Thứ năm 21/05/2026 23:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đổi mới mô hình quản lý luật sư trong tình hình mới

Tóm tắt: Bài viết về những kết quả đạt được trong tổ chức và hoạt động của luật sư thời gian qua, đồng thời chỉ ra những hạn chế và đề xuất các giải pháp để đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với luật sư.

Tóm tắt: Bài viết về những kết quả đạt được trong tổ chức và hoạt động của luật sư thời gian qua, đồng thời chỉ ra những hạn chế và đề xuất các giải pháp để đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với luật sư.

Abstract: The paper is concerned with gained results in the organization and operation of lawyers in the last time, at the same time, points out shortcomings and proposes solutions for innovation and improvement of state management effect of lawyers.

Trước đây, nghề luật sư chưa được coi trọng, chưa có điều kiện phát triển. Bước vào thời kỳ đổi mới, năm 1987 Pháp lệnh Tổ chức luật sư đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển nghề luật sư, cũng như việc quản lý nhà nước về luật sư. Tiếp đó, Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã đánh dấu một thời kỳ mới, thúc đẩy nghề luật sư phát triển theo hướng chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu như năm 1987, cả nước chỉ có 186 luật sư thì sau 14 năm đến năm 2001, con số này đã tăng lên đến 2.100 luật sư; đến năm 2009 là 5.300 luật sư và đến hết năm 2018 là 12.821 luật sư. Phạm vi hoạt động nghề nghiệp của luật sư không chỉ ở lĩnh vực tố tụng tư pháp mà còn từng bước mở rộng sang các lĩnh vực dịch vụ pháp lý đáp ứng nhu cầu của xã hội, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác, đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại, dân sự... trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

1. Tổ chức và hoạt động của luật sư đã đạt được nhiều kết quả quan trọng

Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và quy định của Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), tổ chức và hoạt động của luật sư đã có nhiều tiến bộ quan trọng, thể hiện trên các mặt sau đây: (i) Thẩm quyền tư pháp của luật sư được mở rộng, góp phần bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; vai trò của luật sư ngày càng được khẳng định trong đời sống chính trị, pháp lý của đất nước. (ii) Các tổ chức hành nghề, tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư đã được thành lập ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương[1]. Ở trung ương, Liên đoàn Luật sư Việt Nam được thành lập, đi vào hoạt động có hiệu quả bước đầu. Về cơ bản, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bước đầu phát huy vai trò tự quản, thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành, Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đã quan tâm đến công tác bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ luật sư; kịp thời tập hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp, kiến nghị của luật sư; quan tâm đến công tác bồi dưỡng, đào tạo về nghiệp vụ luật sư. (iii) Đội ngũ luật sư được đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nhanh về số lượng; trình độ năng lực, kỹ năng hành nghề được nâng lên[2]. (iv) Cơ chế trách nhiệm của luật sư và việc phát huy vai trò tự quản của các Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư từng bước được hoàn thiện. (v) Vai trò của luật sư từng bước được khẳng định. Các vụ việc được luật sư tư vấn, tham gia bào chữa và trợ giúp pháp lý ngày càng tăng[3]. Nhiều luật sư đã tích cực tranh tụng, tạo không khí dân chủ tại phiên tòa. (vi) Công tác quản lý nhà nước về luật sư được quan tâm thực hiện và có một số tiến bộ, thẩm quyền của luật sư được mở rộng, các cơ quan tư pháp cũng đã cộng tác tốt để luật sư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo quyền được bào chữa của bị can, bị cáo. Vai trò của luật sư từng bước được khẳng định trong đời sống chính trị, pháp lý của đất nước.

Tổng kết 08 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Bộ Chính trị đã có đánh giá chung: Việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp có nhiều tiến bộ; đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của pháp luật về hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp, thi hành án, luật sư, công chứng, giám định tư pháp theo đúng chủ trương, định hướng lớn nêu trong Chiến lược cải cách tư pháp[4].

2. Một số hạn chế, bất cập trên thực tiễn

Có thể thấy, tổ chức và hoạt động luật sư đã được đổi mới theo định hướng của Đảng, phục vụ có hiệu quả công tác điều tra, truy tố xét xử và đáp ứng được bước đầu yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, tổ chức và hoạt động của luật sư ở nước ta đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, cụ thể:

2.1. Quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư còn hạn chế, vướng mắc nhất định, cả về thể chế và tổ chức thực thi, như:

- Tiêu chuẩn, chất lượng đầu vào của đội ngũ luật sư còn quy định chung, thiếu cụ thể, nhất là tiêu chuẩn liên quan đến ý thức tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và tiêu chuẩn có phẩm chất đạo đức tốt, dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất, làm giảm sút chất lượng đội ngũ luật sư. Trên thực tế, có một số trường hợp đã từng có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm nhiều lần, thậm chí bị tước quân hàm, quân hiệu, cách chức chức danh thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên do vi phạm nghiêm trọng quy định của ngành, vi phạm có tính chất hệ thống quy định của pháp luật nhưng vẫn có thể trở thành luật sư.

- Việc xây dựng, củng cố, kiện toàn về tổ chức và hoạt động của Đoàn luật sư và hành nghề của đội ngũ luật sư ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức.

- Một số tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam còn chưa tuân thủ nghiêm các quy định của Luật Luật sư, tuy nhiên, căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành lại thiếu các biện pháp xử lý đối với các vấn đề phát sinh trên thực tế hoặc biện pháp xử lý chưa đủ mạnh để răn đe các tổ chức hành nghề luật sư thực hiện nghiêm quy định của Luật Luật sư.

- Số lượng luật sư thực sự có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - xã hội, nhất là yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế lại không nhiều. Chất lượng hành nghề luật sư chưa đồng đều; một bộ phận luật sư còn yếu kém về trình độ, kỹ năng hành nghề, vi phạm đạo đức nghề nghiệp; thậm chí có người còn biểu hiện lệch lạc tư tưởng, nhận thức. Số luật sư có uy tín, thông thạo ngoại ngữ, có khả năng tham gia tư vấn trong lĩnh vực tư vấn pháp luật còn ít, chưa đáp ứng nhu cầu.

Trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, số lượng luật sư chuyên sâu trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước, nhất là trong đó lĩnh vực thương mại quốc tế. Phần lớn các vụ tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, các cơ quan, tổ chức Việt Nam vẫn phải thuê luật sư nước ngoài hỗ trợ pháp lý. Trong khi đó, các tổ chức hành nghề luật sư của nước ngoài đang chiếm thị phần lớn trong cung cấp dịch vụ pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

- Có lúc, có nơi, tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư chưa thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm tuân thủ yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước, chưa chủ động phối hợp giải quyết những vấn đề của tổ chức, thiếu giám sát chặt chẽ hoạt động của các thành viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

- Tại một số địa phương, công tác quản lý nhà nước về luật sư còn chưa bao quát, thậm chí còn bị “buông lỏng” chưa nắm bắt và xử lý kịp thời những phát sinh trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, một số Đoàn luật sư có xu hướng đề cao quá mức vai trò tự quản, chưa xây dựng được mối quan hệ phối hợp giữa Đoàn luật sư và Sở Tư pháp dẫn đến việc quản lý luật sư ở địa phương đó chưa đạt kết quả như mong muốn.

2.2. Vai trò tự quản của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn luật sư trong quản lý luật sư còn mờ nhạt… Hiện tượng luật sư vi phạm pháp luật, Điều lệ Liên đoàn Luật sư, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư có chiều hướng gia tăng làm giảm sút hình ảnh, uy tín của nghề luật sư trong xã hội nhưng tổ chức luật sư có liên quan chậm xử lý hoặc xử lý chưa nghiêm.

Được thành lập và hoạt động từ năm 2009, tổ chức và hoạt động của Liên đoàn Luật sư Việt Nam vẫn gặp một số khó khăn, hạn chế: Lãnh đạo Liên đoàn vẫn đang hành nghề luật sư nên chưa dành thời gian thích đáng cho hoạt động của Liên đoàn; bộ máy của Liên đoàn hoạt động chưa hiệu quả; cơ sở vật chất và trụ sở làm việc còn khó khăn; trình độ, năng lực của luật sư chưa đồng đều.

Có thể kể đến những nguyên nhân dẫn tới những hạn chế, bất cập nêu trên như: Hành lang pháp lý chưa được hoàn thiện; chưa có cơ chế quản lý phù hợp với tính đặc thù nghề nghiệp luật sư; sự kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư chưa hiệu quả; vẫn còn tình trạng cơ quan tố tụng, cán bộ tư pháp cản trở quyền hành nghề hợp pháp của luật sư; sự gắn kết, phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam còn lỏng lẻo, chưa hiệu quả.

3. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với luật sư đáp ứng yêu cầu của đất nước trong tình hình mới

Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên thực tiễn, với mục tiêu tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với luật sư, theo tác giả, trong thời gian tới các cơ quan chức năng cần kiên trì với định hướng:

- Các giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, tạo điều kiện cho nghề luật sư phát triển đúng đắn phải được đặt trong khuôn khổ Chiến lược cải cách tư pháp, chiến lược cải cách hành chính; đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế. Việc đổi mới mô hình quản lý phải dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn, có tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm các nước trên thế giới phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và dựa trên các giá trị cốt lõi là phẩm giá của luật sư và vị thế của nghề luật sư, đó là phụng sự xã hội, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật.

- Trong quản lý luật sư, phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; bảo đảm nguyên tắc kết hợp hợp lý giữa quản lý nhà nước với thực hiện chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

- Tiếp tục đổi mới mô hình quản lý đối với tổ chức và hoạt động của luật sư cần hướng tới mục tiêu phát triển đội ngũ luật sư cả về số lượng và bảo đảm chất lượng; coi chất lượng là ưu tiên hàng đầu, đáp ứng nhu cầu của xã hội trong thời kỳ phát triển mới của đất nước - thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng.

Để thực hiện tốt các định hướng trên, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Tiếp tục đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư. Với đặc thù trong tổ chức và hoạt động của luật sư (phức tạp, nhạy cảm...), cần phải có phương pháp và nội dung lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng mang tính đặc thù, phù hợp với tính chất, đặc điểm riêng trong tổ chức và hoạt động của luật sư. Theo đó, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với luật sư cần tập trung vào các vấn đề: (i) Tiếp tục quan tâm hoàn thiện kịp thời, đầy đủ các quan điểm, chủ trương, đường lối chiến lược về quản lý luật sư và hành nghề luật sư phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, từng thời kỳ. (ii) Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo việc thể chế hóa, xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ thể chế pháp luật về công tác luật sư đáp ứng yêu cầu vừa tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động hành nghề của luật sư, vừa có công cụ để quản lý có hiệu lực, hiệu quả đối với luật sư. (iii) Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, tập trung hơn. Theo đó, cần nghiên cứu tổ chức lại tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo công tác luật sư thành một đầu mối, không nên vừa có Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp, vừa có Đảng đoàn Liên đoàn Luật sư Việt Nam cùng lãnh đạo, chỉ đạo công tác luật sư như hiện nay. Có thể tập trung thẩm quyền này vào Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp, không cần thiết phải có Đảng đoàn Liên đoàn Luật sư. Tương tự như vậy, ở địa phương, nên giao Ban cán sự Đảng các Sở Tư pháp.

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tổ chức và hoạt động của luật sư. Theo đó, Chính phủ cần chỉ đạo nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến luật sư và hành nghề luật sư theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Chiến lược cải cách tư pháp. Đồng thời, cũng cần quan tâm xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển luật sư, nghề luật sư trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng Nhà nước pháp quyền và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong đó, sự hỗ trợ về bố trí trụ sở làm việc và giải quyết kinh phí hoạt động cho Liên đoàn Luật sư và các Đoàn luật sư.

Bộ Tư pháp tăng cường quản lý nhà nước về luật sư và nghề luật sư, tạo điều kiện để đội ngũ luật sư tham gia trợ giúp pháp lý, thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Luật Luật sư; phối hợp chặt chẽ với Liên đoàn Luật sư Việt Nam nâng cao hiệu quả công tác tự quản luật sư và hoạt động hành nghề luật sư.

- Xác định đúng đắn mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư. Bởi vì, tự quản xã hội là một vấn đề lớn, là xu hướng của thời đại. Tuy nhiên, vấn đề là cần bảo đảm cân bằng hợp lý giữa quản lý nhà nước về công tác luật sư với chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư phù hợp với điều kiện phát triển cụ thể của Việt Nam trong từng thời kỳ. Theo đó, mức độ tự quản đến đâu phụ thuộc vào năng lực tự quản của tổ chức và bối cảnh, điều kiện cụ thể của quản trị quốc gia. Trong giai đoạn như hiện nay ở nước ta, khi mà tổ chức nghề nghiệp của luật sư đang trong quá trình hình thành và mới bước đầu hoàn thiện, nhất là nhiều vấn đề khác có liên quan cũng đang trong quá trình hình thành, chưa đồng bộ như hệ thống pháp luật, cơ chế kiểm soát quyền lực, thì việc thực hiện chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư không thể theo các chuẩn mực phổ biến tại các nước phát triển. Nói cách khác, trong quản lý tổ chức và hoạt động của luật sư ở nước ta, vai trò của Nhà nước, của quản lý nhà nước vẫn phải là chủ yếu, phải được coi trọng hơn so với thực hiện chế độ tự quản, nhiều việc quan trọng vẫn phải do Nhà nước thực hiện, trong đó có quản lý đào tạo nghề luật sư, quản lý nhà nước về tập sự hành nghề luật sư... Việc thực hiện chế độ tự quản của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cần thực hiện từng bước phù hợp. Ở từng địa phương, vùng miền cũng nên tùy tình hình, điều kiện cụ thể mà thực hiện chế độ tự quản này cho phù hợp.

Mặt khác, việc kết hợp giữa cơ chế quản lý nhà nước và chế độ tự quản đối với tổ chức và hoạt động của luật sư trước hết phải cần phân định rõ giới hạn tránh nhiệm, nội dung của quản lý nhà nước và quyền tự quản, tự quyết định của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm quản lý của các Đoàn luật sư, Liên đoàn Luật sư đối với thành viên của mình; tránh tình trạng lạm quyền hoặc bỏ sót, bỏ trống nhiệm vụ, đùn đẩy trách nhiệm. Đồng thời, phải bảo đảm mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tuyệt đối không được tách rời, thậm chí đối lập nhau. Chính vì vậy, việc xác lập một cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền trong quản lý nhà nước, cơ quan tố tụng và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư có quyền tự quản trong quản lý đối với hoạt động của luật sư là rất cần thiết, để cụ thể hóa trách nhiệm, hình thức, công cụ thực hiện sự phối hợp công tác.

- Phát triển mạnh mẽ đội ngũ luật sư đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, giữ vững bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, mở rộng dân chủ, tăng tính pháp quyền và hội nhập. Phát triển đa dạng các hình thức hành nghề luật sư, xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm quản lý của các Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư đối với thành viên của mình. Để thực hiện được điều này, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện nội dung, phương pháp đào tạo luật sư bảo đảm nguồn cung cấp luật sư có chất lượng cao, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức trong sáng, có bản lĩnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp luật, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế thị trường, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nguyễn Phước Thọ

Văn phòng Chính phủ





[1]. Tính đến tháng 7/2013 cả nước đã thành lập 63 Đoàn Luật sư tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bảo đảm 100% địa phương đều có đoàn luật sư.

[2]. Tính đến tháng 7/2013, tổng số luật sư khoảng 8.500 người và khoảng 3.500 luật sư tập sự hành nghề đang hoạt động tại 3.165 tổ chức hành nghề luật sư.

[3]. Từ năm 2009 đến nay, luật sư đã tham gia tố tụng 99.751 vụ án các loại, trong đó có 51.109 vụ án hình sự; thực hiện tư vấn, trợ giúp 124.608 vụ.

[4]. Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: