Thứ bảy 27/06/2026 19:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết những vướng mắc trong công tác hộ tịch

Bộ Tư pháp nhận được phản ánh của một số đơn vị, cá nhân về việc cơ quan đăng ký hộ tịch hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất về các quy định liên quan đến giấy chứng sinh và đăng ký khai sinh cho trẻ em (Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình, chứng thực;

1. Về đăng ký khai sinh cho trẻ em liên quan đến giấy chứng sinh

Bộ Tư pháp nhận được phản ánh của một số đơn vị, cá nhân về việc cơ quan đăng ký hộ tịch hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất về các quy định liên quan đến giấy chứng sinh và đăng ký khai sinh cho trẻ em (Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình, chứng thực; Thông tư số 17/2012/TT-BYT ngày 24/10/2012 của Bộ Y tế quy định cấp và sử dụng giấy chứng sinh) .

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:

Điểm b khoản 2 Điều 2 Thông tư số 17/2012/TT-BYT quy định: “Trường hợp trẻ được sinh ra tại nhà hoặc tại nơi khác, mà không phải là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người thân thích của trẻ có trách nhiệm điền vào đơn đề nghị cấp giấy chứng sinh theo mẫu quy định tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Thông tư này và nộp cho trạm y tế xã, phường để xin cấp giấy chứng sinh cho trẻ”, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có được giấy chứng sinh để xác định sự kiện sinh, làm cơ sở cho việc đăng ký khai sinh.

Do đó, trường hợp cha, mẹ, người thân của trẻ sinh ra ngoài cơ sở y tế có điều kiện xin cấp giấy chứng sinh tại trạm y tế xã, phường, thị trấn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Thông tư số 17/2012/TT-BYT, thì cơ quan đăng ký hộ tịch vẫn chấp nhận giấy chứng sinh này và không yêu cầu người đi đăng ký khai sinh cung cấp thêm văn bản xác nhận của người làm chứng hoặc làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Trong trường hợp không có giấy chứng sinh, thì thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng, nếu không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

2. Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em mang tên nước ngoài

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 19, khoản 4 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam thì: Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có tên gọi Việt Nam, người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây.

Mặt khác, mặc dù pháp luật về hộ tịch không quy định cách đặt tên cho trẻ em có cha, mẹ là công dân Việt Nam, được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng theo quy định tại điểm c khoản 1 Mục III Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch thì: “Trong trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch Việt Nam cho con, thì tên của trẻ em là tên Việt Nam (ví dụ: Đỗ Nhật Thành) hoặc tên ghép giữa tên Việt Nam và tên nước ngoài (ví dụ: Đỗ Nhật Randy Thành) theo sự lựa chọn của cha, mẹ”.

Từ những quy định nêu trên có thể hiểu rằng: Công dân Việt Nam phải có tên gọi Việt Nam. Do đó, đối với trường hợp cha, mẹ là công dân Việt Nam, sinh con trên lãnh thổ Việt Nam, nay đăng ký khai sinh cho con mang quốc tịch Việt Nam, mà có yêu cầu đặt tên con là Nguyễn Ana (tên ghép giữa họ Việt Nam và tên nước ngoài) là không có cơ sở để giải quyết.

3. Liên quan đến việc xác nhận tình trạng hôn nhân

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực có ý kiến như sau:

3.1. Khoản 2 Điều 44 Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định: “Đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, giấy tờ sử dụng trong việc đăng ký kết hôn; nhận cha, mẹ, con; công nhận việc kết hôn; ghi vào sổ việc nhận cha, mẹ, con là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó định cư hoặc cơ quan đại diện ở nước đó cấp”.

Quy định này được hiểu: Công dân Việt Nam định cư tại nước ngoài mà không đồng thời có quốc tịch nước ngoài, khi làm thủ tục đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước tại Sở Tư pháp, nếu đã có giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp, thì không phải nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự Việt Nam ở nước đó cấp; nếu đã có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự Việt Nam ở nước đó cấp thì không phải nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp.

3.2. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định số 24/2013/NĐ-CP, thì khi làm thủ tục đăng ký kết hôn, đương sự phải nộp: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam được cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ; giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó là người không có vợ hoặc không có chồng.

Do đó, nếu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam định cư tại nước ngoài bảo đảm nội dung xác nhận như quy định nêu trên (xác nhận đương sự hiện tại không có vợ/không có chồng) thì không phải nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thời gian cư trú ở trong nước trước khi xuất cảnh theo quy định tại khoản 2 Điều 66 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu thấy cần thiết, Sở Tư pháp tiến hành thẩm tra, xác minh tình trạng hôn nhân hoặc yêu cầu đương sự cam đoan (trong trường hợp không thể xác minh rõ) về tình trạng hôn nhân thời gian cư trú trong nước trước đây.

3.3. Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ và Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP ngày 25/3/2010 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch, chưa có quy định hướng dẫn về việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước theo từng giai đoạn, trước thời điểm có yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc tại thời điểm yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân mà người có yêu cầu đang có vợ/có chồng.

Tuy nhiên, Uỷ ban nhân dân cấp xã là cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý hộ tịch ở cơ sở, có trách nhiệm xác minh và làm rõ về tình trạng hôn nhân của công dân cư trú trên địa bàn (từ khi đủ tuổi kết hôn đến thời điểm yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân). Mặt khác, pháp luật cho phép công dân được cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác, ngoài mục đích kết hôn. Do đó, để bảo đảm quyền lợi cho công dân, khẳng định vai trò quản lý công dân nói chung, quản lý hộ tịch nói riêng của chính quyền cơ sở, Sở Tư pháp chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã vận dụng quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP để cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tại các thời điểm theo yêu cầu của công dân, kể cả tại thời điểm công dân đang có vợ/có chồng, trong giấy xác nhận cần ghi rõ mục đích cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân theo như các ví dụ sau đây:

Ví dụ 1: Anh Nguyễn Văn A, trong thời gian cư trú tại … từ ngày ..., đến ngày … chưa đăng ký kết hôn với ai.

Ví dụ 2: Anh Nguyễn Văn A, đã đăng ký kết hôn, nhưng đã ly hôn theo Bản án ly hôn số ... ngày ... tháng ... năm ... của Tòa án nhân dân ..., trong thời gian cư trú tại ... từ khi ly hôn đến ngày ... chưa đăng ký kết hôn với ai.

Ví dụ 3: Anh Nguyễn Văn A, đã đăng ký kết hôn, nhưng vợ đã chết (Giấy chứng tử số ... do ... cấp ngày ...), trong thời gian cư trú tại ..., từ khi ly hôn đến ngày ... chưa đăng ký kết hôn với ai.

Ví dụ 4: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại …, đang có vợ là Trần Thị B, sinh năm … (Giấy chứng nhận kết hôn số …, đăng ký ngày … tại …)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: