Thứ ba 25/08/2026 21:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đưa Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vào cuộc sống theo lời Bác Hồ

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, là quy luật phát triển của Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, uy tín của tổ chức Đảng, nâng cao chất lượng, uy tín của đảng viên.

Tự phê bình là vũ khí sắc bén, là thang thuốc “đặc trị” để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(1).

1. Tự phê bình và phê bình là “cốt giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Tự phê bình và phê bình là việc phải làm thường xuyên trong chế độ sinh hoạt của mỗi tổ chức cơ sở Đảng “như rửa mặt hàng ngày”, chứ không chờ “có việc” mới tiến hành tự phê bình và phê bình. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, ráo riết, triệt để, nhưng “phải có tình thương yêu đồng chí lẫn nhau”.

Tự phê bình theo quan điểm của Người là “nêu ưu điểm và vạch ra khuyết điểm của mình”, là thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa. Đó là cách mỗi người tự đánh giá để thấy được “cái hay”, “cái dở” của mình, vừa tạo điều kiện để những người xung quanh đóng góp ý kiến, giúp bản thân sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Còn phê bình là “nêu ưu điểm, vạch ra khuyết điểm của đồng chí mình” là tham gia góp ý kiến, vạch rõ ưu điểm, khuyết điểm và cách thức sửa chữa để, một mặt, cổ vũ đồng chí mình phát huy những ưu điểm, những cách làm hay, những việc làm tốt; mặt khác, tìm ra biện pháp khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, hạn chế, sai lầm để cùng nhau ngày càng tiến bộ. Với ý nghĩa đó, tự phê bình và phê bình là thực hiện dân chủ trong sinh hoạt Đảng, là “cuộc đấu tranh” trong bản thân mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng, để “cốt giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc tốt hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”(2).

Cũng theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình chỉ có ý nghĩa, phát huy được tác dụng khi được thực hiện nghiêm túc, với tinh thần “Khi phê bình mình cũng như phê bình người khác phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phê bình người”. Theo đó, người phê bình cũng như người tiếp thu ý kiến phê bình của người khác đều phải xuất phát từ động cơ trong sáng, đúng đắn: Đó là giúp đỡ lẫn nhau, vì sự tiến bộ của mỗi người và sự phát triển vững mạnh của tổ chức.

Trong một tổ chức, sự đoàn kết và thống nhất trong ý chí và hành động chỉ có được khi mỗi thành viên tự phê bình phải thành khẩn, thành tâm, không giấu giếm khuyết điểm của mình; phải tự giác nhận và vạch ra khuyết điểm của mình trước tập thể… Thái độ khi tiếp thu phê bình phải cầu thị, biết lắng nghe, thể hiện sự tiếp thu một cách thiện chí và quyết tâm sửa chữa. Trong mọi hoàn cảnh, người bị phê bình không chỉ cần lắng nghe, mà còn phải tránh bức xúc, mất bình tĩnh, phản ứng gay gắt dẫn đến to tiếng, có lời nói thiếu văn hóa, hoặc có thái độ khiêu khích người phê bình. Trong mọi hoàn cảnh, người tiếp thu phê bình cần tránh hiện tượng nhận khuyết điểm một cách qua loa, vì vậy, thiếu ý thức và không quyết tâm sửa chữa, nên vẫn tiếp tục mắc phải những khuyết điểm đó. Trong trường hợp có ý kiến góp ý với mình chưa đúng, chưa trúng, thì phải bình tĩnh, mềm dẻo và khiêm tốn để trình bày… Còn người phê bình thì phải khách quan, trung thực, công tâm và công khai, “không đặt điều”, “không thêm bớt”. Khi góp ý phải thẳng thắn, chân thành, có tình, có lý làm cho người được góp ý “tâm phục, khẩu phục”. Muốn vậy, người làm nhiệm vụ phê bình phải lựa chọn phương pháp thích hợp, tế nhị trong cả lời nói, giọng nói, cách nói. Khi phê bình, cần tránh động cơ vụ lợi, phê bình không đúng đắn, vì thành kiến cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, không thừa nhận thành tích của nhau, nên lợi dụng phê bình để đả kích, cường điệu khuyết điểm, nhằm hạ uy tín, “hạ bệ” lẫn nhau, gây mất đoàn kết nội bộ. Đặc biệt, không được lợi dụng tự phê bình và phê bình để mỉa mai, chua cay, “đâm thọc”, gây khó chịu, khó tiếp thu, gây ra tự ái hoặc hiểu nhầm cho người bị phê bình.

Điểm cần lưu ý, trong khi thực hiện tự phê bình và phê bình cần tránh hiện tượng vin vào lý do sợ mất thành tích của tập thể, của lãnh đạo mà che giấu khuyết điểm, hoặc bao che, chạy tội cho đồng chí mình. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì như vậy, chẳng khác nào “cũng như có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết cũng “la lết quả dưa”... nể nang không phê bình để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình” (3). Để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng mạnh, thì tự phê bình và phê bình tại mỗi tổ chức cơ sở Đảng phải tránh tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý” vì sợ ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân; đồng thời cũng tránh tâm lý sợ “phê bình cấp trên sẽ bị trù dập, phê bình đồng nghiệp sẽ bị mất lòng, phê bình cấp dưới sẽ bị mất phiếu” do đó phê bình chiếu lệ, một chiều, mang tính hình thức - thực chất là nói cho qua chuyện hoặc nói để lấy lòng nhau…

Nói về tự phê bình và phê bình, chúng ta không quên câu chuyện đồng chí Vũ Kỳ - Thư ký của Bác Hồ từng kể lại. Đây là một kỷ niệm sâu sắc, một bài học nhẹ nhàng, nhưng không thể quên trong cuộc đời ông: “Ngày 19/5/1948, giữa rừng Việt Bắc. Ngày sinh nhật mà để Bác ngồi ăn cơm một mình, ông (Vũ Kỳ) không đành lòng, nên đánh bạo thưa: Thưa Bác, hôm nay cho phép cháu được ăn cơm với Bác. Bác nheo cặp mắt hiền từ nhìn ông, rồi tủm tỉm cười: Chú tự mời thì chú cứ đến.

Trong bữa ăn hôm đó, ông tâm sự với Bác một số vấn đề về đoàn kết của bộ phận phục vụ. Ông thưa với Bác: Cháu làm việc với Bác đã khá lâu, nhưng chưa lần nào thấy Bác nặng lời với cháu. Thế mà chỉ có mấy anh em Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi với nhau mà thỉnh thoảng cháu lại cáu gắt với anh em.

Nghe ông nói, Bác ôn tồn: Chú làm việc với Bác lâu, thì Bác làm việc với chú cũng lâu chứ, thế mà Bác thấy có bao giờ chú cáu gắt với Bác đâu. Hai bác cháu ta có gì khó khăn thì bàn bạc với nhau, cùng giải quyết, việc gì mà phải nặng lời, việc gì mà phải cáu gắt. Đó chính là do Bác tôn trọng chú, chú tôn trọng Bác. Vì vậy, chú cứ tự nghĩ xem, trong quan hệ chú đã thật sự tôn trọng anh em chưa? Theo Bác, sở dĩ chú hay cáu gắt với anh em, cái chính là do chú chưa tôn trọng anh em đúng mức.

Cũng trong bữa cơm hôm ấy Bác căn dặn: “Tự phê bình và phê bình phải đúng lúc, đúng cách. Và điều quan trọng là phải biết tôn trọng lẫn nhau. Bánh ga-tô ngon nhưng ăn không đúng lúc cũng không ngon, ăn không đúng cách lại càng không ngon. Suy ngẫm kỹ, ông càng thấm thía về những lời dạy của Bác. Nhiều khi cho rằng nóng là cá tính của mỗi người, nhưng tại sao chỉ nóng với cấp dưới chứ không bao giờ “dám” nóng với cấp trên!” (4).

Tự phê bình và phê bình là cần thiết, quan trọng, phải làm thường xuyên, lâu dài, nhưng “đúng lúc, đúng cách” và “phải biết tôn trọng lẫn nhau” mới đúng với tinh thần của Hồ Chí Minh!

2. Giải pháp quan trọng vừa có tính cấp bách, vừa có tính thường xuyên để xây dựng và chỉnh đốn Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Người đời không phải thánh thần, ai cũng có tính tốt, tính xấu, nên khó tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta cũng vậy. Đảng cũng từ nhân dân mà ra, nên không thể tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm. Lịch sử hơn 80 năm xây dựng và phát triển của Đảng cho thấy, trong hành trình đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã từng “nếm mật, nằm gai”, vượt mọi gian khó để luôn xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Từ trong khói lửa của chiến tranh, từ trong khó khăn của cuộc sống đời thường, đã có biết bao tấm gương những người con ưu tú của Đảng và nhân dân - những bông hoa đẹp, ngời sáng tấm gương đạo đức cách mạng. Họ đã không chỉ làm rạng ngời hình ảnh người cán bộ, đảng viên cộng sản mẫu mực: Luôn thống nhất giữa lời nói và việc làm; luôn gương mẫu đi đầu “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, v.v... như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng yêu cầu và căn dặn.

Nhưng rồi, chiến tranh đã lùi xa, một đất nước Việt Nam đang ngày một đổi mới và phát triển trong thời kỳ hội nhập cũng đã có biết bao thay đổi. Đó là, cùng với sự thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội, hệ lụy của nền kinh tế thị trường cùng tác động của bối cảnh toàn cầu hóa đã khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên của Đảng, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo thoái hóa biến chất. Họ đã dần dần rời xa nhân dân, sống “cách biệt” với nhân dân, không biết tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, v.v... Không chỉ khiến nhân dân thất vọng, họ đã làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng. Họ, bằng cách này hay cách khác, biểu hiện này hay biểu hiện khác đã bị bả “vinh hoa, phú quý, quyền lực” của chủ nghĩa cá nhân quyến rũ, đã xa rời đạo đức cách mạng.

Trên tinh thần nhìn thẳng vào thực trạng, đánh giá đúng thực trạng “suy thoái” đó, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta trong sạch, khỏe mạnh, xứng đáng với vị trí tiền phong, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã ra đời.

Được quán triệt, được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn xã hội, Nghị quyết nêu rõ một trong những giải pháp để thực hiện, chính là mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, mỗi tổ chức cơ sở Đảng phải vừa cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục tiến hành tự phê bình và phê bình. Biện pháp này được thực hiện nghiêm túc theo đúng tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 12 - Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”: “Sự tự phê bình và phê bình, sự gương mẫu của cấp trên, của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trước hết là cấp Trung ương và người đứng đầu các ngành, các cấp, các đơn vị… Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy Đảng, cán bộ chủ chốt, nhất là ở cấp Trung ương, người đứng đầu làm trước và thật sự gương mẫu để cho các cấp noi theo”, nhất định sẽ góp phần gột rửa sạch những dấu tích xấu xa của chủ nghĩa cá nhân. Để mỗi cán bộ, đảng viên sẽ không chỉ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời tư giản dị, trong sáng, mà còn gương mẫu trong hành động, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ “tận tụy”, thật trung thành của nhân dân, được nhân dân tin yêu và kính trọng.

Xuất hiện đúng lúc khi tình thế “đã chín muồi”, Nghị quyết cũng chỉ rõ “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”. Chỉ rõ thực trạng suy thoái, Nghị quyết nhấn mạnh nguyên nhân là do: “Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ”. Và trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật”, đưa ra nhóm giải pháp thực hiện vừa “thiết thực vừa rõ ràng”, trong đó chú trọng: “Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên…”, có thể nói: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” cùng với việc đẩy mạnh Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị sẽ là phương thuốc đặc hiệu để chỉnh đốn lại Đảng, để Đảng ta “khỏe mạnh, chắc chắn” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mong ước.

Vì vậy, để: “Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”, thì tất yếu, vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài là phải tiến hành “tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên” trong toàn Đảng.

Trên tinh thần đó, hơn bao giờ hết, tự phê bình và phê bình càng phải được chú trọng và phải thực hiện nghiêm túc “từ trên xuống”, từ trong Đảng ra ngoài xã hội. Nói như nhà báo Hữu Thọ (5), thì không chỉ kịp thời ban hành một Nghị quyết chuyên đề, việc Đảng ta tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết này ở Mỹ Đình cho 1.000 người bao gồm “toàn bộ những cốt cán nhất của hệ thống chính trị” là một “đổi mới” quan trọng. Từ khi tham gia sinh hoạt Đảng đến giờ, ông chưa khi nào được thấy một hội nghị lớn như thế! Vì vậy, nói như ông: “Nếu 1.000 đồng chí mà thông suốt thì mọi việc sẽ dễ chuyển. Ở đó là tất cả các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, rồi mỗi tỉnh một số trưởng ban quan trọng nhất về xây dựng Đảng, rồi các đồng chí bí thư … các cấp đều có mặt. Tức là 1.000 người ấy quan trọng lắm. Nếu đồng tâm thì sức mạnh rất to lớn. Năm 1941, Bác Hồ có viết một bài thơ đăng trên báo Việt Nam độc lập: “Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng”. Toàn Đảng đồng lòng, toàn dân đồng lòng thì lực lượng xấu sẽ bị đầy lùi”. Cho nên, tự phê bình và phê bình sẽ phát huy tác dụng khi được tiến hành nghiêm túc, kỹ càng, cẩn trọng “không vội vàng”.

Bình sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trước mặt quần chúng, không phải là cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn lãnh đạo hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(6), nên sự gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, không chỉ thể hiện ở việc hoàn thành nhiệm vụ, mà còn ở lối sống trong sạch, không sa vào hệ lụy của chủ nghĩa cá nhân với các biểu hiện như: Tham nhũng, lãng phí, ham danh, chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp… Nguyên tắc “làm gương”, “nêu gương” là sự nhất quán, thể hiện rõ ở chỗ mỗi ý tưởng, mỗi quyết sách, mỗi việc làm của cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải “vì Đảng - vì nước - vì dân”, bởi đó là cái cốt lõi, tinh túy nhất của đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Hơn nữa, vì là người đứng đầu mỗi đơn vị, tổ chức, nên nguyên tắc “nêu gương” càng trở nên cần thiết và hữu ích. Cùng với trình độ chuyên môn tốt, khả năng quản lý điều hành giỏi, thì phẩm chất đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, luôn hướng đến chí công vô tư và đời tư trong sáng, giản dị… của người cán bộ lãnh đạo sẽ là tấm gương sáng cho quần chúng học tập, noi theo. Nhờ đó, có thể thu hút, tập hợp đoàn kết quần chúng, tạo nên sự thống nhất trong ý chí và hành động, để có thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó…

Để “học tập và làm theo” tấm gương đạo đức cách mạng của Bác Hồ và thực hiện Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, gương mẫu về mọi mặt và nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Sự gương mẫu của người đứng đầu về tư cách đạo đức, về tinh thần nghiêm túc “tự phê bình mình” là chính, thực hiện phê bình mình trước, phê bình người khác sau; cấp trên tự phê bình và tiến hành phê bình cấp dưới sau, sẽ góp phần xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong mỗi tổ chức cơ sở Đảng.

Tự phê bình và phê bình để góp phần rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… nhằm xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, nên một mặt, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo phải tự giác, thành khẩn và gương mẫu; mặt khác, mỗi tổ chức Đảng phải chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đảng viên, kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh những hiện tượng không chấp hành nguyên tắc phê bình và tự phê bình. Chú trọng tự phê bình và phê bình thường xuyên ở chi bộ trên tinh thần vừa cẩn thận, vừa kịp thời tiến hành kiểm điểm phân loại đảng viên theo định kỳ thật nghiêm túc. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải nghiêm khắc với chính mình, tự viết bản tự kiểm rõ ràng, nghiêm túc, đầy đủ các nội dung, để từ đó thấy rõ những ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân của cả những ưu và khuyết, và nêu rõ biện pháp cùng thời gian khắc phục. Đồng thời, để tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả cao, thì còn cần một cơ chế động viên quần chúng tham gia và giám sát tự phê bình và phê bình trong mỗi tổ chức cơ sở Đảng theo định kỳ.

Tự phê bình và phê bình nghiêm túc, kịp thời nhưng cẩn trọng, chân thành với mình và chân thành với đồng chí theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chắc chắn đây sẽ là giải pháp “đột phá” đưa Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vào thực tiễn cuộc sống.

TS. Văn Thanh Mai

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.261.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.232.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.261.

(4) Tài liệu lưu Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.

(5) Nhà báo Hữu Thọ: Thẳng thắn và chân tình, Báo An ninh thế giới giữa tháng, tháng 3/2012, tr.8-9.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.552.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: