như dẫn đến việc không thống nhất giữa các cơ quan quản lý cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoạt động du học ở các địa phương. Chẳng hạn, trong trường hợp số lượng là 02 nhân viên tư vấn nhưng trong đó, có 01 người là người đứng đầu công ty thì có được chấp nhận hay không khi hiện tại đã bỏ quy định về người đứng đầu công ty du học phải có nghiệp vụ tư vấn du học? Vì vậy, Nghị định số 46/2017/NĐ-CP cần sớm sửa đổi quy định cụ thể về số lượng đội ngũ nhân viên để bảo đảm sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Giáo dục và Đào tạo) trong việc cấp phép cho các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học.

Thứ ba, Nghị định số 86/2021/NĐ-CP quy định cụ thể về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học, trong đó, có quy định rõ: “Không ủy quyền hoặc nhận ủy quyền của tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học khác để triển khai kinh doanh dịch vụ tư vấn du học cho người có nhu cầu đi du học ở nước ngoài”. Với quy định này, có thể giúp cho người có nhu cầu đi du học có thể bảo đảm được quyền lợi của mình, được ký hợp đồng trực tiếp mà không qua trung gian, tránh được những rủi ro trong việc tổ chức trung gian tư vấn không chính xác, phát sinh thêm về chi phí… Đây là quy định mang tính bắt buộc tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học phải thực hiện, thể hiện sự ghi nhận của Chính phủ trong việc chấn chỉnh tình trạng gian dối, “đem con bỏ chợ” của các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học trong thời gian qua. Nghĩa vụ này dường như mâu thuẫn với quy định về quyền của các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học quy định tại Điều 15 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP, theo đó, các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học được quyền ký kết hợp đồng đại diện tuyển sinh với các cơ sở giáo dục nước ngoài. Thực chất, hợp đồng đại diện tuyển sinh này là đại diện theo ủy quyền của cơ sở giáo dục nước ngoài và tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học ở Việt Nam; các bên sẽ giới hạn quyền và nghĩa vụ của mình thông qua hợp đồng đại diện. Như vậy, có thể hiểu, tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn dụ học được cấp phép hoạt động ở Việt Nam có thể nhận ủy quyền của cơ sở giáo dục nước ngoài để tuyển sinh, nhưng chính tổ chức này lại không được ủy quyền lại hoặc nhận ủy quyền của công ty khác trong bất kỳ trường hợp nào. Có thể thấy, đây là quy định khá “cứng nhắc”, nên để các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học được phép “xử lý” trong các tình huống “gặp khó khăn”, bởi nếu vì lý do gì đó họ không thực hiện được chỉ tiêu tuyển sinh đã cam kết với cơ sở giáo dục nước ngoài thì họ có thể thông qua hợp đồng đại diện, hợp đồng ủy quyền để liên kết tuyển sinh. Vì vậy, có thể nghiên cứu bổ sung các quy định, điều khoản về hợp đồng ủy quyền thay vì cấm như hiện nay; như vậy sẽ vừa giúp các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học có thể liên kết, phát huy được thế mạnh của nhau, góp phần lành mạnh hóa thị trường kinh doanh dịch vụ tư vấn du học trong nước, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người có nhu cầu du học một cách hiệu quả.

Nghị định số 46/2017/NĐ-CP và Nghị định số 86/2021/NĐ-CP được ban hành là dấu mốc lớn, tạo hành lang pháp lý thống nhất để quản lý hoạt động của các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học. Xây dựng quy định pháp luật chặt chẽ và tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tư vấn du học là vấn đề cần thiết và có tính cấp bách trong thời điểm hiện nay. Qua việc phân tích những điểm bất cập cho thấy, các quy định đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học cần phải được hoàn thiện hơn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đăng ký hoạt động, cạnh tranh lành mạnh, từ đó thúc đẩy các tổ chức kinh doanh dịch vụ tư vấn du học phát triển, thực sự là nơi đáng tin cậy, có uy tín, góp phần phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao được đào tạo ở nước ngoài trong tương lai./.

ThS. Trịnh Thị Bích Xuyên

Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Công văn số 2790/SGD&ĐT-GDCYTNN ngày 19/7/2016 của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hà Nội về việc quản lý hoạt động dịch vụ tư vấn du học trên địa bàn Thành phố.

[2]. Công văn số 3125/BGDĐT-ĐTVNN ngày 28/6/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc quản lý hoạt động dịch vụ tư vấn du học.

[3]. Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21/4/2017 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.

[4]. Nghị định số 135/2018/NĐ-CP ngày 04/10/2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21/4/2017 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.

[5]. Quyết định số 05/2013/QĐ-TTg ngày 15/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập.

[6]. Nghị định số 86/2021 NĐ-CP ngày 25/9/2021 của Chính phủ quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng day, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 410), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: