Thứ năm 30/04/2026 10:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dự án Luật Ban hành quyết định hành chính - Mục tiêu và những định hướng cơ bản

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trên phạm vi cả nước, số lượng các QĐHC do các cơ quan nhà nước ban hành là rất lớn1. Những con số đó, tuy chưa phản ánh được cụ thể tình hình ban hành QĐHC ở các cơ quan, bộ, ngành, nhưng ở góc độ định tính, đã cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của nó cả trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội lẫn trong hoạt động điều hành và quản lý nhà nước.

Ban hành quyết định hành chính (QĐHC) là một trong những phương thức hoạt động quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước. Khác với văn bản quy phạm pháp luật, QĐHC là văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh quyền lực công ban hành, mà tính chất của nó là sự cho phép, chấp thuận, cấm đoán... đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Nếu như ở góc độ vĩ mô, văn bản quy phạm pháp luật là loại văn bản có tính phổ biến, áp dụng chung trên diện rộng ở phạm vi toàn quốc, thì ở góc độ vi mô, QĐHC là loại văn bản xác lập trực tiếp quyền, lợi ích hợp pháp, trách nhiệm pháp lý cụ thể của từng cá nhân (hoặc từng nhóm cá nhân), tổ chức. Mặc dù phạm vi áp dụng của một QĐHC không rộng như phạm vi một văn bản quy phạm pháp luật, nhưng không thể xem nhẹ vai trò và tầm quan trọng của nó, bởi một mặt, với tính chất là một văn bản áp dụng pháp luật, QĐHC là thước đo trên thực tiễn tính khả thi của một văn bản quy phạm pháp luật; mặt khác, với tính chất là một văn bản cụ thể xác lập quyền, lợi ích, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể, nó tác động trực tiếp đến đời sống của người dân, đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Một QĐHC, nếu được ban hành đúng thẩm quyền, theo một trình tự rõ ràng, minh bạch và nội dung của nó phù hợp với sự thật khách quan sẽ là minh chứng sống động cho sự hợp lý, tính hợp pháp, tính khả thi trong chính sách của Nhà nước và vì vậy sẽ được thực hiện một cách đồng thuận. Ngược lại, một QĐHC “bị” ban hành sai thẩm quyền, với một trình tự không được kiểm soát về tính minh bạch và nội dung của nó không phản ánh sự thật khách quan, không tính đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, sẽ là một rào cản trong quá trình đưa chính sách của Nhà nước vào thực tiễn, gây bức xúc cho cá nhân, doanh nghiệp, làm giảm lòng tin của công chúng vào hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước.

1. Mục tiêu của Luật Ban hành quyết định hành chính

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trên phạm vi cả nước, số lượng các QĐHC do các cơ quan nhà nước ban hành là rất lớn1. Những con số đó, tuy chưa phản ánh được cụ thể tình hình ban hành QĐHC ở các cơ quan, bộ, ngành, nhưng ở góc độ định tính, đã cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của nó cả trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội lẫn trong hoạt động điều hành và quản lý nhà nước.

Chính trên cơ sở đánh giá vai trò và tầm quan trọng của việc ban hành QĐHC, Quốc hội đã giao Chính phủ chủ trì xây dựng Dự án Luật Ban hành quyết định hành chính2. Để triển khai xây dựng Dự án Luật này, Bộ Tư pháp đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát, tổng hợp tình hình ban hành QĐHC trên cơ sở báo cáo tổng kết của 30 Bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương3; kết quả khảo sát trực tiếp về tình hình ban hành QĐHC đối với cán bộ, công chức, người dân, doanh nghiệp và thẩm phán tại 05 tỉnh (Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang); kết quả của các cuộc hội thảo, tọa đàm về kinh nghiệm ban hành QĐHC của các nước Hung ga ri, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, các tọa đàm về thực tiễn ban hành QĐHC tại một số địa phương.

Kết quả nghiên cứu và tổng hợp tình hình nói trên cho thấy, trong thực tiễn ban hành QĐHC của nước ta hiện nay còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, nên cần thiết xây dựng một đạo luật điều chỉnh lĩnh vực này nhằm đáp ứng những yêu cầu sau đây:

1.1. Xây dựng Luật Ban hành quyết định hành chính nhằm tạo nên một cơ chế “kiểm soát quyền lực” đối với các cơ quan nhà nước theo tinh thần Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định về cơ chế “kiểm soát quyền lực” giữa các cơ quan nhà nước4, trong đó có các cơ quan hành chính - chủ thể ban hành QĐHC, từ đó đặt ra yêu cầu phải ban hành các đạo luật để xây dựng cơ chế kiểm soát một cách phù hợp quyền lực đó trong thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ chú trọng đến quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mà chưa coi trọng đúng mức việc ban hành văn bản hành chính. Các nguyên tắc cơ bản cho hoạt động của nền hành chính, các nguyên tắc về bảo đảm công khai, minh bạch, tuân thủ quy trình ban hành QĐHC, các quy trình tối thiểu trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, cá nhân được trao thẩm quyền ban hành QĐHC chưa được điều chỉnh đầy đủ, thống nhất bởi một văn bản có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc. Bởi vậy, chưa có cơ chế thực tế để Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp - cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương, địa phương và nhân dân có thể giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, cũng như của các chủ thể khác khi ban hành QĐHC, trong khi những văn bản này lại tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của công dân, tổ chức.

Xuất phát từ tầm quan trọng của bản thân các QĐHC và của quy trình ban hành các quyết định này, cần thiết phải xây dựng một đạo luật, trong đó tạo nên cơ chế kiểm soát quy trình ban hành các QĐHC như một bổ sung cần thiết cho cơ chế kiểm soát quyền lực giữa cơ quan lập pháp đối với cơ quan hành pháp, nhằm bảo đảm tính hợp pháp, tính hợp lý, tính khả thi của QĐHC, qua đó bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính nói riêng và hoạt động quản lý nhà nước nói chung.

1.2. Xây dựng Luật Ban hành quyết định hành chính nhằm thực hiện mục tiêu bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Pháp luật hiện hành chưa đủ cơ sở pháp lý chặt chẽ để ràng buộc trách nhiệm tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong quá trình ban hành QĐHC, cũng như chưa có đủ các cơ sở pháp lý để thẩm phán hành chính có thể dựa vào khi đưa ra phán quyết một QĐHC được coi là hợp pháp hay bị coi là không hợp pháp. Với tư cách là một quy trình, pháp luật hiện nay cũng chưa có cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp khi họ là những đối tượng chịu tác động của QĐHC.

Hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước chỉ có thể bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, cũng như chỉ có thể bảo đảm được quyền, lợi ích của tổ chức, công dân khi trong quá trình ban hành QĐHC của mình, các cơ quan hành chính nhà nước tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc và quy trình được quy định một cách rõ ràng, minh bạch. Chỉ trong điều kiện đó, tổ chức, công dân mới có thể giám sát việc thực hiện quy trình, nguyên tắc ban hành QĐHC. Dưới góc độ này, việc ban hành QĐHC đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục có ý nghĩa như một yếu tố quan trọng bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động của nền hành chính và bảo đảm dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.

Để thực hiện được mục tiêu này, cần có quy định về ban hành QĐHC nhằm bảo đảm quy trình này được thực thi trên cơ sở những căn cứ pháp luật rõ ràng với trình tự, thủ tục được quy định chặt chẽ, từ đó đạt được mục tiêu bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.

1.3. Xây dựng Luật Ban hành quyết định hành chính nhằm hoàn thiện pháp luật, khắc phục các vướng mắc, bất cập trong ban hành và thi hành quyết định hành chính

Thực tế ban hành QĐHC hiện nay cho thấy, các chủ thể ban hành QĐHC còn nhiều lúng túng, vì từ góc độ chủ quan của người trực tiếp thực hiện việc ban hành QĐHC còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về thẩm quyền ban hành quyết định, dẫn đến tình trạng mỗi nơi áp dụng một kiểu, không thống nhất; từ góc độ khách quan, các tiêu chí cụ thể để xác định một QĐHC khi nào thì được coi là hợp pháp, không hợp pháp, khi nào bị coi là vô hiệu, các tình huống theo đó khi nào một quyết định được ủy quyền ban hành, khi nào phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu QĐHC trái pháp luật... cũng chưa được quy định đầy đủ. Tuy trong một số lĩnh vực thuộc pháp luật chuyên ngành5 đã có các quy phạm điều chỉnh về QĐHC ban hành trong lĩnh vực đó nhưng các quy định đó cũng chưa đầy đủ, đồng bộ, thậm chí còn mâu thuẫn, chưa nhất quán, dẫn đến tình trạng quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức chưa thực sự được bảo vệ hữu hiệu.

Sự thiếu vắng các tiêu chí nói trên khiến các cơ quan nhà nước, kể cả các thẩm phán hành chính không có cơ sở để đình chỉ, thu hồi, huỷ bỏ QĐHC, có trường hợp phải “vay mượn” quy định của lĩnh vực này để áp dụng cho QĐHC ở lĩnh vực khác6. Về phía người dân và doanh nghiệp, cũng vì thiếu các tiêu chí đó, họ không có cơ sở pháp lý rõ ràng để khiếu nại, khiếu kiện, dẫn đến tình trạng họ gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình.

Những nội dung sau đây cũng chưa được điều chỉnh cụ thể trong quy trình ban hành văn bản hành chính: Tiêu chí về đảm bảo tính hợp pháp, tính công khai, minh bạch, công bằng của QĐHC; các quy định về trình tự, thủ tục ban hành QĐHC, để trên cơ sở đó xác định và ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có thẩm quyền ban hành QĐHC. Ở góc độ này, tuy một số văn bản pháp luật chuyên ngành đã có những quy định nhất định về trình tự, thủ tục ban hành QĐHC phù hợp với đặc thù quản lý ngành, lĩnh vực, nhưng những quy định này chỉ áp dụng riêng lẻ cho các QĐHC trong từng lĩnh vực cụ thể, mà không áp dụng chung cho các QĐHC. Bên cạnh đó, ngay cả khi đã được điều chỉnh, nhưng trình tự, thủ tục ban hành QĐHC vẫn còn rườm rà, khi thì quá phức tạp, gây tốn kém cho người dân cả về thời gian lẫn tiền bạc, lúc lại quá đơn giản đến mức không đủ thời gian cho các cơ quan chuyên môn xem xét tính hợp pháp của hồ sơ, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Có những QĐHC, đặc biệt là QĐHC có phạm vi tác động rộng, ảnh hưởng đến nhiều người như: Quyết định cho phép xây dựng các nhà máy lớn, cảng biển, sân ga, bến cảng... lại được ban hành theo một trình tự, thủ tục quá đơn giản, bất hợp lý, thiếu chặt chẽ, nên không bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan. Thực tế đó dẫn đến tình trạng, một số QĐHC ngay khi vừa ban hành đã gặp phải những phản ứng gay gắt của dư luận xã hội, khiến cơ quan ban hành phải thu hồi ngay, làm giảm lòng tin của người dân vào các cấp chính quyền.

Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa quy định rõ quy trình công khai, công bố QĐHC, nên người dân, doanh nghiệp khó tiếp cận các thông tin liên quan ngay cả sau khi QĐHC được ban hành, vì vậy, không bảo vệ được kịp thời các quyền và lợi ích của mình.

Những vấn đề của thực tiễn nói trên dẫn đến yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh thống nhất quy trình ban hành và thực thi QĐHC, nhằm bảo vệ hữu hiệu quyền, lợi ích của công dân, doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

1.4. Xây dựng Luật Ban hành quyết định hành chính nhằm nâng cao chất lượng của quyết định hành chính

Việc bảo đảm chất lượng của các QĐHC là vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước, vì mỗi quyết định được ban hành không chỉ phản ánh hiệu quả điều hành, quản lý xã hội của các cơ quan nhà nước, mà đằng sau nó là quyền và lợi ích của công dân, doanh nghiệp, là việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do kinh doanh, thậm chí là việc bảo đảm tính dân chủ trong hoạt động quản lý nhà nước. Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước cho thấy, nếu xây dựng được một quy trình chuẩn cho việc ban hành QĐHC với những tiêu chí được xác định rõ ràng, cùng với việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức - những người trực tiếp thực thi và áp dụng quy trình đó thì chất lượng của một QĐHC chắc chắn sẽ được nâng cao.

Do đó, cần thiết phải có một đạo luật chứa đựng các nguyên tắc cơ bản về ban hành QĐHC làm cơ sở để bảo đảm việc ban hành QĐHC hợp pháp, hợp lý, khả thi, bảo đảm nâng cao chất lượng QĐHC nói riêng và hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói chung.

2. Những định hướng chính sách cơ bản xây dựng Dự án Luật Ban hành quyết định hành chính

Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn như đã được nhận dạng và phân tích trong Mục 1 nêu trên, chúng tôi cho rằng, Dự án Luật Ban hành quyết định hành chính cần được nghiên cứu, xây dựng dựa trên những định hướng chính sách cơ bản sau đây:

2.1. Luật Ban hành quyết định hành chính cần quy định những nguyên tắc cơ bản, tạo khuôn khổ pháp lý chung cho việc ban hành các loại quyết định hành chính

Để góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn ban hành và thực thi QĐHC, chúng tôi cho rằng, Dự án Luật cần chứa đựng các nguyên tắc cơ bản, tạo khuôn khổ pháp lý chung cho việc ban hành tất cả các loại QĐHC. Theo đó, nội dung cơ bản của Luật cần quy định thống nhất, cụ thể về các vấn đề sau đây: Khái niệm, thẩm quyền ban hành, hình thức của QĐHC; các vấn đề liên quan đến ủy quyền ban hành QĐHC; các nguyên tắc về hiệu lực thi hành, thời điểm có hiệu lực, các trường hợp vô hiệu... của QĐHC; các nguyên tắc về việc thu hồi, hủy bỏ, gia hạn, đình chỉ, tạm đình chỉ, sửa đổi, bổ sung QĐHC; trình tự, thủ tục ban hành QĐHC, đặc biệt là trình tự, thủ tục ban hành các QĐHC gây bất lợi cho đối tượng liên quan.

2.2. Luật Ban hành quyết định hành chính cần tạo cơ chế kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính nhằm đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý, tính khả thi của quyết định hành chính

Nguyên tắc đầu tiên cần bảo đảm trong quy trình ban hành các QĐHC là bảo đảm tính hợp pháp của nó. Tính hợp pháp của QĐHC được xem xét dưới góc độ hợp pháp về nội dung, hợp pháp về hình thức và hợp pháp về trình tự, thủ tục ban hành QĐHC.

Mặc dù, pháp luật hiện hành đã có những quy định để các cơ quan nhà nước thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc ban hành QĐHC thông qua cơ chế thanh tra, kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật đối với hoạt động quản lý nhà nước nói chung và cơ chế phản hồi các QĐHC từ phía đối tượng bị quản lý thông qua việc phản ánh, khiếu nại, khiếu kiện và trình tự, thủ tục giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện các QĐHC đó, nhưng về cơ bản, đây là các cơ chế “kiểm soát sau”, chỉ được thực hiện sau khi các QĐHC đã được ban hành và trên thực tế, chúng đã “kịp” tác động vào đời sống kinh tế - xã hội, thậm chí đã gây ra hậu quả tiêu cực, do đó, hiệu quả quản lý nhà nước rất hạn chế. Một cơ chế “kiểm soát trước” có tính phòng ngừa ngay từ giai đoạn ban hành, nghĩa là kiểm soát tính hợp pháp của các QĐHC cả về mặt nội dung, hình thức và trình tự thủ tục hiện đang là lỗ hổng trong các văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực này.

Bởi vậy, để QĐHC bảo đảm tính hợp pháp, đồng thời bảo đảm các quyền của tổ chức, cá nhân có liên quan, thì các chủ thể có thẩm quyền ban hành QĐHC phải tuân thủ các nguyên tắc và quy trình nhất định. Trong mục đích ngăn ngừa, hạn chế tới mức tối đa việc ban hành QĐHC trái pháp luật, các nội dung của Luật Ban hành quyết định hành chính phải đưa ra được các nguyên tắc ban hành QĐHC, các điều kiện hủy bỏ, bãi bỏ, thu hồi QĐHC, các điều kiện vô hiệu, có hiệu lực của QĐHC, từ đó tạo nên cơ chế kiểm soát chặt chẽ tính hợp pháp trong toàn bộ quy trình ban hành QĐHC.

Quy trình ban hành các QĐHC hiện nay thường do ý chí chủ quan của các cơ quan ban hành QĐHC và thiếu sự tham gia của tổ chức, cá nhân, thiếu cơ chế giải trình của các cơ quan ban hành QĐHC7 và chưa bảo đảm tính khách quan, minh bạch. Do đó, các quy định của Luật phải chứa đựng những tiêu chí nhằm bảo đảm tính công bằng, khách quan, bảo đảm sự tham gia của các đối tượng liên quan vào quá trình ban hành QĐHC, từ đó, làm tăng tính khả thi, tính hợp lý của mỗi QĐHC.

2.3. Luật Ban hành quyết định hành chính cần bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm sự công bằng, công khai, minh bạch trong quá trình ban hành quyết định hành chính

Sự minh bạch, rõ ràng của pháp luật, trong đó có pháp luật liên quan đến QĐHC là yếu tố cơ bản để bảo đảm sự công bằng của mỗi QĐHC. Việc ban hành Luật này cần hướng tới việc đảm bảo tính công khai, minh bạch, hiệu quả của quản lý hành chính cũng như bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước. Đây là định hướng cơ bản được thể hiện rõ trong các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Bảo đảm tính công bằng trong ban hành QĐHC là điều kiện tiên quyết trong việc bảo đảm chất lượng của một QĐHC, đây cũng là mục tiêu mà nền hành chính cần hướng tới trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ trong việc “bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội”8.

Các nguyên tắc nhằm bảo đảm tính công bằng, công khai, minh bạch và khả thi của QĐHC thể hiện ở các quy định về quy trình ban hành QĐHC như: Tạo cơ hội để người dân có thể tiếp cận các hồ sơ, tài liệu trong quá trình ban hành QĐHC, quy định quyền giải trình của bên có liên quan đối với các QĐHC; tổ chức cuộc họp, đối thoại, trách nhiệm lắng nghe, xác minh vụ việc; sự tham gia của các bên liên quan ngay trong quá trình ban hành QĐHC; trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan ban hành QĐHC; về trách nhiệm thông báo, công bố, công khai QĐHC sau khi được ban hành... Đây là những nội dung cơ bản cần được quy định trong Luật Ban hành quyết định hành chính.

2.4. Luật Ban hành quyết định hành chính cần bảo đảm sự gắn kết giữa việc ban hành quyết định hành chính với việc thực thi quyết định hành chính, sự gắn kết giữa việc ban hành Luật với việc thi hành Luật

Để bảo đảm sự gắn kết giữa việc ban hành QĐHC và thực thi QĐHC, cùng với các giải pháp nâng cao chất lượng QĐHC, cần phải chú trọng tổ chức thi hành tốt QĐHC. Thực tế hiện nay cho thấy, vì thiếu sự gắn kết giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật nên tính pháp chế trong thi hành pháp luật còn nhiều hạn chế. Trong hoạt động tổ chức thi hành QĐHC nói riêng và thi hành pháp luật nói chung cũng còn nhiều bất cập. Tình trạng QĐHC không được thực thi hoặc không có hiệu lực thi hành trong nhiều năm mà vẫn không được bãi bỏ, hủy bỏ, đã làm giảm đi hiệu lực của QĐHC9, làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước.

Do vậy, việc ban hành Luật không chỉ giới hạn trong phạm vi điều chỉnh các vấn đề liên quan đến ban hành QĐHC mà cần phải quy định cả về các nội dung liên quan đến thực thi QĐHC như đình chỉ, tạm đình chỉ, gia hạn, thu hồi, hủy bỏ, cưỡng chế thi hành QĐHC, các nguyên tắc chung về khiếu nại, khiếu kiện, bồi thường thiệt hại...

Đối với vấn đề cưỡng chế thi hành QĐHC, Luật cần quy định một số nguyên tắc chung thống nhất bởi trên thực tiễn hiện nay, do nhu cầu quản lý, một số địa phương đề nghị được ban hành quy định riêng của địa phương mình (chính quyền cấp tỉnh) để điều chỉnh trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành QĐHC. Tuy nhiên, do tầm quan trọng của vấn đề và ảnh hưởng của nó trên thực tế, trình tự, thủ tục này không thể giao cho từng địa phương quy định mà cần được quy định thống nhất trong Luật này để áp dụng trong toàn quốc.

Ngoài ra, để bảo đảm sự gắn kết giữa việc ban hành Luật và thi hành Luật, cùng với việc ban hành Luật Ban hành quy định hành chính phải có các biện pháp, giải pháp đồng bộ bảo đảm cho Luật sẽ thực sự đi vào cuộc sống. Trong số các biện pháp bảo đảm thi hành, Luật cần xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, trong đó trước tiên và chủ yếu là trách nhiệm của cơ quan ban hành QĐHC. Bên cạnh đó, Luật cũng đồng thời đề cao trách nhiệm của cơ quan tư pháp là cơ quan chuyên môn về pháp luật ở trung ương cũng như địa phương trong việc tham gia vào quá trình kiểm soát việc ban hành QĐHC.

2.5. Luật Ban hành quyết định hành chính cần thúc đẩy quá trình cải cách hành chính theo hướng xây dựng nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, có tính chuyên nghiệp cao, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính; góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Việc thực hiện đường lối đổi mới kinh tế và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Nền kinh tế đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Cùng với quá trình chuyển đổi kinh tế là quá trình chuyển từ nền hành chính quan liêu, bao cấp sang nền hành chính phục vụ, vì lợi ích nhân dân. Trong bối cảnh đó, pháp luật hành chính nói chung và trong lĩnh vực ban hành QĐHC nói riêng cần phải được nhanh chóng hoàn thiện, các nguyên tắc ban hành QĐHC của Luật phải là cơ sở pháp lý góp phần bảo đảm khuôn khổ rõ ràng cho hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính hiện nay. Các quy định của Luật cần góp phần đổi mới tư duy và tinh thần trách nhiệm của các cán bộ, công chức hành chính trong quá trình thực thi và bảo vệ pháp luật, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, mang tính phục vụ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhằm tạo môi trường pháp lý lành mạnh, hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế đất nước và hội nhập quốc tế, Luật này cũng phải là công cụ pháp lý hữu hiệu góp phần khắc phục tình trạng quan liêu của nền hành chính, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, cá nhân bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình.

Nguyễn Thị Kim Thoa & Dương Thị Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: