Thứ hai 13/04/2026 06:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp chống tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong xây dựng pháp luật

Bài viết nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đặc thù công tác xây dựng pháp luật, cũng như làm rõ nội dung của các khái niệm “tiêu cực”, “lợi ích nhóm”, “cục bộ”, từ đó, đề xuất một số giải pháp xử lý nghiêm vi phạm, đồng thời, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ người năng động, sáng tạo trong công tác xây dựng pháp luật góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

1. Vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội

Trong xã hội tồn tại nhiều loại quy tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội như giáo lý, đạo đức, phong tục, tập quán, điều lệ, thỏa ước tập thể... Các quy tắc này đều có những yêu cầu về cách thức hình thành, cũng như đặt ra các quy chuẩn, cơ chế áp dụng nhưng các thuộc tính phổ quát, chặt chẽ về mặt hình thức hay cưỡng chế của quy phạm pháp luật là nổi trội hơn các quy tắc khác.

Trước hết, xét về thuộc tính phổ biến thì về nguyên tắc, quy phạm pháp luật áp dụng đối với tất cả các tổ chức, cá nhân trên phạm vi quốc gia, lãnh thổ và chỉ bị hạn chế về đối tượng, không gian áp dụng bởi tính chất, nội dung của quy phạm và phải được quy định rất cụ thể bởi chính các quy phạm pháp luật. Việc áp dụng chỉ bị đình chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, bổ sung, sửa đổi bằng những quy phạm khác hoặc do thời hiệu áp dụng đã hết. Bên cạnh đó, một trong những đặc trưng của quy phạm pháp luật là tính chặt chẽ về mặt hình thức. Các nội dung của thuộc tính hình thức (trình tự, thủ tục, chủ thể, thể thức, hồ sơ...) được pháp luật quy định rất cụ thể. Tính chặt chẽ về mặt hình thức là yếu tố không thể thiếu, thậm chí quyết định đến hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật. Nếu không đáp ứng các yêu cầu về mặt hình thức thì quy phạm pháp luật không thể được ban hành hoặc nếu ban hành thì cũng có thể bị xem xét về hiệu lực pháp lý. Ngoài ra, thuộc tính cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước là một đặc điểm rất riêng của quy phạm pháp luật. Nhà nước sử dụng bộ máy cơ quan công quyền để tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định pháp luật, qua đó, pháp luật trở thành “quy tắc đặc biệt” mà mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội phải tuân thủ.

Pháp luật và Nhà nước là sản phẩm kết tinh sáng tạo của văn minh nhân loại, được hình thành trong quá trình phát triển xã hội và là hai phạm trù có quan hệ biện chứng không thể tách rời. Hơn nữa, pháp luật được xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện bởi Nhà nước nên rõ ràng ưu thế hơn hẳn các quy tắc xử sự khác trong xã hội. Do vậy, có thể khẳng định, pháp luật là công cụ vô cùng quan trọng và không thể thiếu để Nhà nước quản lý xã hội, thông qua pháp luật, các đường lối, chiến lược được thể chế hóa thành các quy định mang tính bắt buộc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhìn chung, các nước trên thế giới đều quan tâm, tập trung nguồn lực con người và nguồn lực tài chính cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm công tác xây dựng pháp luật và đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành nâng cao trách nhiệm đối với công tác này. Qua đó, công tác xây dựng pháp luật đã có chuyển biến tích cực. Tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW) đã nêu rõ kết quả sau gần 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến bộ quan trọng. Trên cơ sở tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Chiến lược, Bộ Chính trị đã khẳng định, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, cơ bản thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội[1].

Tiếp đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã nhận định, qua hơn 35 năm đổi mới và hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011), hệ thống pháp luật được hoàn thiện một bước cơ bản; vai trò của pháp luật và việc thực thi pháp luật được chú trọng trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước và xã hội.

Tại Đại hội Đảng lần thứ XIII, một lần nữa vai trò của pháp luật lại được nhận thức một cách toàn diện và sâu sắc hơn, trong đó hoàn thiện thể chế được xác định là một trong ba đột phá chiến lược với các nội dung cơ bản như: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính, hợp tác công - tư; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật.

Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo đối với các bộ, ngành, địa phương phải chú trọng xây dựng và hoàn thiện thể chế. Chính phủ tổ chức nhiều phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật[2]. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật.

2. Thực trạng công tác xây dựng pháp luật trong thời gian qua và quan điểm, định hướng hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật

Qua báo cáo của Bộ Tư pháp, công tác xây dựng pháp luật những năm gần đây nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành và chất lượng được nâng lên rõ rệt. Năm 2020, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 17 luật (tổng số văn bản đã trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua trong nhiệm kỳ là 112 văn bản). Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành 882 văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), tính cả nhiệm kỳ là 5.244 văn bản (tăng 37,5% so với nhiệm kỳ trước (2011 - 2015)). Các địa phương đã ban hành 3.186 VBQPPL cấp tỉnh, tính cả nhiệm kỳ là 20.923 văn bản (tăng 51,7% so với nhiệm kỳ trước); 991 VBQPPL cấp huyện trong số 13.990 văn bản của cả nhiệm kỳ (giảm 54,5% so với nhiệm kỳ trước); 3.078 VBQPPL cấp xã trong tổng số 72.253 văn bản từ năm 2016 đến năm 2020 (giảm 63% so với nhiệm kỳ trước)[3]. Năm 2021, Chính phủ trình Quốc hội thông qua 02 luật, 05 nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành 784 VBQPPL; ở địa phương đã ban hành 3.619 VBQPPL cấp tỉnh, 1.981 VBQPPL cấp huyện, 2.588 VBQPPL cấp xã[4]. Năm 2022, Chính phủ trình Quốc hội thông qua 12 luật, 06 nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành 602 VBQPPL; ở địa phương, đã ban hành 3.948 VBQPPL cấp tỉnh, 2.739 VBQPPL cấp huyện, 778 VBQPPL cấp xã. Với số lượng lớn văn bản được rà soát, sửa đổi hoặc ban hành mới hàng năm cho thấy, công tác xây dựng pháp luật ngày càng được tăng cường, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, chặt chẽ hơn cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng pháp luật còn một số hạn chế, bất cập như: Hệ thống pháp luật chưa thực sự hoàn chỉnh, đồng bộ; pháp luật trên một số lĩnh vực còn thiếu tính ổn định, tính dự báo chưa cao, chất lượng chưa bảo đảm; việc sửa đổi, bổ sung còn nhiều; quy trình xây dựng VBQPPL qua nhiều tầng nấc, làm chậm tiến độ ban hành và tổ chức thực hiện. Công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn là khâu yếu. Tình trạng “nợ đọng” văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành còn khá phổ biến; công tác rà soát, hệ thống hóa và pháp điển hóa chưa được triển khai mạnh mẽ; công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa có giải pháp đột phá, hiệu quả chưa cao; đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật chưa được tăng cường để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; công tác giám sát, kiểm tra văn bản pháp luật chưa thường xuyên; xử lý sai sót, vi phạm thiếu kiên quyết, triệt để; việc tổ chức thi hành pháp luật có lúc, có việc còn lỏng lẻo, tính răn đe, giáo dục chưa cao. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ quản lý nhà nước. Cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa đồng bộ, có lúc còn phân tán, có nơi còn cục bộ. Cơ chế để nhân dân tích cực tham gia vào các hoạt động xây dựng pháp luật và giám sát thi hành pháp luật chưa được phát huy[5].

Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW) cũng đã chỉ ra hạn chế trong công tác xây dựng pháp luật là: Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng vẫn chưa được thể chế kịp thời, đầy đủ hoặc đã thể chế nhưng không khả thi. Chậm khắc phục tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung, dàn trải, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế.

Theo thống kê năm 2020, Ngành Tư pháp đã kiểm tra theo thẩm quyền 13.154 VBQPPL (giảm 1,8% so với năm 2019), bước đầu phát hiện 239 văn bản có dấu hiệu trái nội dung, thẩm quyền (chiếm tỷ lệ 1,81% trên tổng số văn bản được kiểm tra); tập trung rà soát được 32.918 VBQPPL, kiến nghị xử lý (sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới) đối với 4.817 văn bản[6]. Năm 2021, Ngành Tư pháp đã rà soát 29.955 VBQPPL, kiến nghị xử lý 5.581 văn bản[7]. Các bộ, ngành và địa phương đã thực hiện kiểm tra theo thẩm quyền 13.233 VBQPPL, đã phát hiện và kết luận, kiến nghị xử lý 305 văn bản, gồm 238 VBQPPL có quy định trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền ban hành (trong đó có 100 văn bản ban hành trong năm 2021) và 67 văn bản không phải là VBQPPL nhưng có chứa quy phạm pháp luật. Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đã kiểm tra 4.219 văn bản (gồm 451 văn bản của cơ quan cấp bộ; 3.768 văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); qua kiểm tra đã kết luận, kiến nghị xử lý đối với 80 văn bản có quy định trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung (gồm 09 văn bản của cơ quan cấp bộ; 71 văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)[8]. Năm 2022, Ngành Tư pháp đã rà soát 27.878 VBQPPL, kiến nghị xử lý (sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới) đối với 5.731 văn bản[9].

Trên thực tế, vẫn còn tình trạng một số VBQPPL được ban hành không thể đi vào cuộc sống, thậm chí gây khó khăn và lãng phí cho người dân và xã hội như: Quy định người “ngực lép” không được cấp giấy phép lái xe tại Quyết định số 4132/2001/QĐ-BYT ngày 04/10/2001 của Bộ Y tế về việc ban hành bản “Tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới”. Quy định về chính sách ưu tiên trong tuyển sinh đại học đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 tại Thông tư số 24/2013/TT-BGDĐT ngày 04/7/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo…

Có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng nêu trên. Trước hết là những nguyên nhân khách quan như: Bối cảnh của nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn chuyển đổi, điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi nhanh, các vấn đề xã hội mới phát sinh chưa có tiền lệ, các vấn đề có tác động rộng vượt ra khỏi giới hạn về địa lý, lãnh thổ như dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng tài chính... diễn ra với tần suất thường xuyên và tính chất ngày càng phức tạp... trong khi nguồn lực tài chính và con người dành cho công tác xây dựng pháp luật còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó là các nguyên nhân chủ quan như: Nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của công tác xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật ở một số nơi còn chưa đầy đủ; sự quan tâm, vào cuộc của các cấp chính quyền đối với các công tác còn chưa quyết liệt tại một số địa phương, cơ quan, đơn vị; việc đánh giá tác động chính sách, cũng như tổ chức lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đặc biệt là đối tượng chịu sự tác động của chính sách trong quá trình xây dựng một số văn bản còn mang tính hình thức; vẫn còn tư tưởng coi trọng lợi ích ngành, lĩnh vực mà chưa quan tâm thỏa đáng đến lợi ích chung của xã hội trong xây dựng pháp luật...

Bên cạnh các nhiệm vụ, giải pháp mang tính tổng thể thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW và Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 28-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu cần chống tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong xây dựng pháp luật. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm ngăn chặn tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng pháp luật, qua đó, góp phần bảo đảm quá trình xây dựng pháp luật được diễn ra khách quan, minh bạch, các văn bản pháp luật khả thi, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và như vậy sẽ thực hiện có hiệu quả đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và nhiệm vụ về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, cũng như nhiệm vụ về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.

3. Một số đặc điểm của hoạt động xây dựng pháp luật

Với vai trò là công cụ quan trọng, không thể thiếu để điều chỉnh xã hội, pháp luật có tác động rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội. Do đó, việc để cho các yếu tố tiêu cực, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm tác động đến quá trình xây dựng pháp luật, làm biến dạng các nội dung của quy phạm pháp luật sẽ gây ra những hệ lụy rất lớn, làm cản trở sự phát triển của xã hội. Kiểm soát quyền lực, phòng, chống lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật trở thành vấn đề cấp thiết, song đây là vấn đề phức tạp cần phải nghiên cứu, đánh giá tác động kỹ lưỡng, bảo đảm vừa thực hiện được mục tiêu đã đặt ra là không có “vùng cấm” trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm cho công tác xây dựng pháp luật thực sự trong sạch, đồng thời vừa thực hiện có hiệu quả đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế, vừa thực hiện được chủ trương khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám đề xuất những biện pháp, giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề có bất cập hoặc vấn đề mới phát sinh, tránh gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám” trong điều kiện nguồn nhân sự trong lĩnh vực này hiện còn hạn chế, trong khi việc tuyển dụng nguồn nhân lực cao vào các bộ, cơ quan hoạch định chính sách đang gặp nhiều khó khăn.

Để triển khai có hiệu quả nhiệm vụ nêu trên rất cần có giải pháp phù hợp, trong đó phải tính đến yếu tố đặc thù của pháp luật, cũng như làm rõ nội hàm của các khái niệm về “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ”. Trước hết, có thể nhận thấy một số đặc trưng của công tác xây dựng pháp luật như sau:

Thứ nhất, pháp luật là sản phẩm của hoạt động tư duy nên không thể tách rời yếu tố chủ quan của con người. Những định hướng, chính sách, nội dung cụ thể của VBQPPL phụ thuộc rất lớn vào khả năng nhận thức và năng lực tư duy của người xây dựng pháp luật. Pháp luật được hình thành trên nền thực tại khách quan được xử lý thông qua quá trình tư duy sáng tạo nên thường có “độ trễ” hơn so với thực tiễn. Tuy nhiên, do là sản phẩm của hoạt động tư duy sáng tạo nên pháp luật cũng chứa đựng các yếu tố “vượt thời gian”, đi trước thực tiễn. Trong cả hai trường hợp này đều không thể tránh khỏi tình trạng có những quy định lạc hậu hoặc phản ánh không chính xác thực tiễn mà nguyên nhân là do các điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi so với dự liệu của người xây dựng pháp luật.

Thứ hai, pháp luật không thể được xây dựng bởi một người mà phải có sự tham gia của rất nhiều cơ quan, đơn vị, cá nhân. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), việc xây dựng VBQPPL được thực hiện qua nhiều bước, nhiều công đoạn có sự tham gia của nhiều chủ thể. Do đó, pháp luật là sản phẩm của trí tuệ tập thể mà mỗi người từ thành viên ban soạn thảo, tổ biên tập, người góp ý, các cấp quyết định sẽ tham gia vào quá trình xây dựng ở những vai trò, góc độ khác nhau.

Thứ ba, quá trình xây dựng VBQPPL đã có sự kiểm soát giữa các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền trong công tác xây dựng văn bản. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định trách nhiệm của cơ quan đề xuất, soạn thảo, cơ quan thẩm định, thẩm tra, cơ quan ban hành văn bản, các tổ chức tham mưu khác như: Ban soạn thảo, Tổ biên tập, Hội đồng thẩm định... nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ và tính khả thi của dự thảo. Trong quá trình tham gia, các cơ quan này cũng phải xem xét, cân nhắc ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan bảo đảm sự hài hòa về lợi ích của các nhóm đối tượng chịu tác động của văn bản. Ngoài ra, Luật này cũng quy định những biện pháp, giải pháp nhằm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc ban hành văn bản như hoạt động giám sát của các chủ thể có thẩm quyền, kiểm tra, theo dõi... qua đó phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp của VBQPPL.

4. Vấn đề tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ và các giải pháp chống tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong xây dựng pháp luật

Pháp luật là biểu hiện cao nhất của trí tuệ tập thể, trong đó, mỗi cá nhân, cơ quan có trách nhiệm rất cụ thể trong quá trình xây dựng pháp luật. Do đó, khi xem xét đến trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức cần rất thận trọng, làm rõ quá trình tham gia, tính chất và mức độ ảnh hưởng, vai trò tác động của mỗi cá nhân, tập thể đến việc hình thành VBQPPL.

Bên cạnh các yếu tố mang tính đặc trưng của pháp luật, thì cũng cần minh định rõ nội hàm của các khái niệm “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ” để từ đó nhận diện chính xác, đầy đủ và toàn diện hơn. Có thể thấy rằng, pháp luật là tấm gương phản chiếu, chuyển tải quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức, nhóm người trong xã hội, trong đó, những quyền, lợi ích phù hợp với lợi ích chung và xu thế phát triển xã hội sẽ được ghi nhận; những lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ xuất phát từ yếu tố lợi ích vật chất hoặc lỗi cố ý của những người xây dựng pháp luật làm cho các quy định pháp luật trở nên thiếu khách quan, phản ánh sai lệch thực tế, đi ngược lợi ích chung của xã hội là những yếu tố cần phải loại bỏ.

Yếu tố tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ được thể hiện trong một số trường hợp sau: (i) Người xây dựng pháp luật vì tư lợi mà dẫn đến tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong xây dựng pháp luật; (ii) Người xây dựng pháp luật mặc dù không tư lợi nhưng biết hoặc có khả năng, điều kiện để biết mà vẫn lựa chọn các quy định phản ánh lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ thay vì lợi ích chung; (iii) Người xây dựng pháp luật không tư lợi nhưng do khả năng nhận thức hoặc do điều kiện khách quan về thông tin phục vụ cho công tác xây dựng pháp luật chưa đầy đủ, chính xác, điều kiện kinh tế - xã hội diễn biến quá nhanh khó dự liệu, đã tác động đến việc đưa ra các ý kiến, quyết định có biểu hiện của lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ.

Đối với trường hợp vì lợi ích vật chất, tư lợi thì cần phải xử lý nghiêm khắc, tùy theo mức độ hành vi vi phạm và hậu quả gây ra để xem xét trách nhiệm kỷ luật hoặc trách nhiệm hình sự người xây dựng pháp luật. Đối với trường hợp cố ý lựa chọn lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm mà từ bỏ lợi ích chung nhưng không có yếu tố lợi ích vật chất, tư lợi thì cần có cơ chế xử lý trách nhiệm công vụ, điều chuyển công tác khác, để bảo đảm giữ gìn kỷ cương, kỷ luật trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật. Những trường hợp thuộc về khả năng nhận thức, cũng như tác động của các điều kiện khách quan như nguồn lực tài chính, con người, sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế - xã hội… thì cần tập trung tăng cường nguồn lực, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật. Trong quá trình xem xét trách nhiệm, cơ quan có thẩm quyền cần cân nhắc đến yếu tố đặc thù của pháp luật, trách nhiệm cá nhân, tập thể trong việc đề xuất, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, quyết định việc ban hành VBQPPL, tránh việc “bỏ sót” hoặc xử lý không đúng người vi phạm.

Ngoài ra, các cơ quan cần tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã được Đảng, Nhà nước đề ra, trong đó tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp: (i) Quan tâm bố trí nguồn lực tài chính trong xây dựng pháp luật, nghiên cứu, sửa đổi quy định về kinh phí xây dựng pháp luật theo hướng tăng mức kinh phí xây dựng văn bản, bảo đảm thực hiện tốt các hoạt động từ nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tác động, tổ chức hội thảo, hội nghị, điều tra xã hội học, tổng hợp...; (ii) Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, có cơ chế thu hút người có năng lực vào làm công tác này, đồng thời có chính sách đãi ngộ hợp lý cả về phụ cấp, chế độ bồi dưỡng, quan tâm đến công tác cán bộ đối với người làm công tác xây dựng pháp luật; (iii) Thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các quy định pháp luật về ban hành VBQPPL, trong đó, lưu ý các hoạt động tổng kết thực tiễn, đánh giá chính sách; tăng cường minh bạch trong quá trình xây dựng văn bản; tăng cường chất lượng của các hồ sơ, tài liệu như báo cáo đánh giá tác động, báo cáo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, báo cáo đánh giá thủ tục hành chính, báo cáo kinh nghiệm nước ngoài...; (iv) Tăng cường đối thoại chính sách, mở rộng phạm vi tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, lấy ý kiến của người dân, tổ chức, doanh nghiệp, nhất là đối tượng chịu tác động của các quy định pháp luật; (v) Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác xây dựng pháp luật, trong đó, nâng cao năng lực, trách nhiệm của các cơ quan thẩm định, thẩm tra; tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách và tính chuyên nghiệp trong hoạt động lập pháp của Quốc hội; thực hiện kiểm soát quyền lực ngay trong từng cơ quan xây dựng pháp luật thông qua vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; mở rộng cơ chế tham gia góp ý, giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội; (vi) Tập trung thực hiện có hiệu quả các công tác bổ trợ cho việc xây dựng pháp luật như: Công tác kiểm tra VBQPPL; rà soát, hệ thống hóa VBQPPL, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật...

ThS. Bùi Công Quang

Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và Công vụ, Văn phòng Chính phủ

[1]. Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[2]. Theo Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2023 của Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2022 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2023, năm 2022, Chính phủ đã tổ chức 8 phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật (tháng 01, 02, 03, 07, 08, 09, 11, 12/2022).

[3]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2021 về tổng kết công tác tư pháp năm 2020, nhiệm kỳ 2016 - 2020; định hướng nhiệm kỳ 2021 - 2025 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2021 của Bộ Tư pháp.

[4]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2022 của Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2021 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2022.

[5]. Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[6]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2021 về tổng kết công tác tư pháp năm 2020, nhiệm kỳ 2016 - 2020; định hướng nhiệm kỳ 2021 - 2025 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2021 của Bộ Tư pháp.

[7]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2022 của Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2021 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2022.

[8]. https://baochinhphu.vn/kiem-tra-ra-soat-van-ban-phap-luat-kip-thoi-than-trong-chinh-xac-quyet-liet-102220701145243283.htm.

[9]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2023 của Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2022 và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu công tác năm 2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 394), tháng 12/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: