Thứ ba 25/08/2026 02:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp chống tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong xây dựng pháp luật

Bài viết nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đặc thù công tác xây dựng pháp luật, cũng như làm rõ nội dung của các khái niệm “tiêu cực”, “lợi ích nhóm”, “cục bộ”, từ đó, đề xuất một số giải pháp xử lý nghiêm vi phạm, đồng thời, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ người năng động, sáng tạo trong công tác xây dựng pháp luật góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

1. Vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội

Trong xã hội tồn tại nhiều loại quy tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội như giáo lý, đạo đức, phong tục, tập quán, điều lệ, thỏa ước tập thể... Các quy tắc này đều có những yêu cầu về cách thức hình thành, cũng như đặt ra các quy chuẩn, cơ chế áp dụng nhưng các thuộc tính phổ quát, chặt chẽ về mặt hình thức hay cưỡng chế của quy phạm pháp luật là nổi trội hơn các quy tắc khác.

Trước hết, xét về thuộc tính phổ biến thì về nguyên tắc, quy phạm pháp luật áp dụng đối với tất cả các tổ chức, cá nhân trên phạm vi quốc gia, lãnh thổ và chỉ bị hạn chế về đối tượng, không gian áp dụng bởi tính chất, nội dung của quy phạm và phải được quy định rất cụ thể bởi chính các quy phạm pháp luật. Việc áp dụng chỉ bị đình chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, bổ sung, sửa đổi bằng những quy phạm khác hoặc do thời hiệu áp dụng đã hết. Bên cạnh đó, một trong những đặc trưng của quy phạm pháp luật là tính chặt chẽ về mặt hình thức. Các nội dung của thuộc tính hình thức (trình tự, thủ tục, chủ thể, thể thức, hồ sơ...) được pháp luật quy định rất cụ thể. Tính chặt chẽ về mặt hình thức là yếu tố không thể thiếu, thậm chí quyết định đến hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật. Nếu không đáp ứng các yêu cầu về mặt hình thức thì quy phạm pháp luật không thể được ban hành hoặc nếu ban hành thì cũng có thể bị xem xét về hiệu lực pháp lý. Ngoài ra, thuộc tính cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước là một đặc điểm rất riêng của quy phạm pháp luật. Nhà nước sử dụng bộ máy cơ quan công quyền để tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định pháp luật, qua đó, pháp luật trở thành “quy tắc đặc biệt” mà mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội phải tuân thủ.

Pháp luật và Nhà nước là sản phẩm kết tinh sáng tạo của văn minh nhân loại, được hình thành trong quá trình phát triển xã hội và là hai phạm trù có quan hệ biện chứng không thể tách rời. Hơn nữa, pháp luật được xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện bởi Nhà nước nên rõ ràng ưu thế hơn hẳn các quy tắc xử sự khác trong xã hội. Do vậy, có thể khẳng định, pháp luật là công cụ vô cùng quan trọng và không thể thiếu để Nhà nước quản lý xã hội, thông qua pháp luật, các đường lối, chiến lược được thể chế hóa thành các quy định mang tính bắt buộc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhìn chung, các nước trên thế giới đều quan tâm, tập trung nguồn lực con người và nguồn lực tài chính cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm công tác xây dựng pháp luật và đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành nâng cao trách nhiệm đối với công tác này. Qua đó, công tác xây dựng pháp luật đã có chuyển biến tích cực. Tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW) đã nêu rõ kết quả sau gần 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến bộ quan trọng. Trên cơ sở tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Chiến lược, Bộ Chính trị đã khẳng định, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, cơ bản thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội[1].

Tiếp đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã nhận định, qua hơn 35 năm đổi mới và hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011), hệ thống pháp luật được hoàn thiện một bước cơ bản; vai trò của pháp luật và việc thực thi pháp luật được chú trọng trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước và xã hội.

Tại Đại hội Đảng lần thứ XIII, một lần nữa vai trò của pháp luật lại được nhận thức một cách toàn diện và sâu sắc hơn, trong đó hoàn thiện thể chế được xác định là một trong ba đột phá chiến lược với các nội dung cơ bản như: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính, hợp tác công - tư; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật.

Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo đối với các bộ, ngành, địa phương phải chú trọng xây dựng và hoàn thiện thể chế. Chính phủ tổ chức nhiều phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật[2]. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật.

2. Thực trạng công tác xây dựng pháp luật trong thời gian qua và quan điểm, định hướng hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật

Qua báo cáo của Bộ Tư pháp, công tác xây dựng pháp luật những năm gần đây nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành và chất lượng được nâng lên rõ rệt. Năm 2020, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 17 luật (tổng số văn bản đã trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua trong nhiệm kỳ là 112 văn bản). Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành 882 văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), tính cả nhiệm kỳ là 5.244 văn bản (tăng 37,5% so với nhiệm kỳ trước (2011 - 2015)). Các địa phương đã ban hành 3.186 VBQPPL cấp tỉnh, tính cả nhiệm kỳ là 20.923 văn bản (tăng 51,7% so với nhiệm kỳ trước); 991 VBQPPL cấp huyện trong số 13.990 văn bản của cả nhiệm kỳ (giảm 54,5% so với nhiệm kỳ trước); 3.078 VBQPPL cấp xã trong tổng số 72.253 văn bản từ năm 2016 đến năm 2020 (giảm 63% so với nhiệm kỳ trước)[3]. Năm 2021, Chính phủ trình Quốc hội thông qua 02 luật, 05 nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành 784 VBQPPL; ở địa phương đã ban hành 3.619 VBQPPL cấp tỉnh, 1.981 VBQPPL cấp huyện, 2.588 VBQPPL cấp xã[4]. Năm 2022, Chính phủ trình Quốc hội thông qua 12 luật, 06 nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành 602 VBQPPL; ở địa phương, đã ban hành 3.948 VBQPPL cấp tỉnh, 2.739 VBQPPL cấp huyện, 778 VBQPPL cấp xã. Với số lượng lớn văn bản được rà soát, sửa đổi hoặc ban hành mới hàng năm cho thấy, công tác xây dựng pháp luật ngày càng được tăng cường, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, chặt chẽ hơn cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng pháp luật còn một số hạn chế, bất cập như: Hệ thống pháp luật chưa thực sự hoàn chỉnh, đồng bộ; pháp luật trên một số lĩnh vực còn thiếu tính ổn định, tính dự báo chưa cao, chất lượng chưa bảo đảm; việc sửa đổi, bổ sung còn nhiều; quy trình xây dựng VBQPPL qua nhiều tầng nấc, làm chậm tiến độ ban hành và tổ chức thực hiện. Công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn là khâu yếu. Tình trạng “nợ đọng” văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành còn khá phổ biến; công tác rà soát, hệ thống hóa và pháp điển hóa chưa được triển khai mạnh mẽ; công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa có giải pháp đột phá, hiệu quả chưa cao; đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật chưa được tăng cường để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; công tác giám sát, kiểm tra văn bản pháp luật chưa thường xuyên; xử lý sai sót, vi phạm thiếu kiên quyết, triệt để; việc tổ chức thi hành pháp luật có lúc, có việc còn lỏng lẻo, tính răn đe, giáo dục chưa cao. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ quản lý nhà nước. Cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa đồng bộ, có lúc còn phân tán, có nơi còn cục bộ. Cơ chế để nhân dân tích cực tham gia vào các hoạt động xây dựng pháp luật và giám sát thi hành pháp luật chưa được phát huy[5].

Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW) cũng đã chỉ ra hạn chế trong công tác xây dựng pháp luật là: Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng vẫn chưa được thể chế kịp thời, đầy đủ hoặc đã thể chế nhưng không khả thi. Chậm khắc phục tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung, dàn trải, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế.

Theo thống kê năm 2020, Ngành Tư pháp đã kiểm tra theo thẩm quyền 13.154 VBQPPL (giảm 1,8% so với năm 2019), bước đầu phát hiện 239 văn bản có dấu hiệu trái nội dung, thẩm quyền (chiếm tỷ lệ 1,81% trên tổng số văn bản được kiểm tra); tập trung rà soát được 32.918 VBQPPL, kiến nghị xử lý (sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới) đối với 4.817 văn bản[6]. Năm 2021, Ngành Tư pháp đã rà soát 29.955 VBQPPL, kiến nghị xử lý 5.581 văn bản[7]. Các bộ, ngành và địa phương đã thực hiện kiểm tra theo thẩm quyền 13.233 VBQPPL, đã phát hiện và kết luận, kiến nghị xử lý 305 văn bản, gồm 238 VBQPPL có quy định trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền ban hành (trong đó có 100 văn bản ban hành trong năm 2021) và 67 văn bản không phải là VBQPPL nhưng có chứa quy phạm pháp luật. Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đã kiểm tra 4.219 văn bản (gồm 451 văn bản của cơ quan cấp bộ; 3.768 văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); qua kiểm tra đã kết luận, kiến nghị xử lý đối với 80 văn bản có quy định trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung (gồm 09 văn bản của cơ quan cấp bộ; 71 văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)[8]. Năm 2022, Ngành Tư pháp đã rà soát 27.878 VBQPPL, kiến nghị xử lý (sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới) đối với 5.731 văn bản[9].

Trên thực tế, vẫn còn tình trạng một số VBQPPL được ban hành không thể đi vào cuộc sống, thậm chí gây khó khăn và lãng phí cho người dân và xã hội như: Quy định người “ngực lép” không được cấp giấy phép lái xe tại Quyết định số 4132/2001/QĐ-BYT ngày 04/10/2001 của Bộ Y tế về việc ban hành bản “Tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới”. Quy định về chính sách ưu tiên trong tuyển sinh đại học đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 tại Thông tư số 24/2013/TT-BGDĐT ngày 04/7/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo…

Có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng nêu trên. Trước hết là những nguyên nhân khách quan như: Bối cảnh của nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn chuyển đổi, điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi nhanh, các vấn đề xã hội mới phát sinh chưa có tiền lệ, các vấn đề có tác động rộng vượt ra khỏi giới hạn về địa lý, lãnh thổ như dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng tài chính... diễn ra với tần suất thường xuyên và tính chất ngày càng phức tạp... trong khi nguồn lực tài chính và con người dành cho công tác xây dựng pháp luật còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó là các nguyên nhân chủ quan như: Nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của công tác xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật ở một số nơi còn chưa đầy đủ; sự quan tâm, vào cuộc của các cấp chính quyền đối với các công tác còn chưa quyết liệt tại một số địa phương, cơ quan, đơn vị; việc đánh giá tác động chính sách, cũng như tổ chức lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đặc biệt là đối tượng chịu sự tác động của chính sách trong quá trình xây dựng một số văn bản còn mang tính hình thức; vẫn còn tư tưởng coi trọng lợi ích ngành, lĩnh vực mà chưa quan tâm thỏa đáng đến lợi ích chung của xã hội trong xây dựng pháp luật...

Bên cạnh các nhiệm vụ, giải pháp mang tính tổng thể thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW và Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 28-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu cần chống tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong xây dựng pháp luật. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm ngăn chặn tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng pháp luật, qua đó, góp phần bảo đảm quá trình xây dựng pháp luật được diễn ra khách quan, minh bạch, các văn bản pháp luật khả thi, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và như vậy sẽ thực hiện có hiệu quả đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và nhiệm vụ về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, cũng như nhiệm vụ về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.

3. Một số đặc điểm của hoạt động xây dựng pháp luật

Với vai trò là công cụ quan trọng, không thể thiếu để điều chỉnh xã hội, pháp luật có tác động rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội. Do đó, việc để cho các yếu tố tiêu cực, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm tác động đến quá trình xây dựng pháp luật, làm biến dạng các nội dung của quy phạm pháp luật sẽ gây ra những hệ lụy rất lớn, làm cản trở sự phát triển của xã hội. Kiểm soát quyền lực, phòng, chống lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật trở thành vấn đề cấp thiết, song đây là vấn đề phức tạp cần phải nghiên cứu, đánh giá tác động kỹ lưỡng, bảo đảm vừa thực hiện được mục tiêu đã đặt ra là không có “vùng cấm” trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm cho công tác xây dựng pháp luật thực sự trong sạch, đồng thời vừa thực hiện có hiệu quả đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế, vừa thực hiện được chủ trương khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám đề xuất những biện pháp, giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề có bất cập hoặc vấn đề mới phát sinh, tránh gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám” trong điều kiện nguồn nhân sự trong lĩnh vực này hiện còn hạn chế, trong khi việc tuyển dụng nguồn nhân lực cao vào các bộ, cơ quan hoạch định chính sách đang gặp nhiều khó khăn.

Để triển khai có hiệu quả nhiệm vụ nêu trên rất cần có giải pháp phù hợp, trong đó phải tính đến yếu tố đặc thù của pháp luật, cũng như làm rõ nội hàm của các khái niệm về “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ”. Trước hết, có thể nhận thấy một số đặc trưng của công tác xây dựng pháp luật như sau:

Thứ nhất, pháp luật là sản phẩm của hoạt động tư duy nên không thể tách rời yếu tố chủ quan của con người. Những định hướng, chính sách, nội dung cụ thể của VBQPPL phụ thuộc rất lớn vào khả năng nhận thức và năng lực tư duy của người xây dựng pháp luật. Pháp luật được hình thành trên nền thực tại khách quan được xử lý thông qua quá trình tư duy sáng tạo nên thường có “độ trễ” hơn so với thực tiễn. Tuy nhiên, do là sản phẩm của hoạt động tư duy sáng tạo nên pháp luật cũng chứa đựng các yếu tố “vượt thời gian”, đi trước thực tiễn. Trong cả hai trường hợp này đều không thể tránh khỏi tình trạng có những quy định lạc hậu hoặc phản ánh không chính xác thực tiễn mà nguyên nhân là do các điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi so với dự liệu của người xây dựng pháp luật.

Thứ hai, pháp luật không thể được xây dựng bởi một người mà phải có sự tham gia của rất nhiều cơ quan, đơn vị, cá nhân. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), việc xây dựng VBQPPL được thực hiện qua nhiều bước, nhiều công đoạn có sự tham gia của nhiều chủ thể. Do đó, pháp luật là sản phẩm của trí tuệ tập thể mà mỗi người từ thành viên ban soạn thảo, tổ biên tập, người góp ý, các cấp quyết định sẽ tham gia vào quá trình xây dựng ở những vai trò, góc độ khác nhau.

Thứ ba, quá trình xây dựng VBQPPL đã có sự kiểm soát giữa các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền trong công tác xây dựng văn bản. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định trách nhiệm của cơ quan đề xuất, soạn thảo, cơ quan thẩm định, thẩm tra, cơ quan ban hành văn bản, các tổ chức tham mưu khác như: Ban soạn thảo, Tổ biên tập, Hội đồng thẩm định... nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ và tính khả thi của dự thảo. Trong quá trình tham gia, các cơ quan này cũng phải xem xét, cân nhắc ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan bảo đảm sự hài hòa về lợi ích của các nhóm đối tượng chịu tác động của văn bản. Ngoài ra, Luật này cũng quy định những biện pháp, giải pháp nhằm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc ban hành văn bản như hoạt động giám sát của các chủ thể có thẩm quyền, kiểm tra, theo dõi... qua đó phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp của VBQPPL.

4. Vấn đề tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ và các giải pháp chống tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong xây dựng pháp luật

Pháp luật là biểu hiện cao nhất của trí tuệ tập thể, trong đó, mỗi cá nhân, cơ quan có trách nhiệm rất cụ thể trong quá trình xây dựng pháp luật. Do đó, khi xem xét đến trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức cần rất thận trọng, làm rõ quá trình tham gia, tính chất và mức độ ảnh hưởng, vai trò tác động của mỗi cá nhân, tập thể đến việc hình thành VBQPPL.

Bên cạnh các yếu tố mang tính đặc trưng của pháp luật, thì cũng cần minh định rõ nội hàm của các khái niệm “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ” để từ đó nhận diện chính xác, đầy đủ và toàn diện hơn. Có thể thấy rằng, pháp luật là tấm gương phản chiếu, chuyển tải quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức, nhóm người trong xã hội, trong đó, những quyền, lợi ích phù hợp với lợi ích chung và xu thế phát triển xã hội sẽ được ghi nhận; những lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ xuất phát từ yếu tố lợi ích vật chất hoặc lỗi cố ý của những người xây dựng pháp luật làm cho các quy định pháp luật trở nên thiếu khách quan, phản ánh sai lệch thực tế, đi ngược lợi ích chung của xã hội là những yếu tố cần phải loại bỏ.

Yếu tố tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ được thể hiện trong một số trường hợp sau: (i) Người xây dựng pháp luật vì tư lợi mà dẫn đến tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong xây dựng pháp luật; (ii) Người xây dựng pháp luật mặc dù không tư lợi nhưng biết hoặc có khả năng, điều kiện để biết mà vẫn lựa chọn các quy định phản ánh lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ thay vì lợi ích chung; (iii) Người xây dựng pháp luật không tư lợi nhưng do khả năng nhận thức hoặc do điều kiện khách quan về thông tin phục vụ cho công tác xây dựng pháp luật chưa đầy đủ, chính xác, điều kiện kinh tế - xã hội diễn biến quá nhanh khó dự liệu, đã tác động đến việc đưa ra các ý kiến, quyết định có biểu hiện của lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ.

Đối với trường hợp vì lợi ích vật chất, tư lợi thì cần phải xử lý nghiêm khắc, tùy theo mức độ hành vi vi phạm và hậu quả gây ra để xem xét trách nhiệm kỷ luật hoặc trách nhiệm hình sự người xây dựng pháp luật. Đối với trường hợp cố ý lựa chọn lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm mà từ bỏ lợi ích chung nhưng không có yếu tố lợi ích vật chất, tư lợi thì cần có cơ chế xử lý trách nhiệm công vụ, điều chuyển công tác khác, để bảo đảm giữ gìn kỷ cương, kỷ luật trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật. Những trường hợp thuộc về khả năng nhận thức, cũng như tác động của các điều kiện khách quan như nguồn lực tài chính, con người, sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế - xã hội… thì cần tập trung tăng cường nguồn lực, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật. Trong quá trình xem xét trách nhiệm, cơ quan có thẩm quyền cần cân nhắc đến yếu tố đặc thù của pháp luật, trách nhiệm cá nhân, tập thể trong việc đề xuất, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, quyết định việc ban hành VBQPPL, tránh việc “bỏ sót” hoặc xử lý không đúng người vi phạm.

Ngoài ra, các cơ quan cần tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã được Đảng, Nhà nước đề ra, trong đó tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp: (i) Quan tâm bố trí nguồn lực tài chính trong xây dựng pháp luật, nghiên cứu, sửa đổi quy định về kinh phí xây dựng pháp luật theo hướng tăng mức kinh phí xây dựng văn bản, bảo đảm thực hiện tốt các hoạt động từ nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tác động, tổ chức hội thảo, hội nghị, điều tra xã hội học, tổng hợp...; (ii) Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, có cơ chế thu hút người có năng lực vào làm công tác này, đồng thời có chính sách đãi ngộ hợp lý cả về phụ cấp, chế độ bồi dưỡng, quan tâm đến công tác cán bộ đối với người làm công tác xây dựng pháp luật; (iii) Thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các quy định pháp luật về ban hành VBQPPL, trong đó, lưu ý các hoạt động tổng kết thực tiễn, đánh giá chính sách; tăng cường minh bạch trong quá trình xây dựng văn bản; tăng cường chất lượng của các hồ sơ, tài liệu như báo cáo đánh giá tác động, báo cáo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, báo cáo đánh giá thủ tục hành chính, báo cáo kinh nghiệm nước ngoài...; (iv) Tăng cường đối thoại chính sách, mở rộng phạm vi tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, lấy ý kiến của người dân, tổ chức, doanh nghiệp, nhất là đối tượng chịu tác động của các quy định pháp luật; (v) Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác xây dựng pháp luật, trong đó, nâng cao năng lực, trách nhiệm của các cơ quan thẩm định, thẩm tra; tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách và tính chuyên nghiệp trong hoạt động lập pháp của Quốc hội; thực hiện kiểm soát quyền lực ngay trong từng cơ quan xây dựng pháp luật thông qua vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; mở rộng cơ chế tham gia góp ý, giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội; (vi) Tập trung thực hiện có hiệu quả các công tác bổ trợ cho việc xây dựng pháp luật như: Công tác kiểm tra VBQPPL; rà soát, hệ thống hóa VBQPPL, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật...

ThS. Bùi Công Quang

Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và Công vụ, Văn phòng Chính phủ

[1]. Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[2]. Theo Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2023 của Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2022 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2023, năm 2022, Chính phủ đã tổ chức 8 phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật (tháng 01, 02, 03, 07, 08, 09, 11, 12/2022).

[3]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2021 về tổng kết công tác tư pháp năm 2020, nhiệm kỳ 2016 - 2020; định hướng nhiệm kỳ 2021 - 2025 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2021 của Bộ Tư pháp.

[4]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2022 của Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2021 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2022.

[5]. Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[6]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2021 về tổng kết công tác tư pháp năm 2020, nhiệm kỳ 2016 - 2020; định hướng nhiệm kỳ 2021 - 2025 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2021 của Bộ Tư pháp.

[7]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2022 của Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2021 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2022.

[8]. https://baochinhphu.vn/kiem-tra-ra-soat-van-ban-phap-luat-kip-thoi-than-trong-chinh-xac-quyet-liet-102220701145243283.htm.

[9]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2023 của Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2022 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 394), tháng 12/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: