Chủ nhật 25/10/2026 04:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự - Khó khăn, vướng mắc và giải pháp khắc phục

Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự - Khó khăn, vướng mắc và giải pháp khắc phục

Gắn liền với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các cơ quan, tổ chức, đơn vị nói chung và đối với cơ quan thi hành án dân sự (THADS) nói riêng. Thông qua hoạt động tiếp công dân, Tổng cục THADS và các cơ quan THADS địa phương tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh của công dân về việc tổ chức thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo và bồi thường nhà nước trong lĩnh vực THADS; phát hiện sai phạm, kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức thi hành án của chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan THADS.

1. Quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự

Cùng với việc thực hiện các quy định chung của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xuất phát từ đặc thù của hoạt động THADS, pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS có những quy định riêng, cụ thể trong các văn bản pháp luật về THADS: Trước đây, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS được quy định trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004. Cùng với sự hoàn thiện pháp luật về THADS, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS cũng ngày càng được hoàn thiện, theo đó, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự) đã dành Chương VI từ Điều 140 đến Điều 159 quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2000), Thông tư số 13/2021/TT-BTP ngày 30/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định quy trình xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự (Thông tư số 13/2021/TT-BTP thay thế Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định quy trình giải quyết đơn tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh về thi hành án dân sự) quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo; đối tượng bị khiếu nại, tố cáo; thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và trình tự, thủ tục giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong THADS.

Bên cạnh những quy định pháp luật nêu trên, Bộ Tư pháp và Tổng cục THADS đã ban hành nhiều quy trình, quy chế nội bộ có liên quan nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS như: Quy trình tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị qua đường dây nóng của hệ thống cơ quan THADS; Quy chế tiếp công dân tại Tổng cục THADS; Quy định tạm thời về tiêu chí xác định vụ việc khiếu nại, tố cáo về THADS phức tạp, kéo dài và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, điều hành công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hệ thống THADS. Các quy trình, quy chế bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất của văn bản trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS.

2. Một số kết quả đạt được về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự

Thời gian qua, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS đã từng bước đi vào nề nếp và đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ngày càng đầy đủ hơn; tổ chức chuyên trách giúp Thủ trưởng cơ quan THADS về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo từng bước được hình thành từ trung ương đến cấp tỉnh; công tác tuyên truyền, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện các quy định về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân ngày càng được quan tâm, chú trọng và duy trì thường xuyên. Nhờ đó, cơ quan THADS các cấp đã kịp thời giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của đương sự; chất lượng giải quyết được nâng lên, hầu hết các đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh đều được xem xét giải quyết kịp thời, đúng quy định, các cơ quan THADS đều nỗ lực phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu về giải quyết khiếu nại, tố cáo các năm do Bộ Tư pháp giao.

Công tác quản lý, chỉ đạo địa phương tiếp tục được chú trọng, quan tâm và đạt hiệu quả nhất định. Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhiều vi phạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và trong tổ chức thi hành án được phát hiện. Qua đó, Tổng cục THADS thường xuyên tổng hợp các vi phạm thường gặp và kịp thời có văn bản chấn chỉnh công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong toàn hệ thống THADS.

Công tác tiếp công dân liên quan đến THADS luôn được Bộ Tư pháp, hệ thống THADS thực hiện nghiêm theo quy định của Luật Tiếp công dân năm 2013. Các cơ quan THADS đều đã bố trí địa điểm tiếp công dân; phân công công chức có phẩm chất, kỹ năng dân vận và tinh thần phục vụ làm công tác tiếp công dân; định kỳ hàng tháng, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS đã trực tiếp tiếp công dân, chỉ đạo giải quyết nhiều vụ việc. Thủ trưởng cơ quan THADS các cấp đều bảo đảm tiếp công dân theo quy định; thường xuyên kiểm tra, chấn chỉnh công tác tiếp công dân, tăng cường đối thoại, giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh từ cơ sở nên đã giảm số lượng công dân đến các địa điểm tiếp công dân của trung ương.

Trong năm 2020, Bộ Tư pháp và các cơ quan THADS đã tiếp hơn 9.500 lượt công dân (trong đó, tại Bộ Tư pháp là gần 500 lượt và tại các cơ quan THADS địa phương là hơn 9.000 lượt). Tiếp nhận hơn 8.500 đơn tương ứng với hơn 7.000 việc, trong đó, số việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết là hơn 2.800 việc. Tỷ lệ giải quyết xong đạt hơn 97%, đạt chỉ tiêu Quốc hội giao.

Trong năm 2021, Bộ Tư pháp và các cơ quan THADS đã tiếp hơn 9.300 lượt công dân, trong đó, tại Bộ Tư pháp là hơn 400 lượt và tại các cơ quan THADS địa phương là hơn 8.900 lượt. Tiếp nhận gần 8.900 đơn, trong đó có hơn 2.600 việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Tỷ lệ giải quyết xong đạt hơn 97%, đạt chỉ tiêu Quốc hội giao.

Trong năm 2022, Bộ Tư pháp và các cơ quan THADS đã tiếp hơn 7.200 lượt công dân (trong đó, tại Bộ Tư pháp là gần 350 lượt và tại các cơ quan THADS địa phương là hơn 6.800 lượt). Tiếp nhận hơn 9.700 đơn, trong đó có hơn 2.600 việc thuộc thẩm quyền. Tỷ lệ giải quyết xong đạt hơn 97%, đạt chỉ tiêu Quốc hội giao.

Trong 06 tháng đầu năm 2023, Bộ Tư pháp và các cơ quan THADS đã tiếp gần 4.000 lượt công dân. Tiếp nhận hơn 4.000 đơn, trong đó có hơn 1.200 việc thuộc thẩm quyền. Tỷ lệ giải quyết xong đạt hơn 83%.

Kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS cho thấy, mặc dù số việc và tiền thi hành án ngày càng tăng qua các năm nhưng số việc phải thực hiện tiếp công dân, có khiếu nại, tố cáo lại có xu hướng giảm. Về cơ bản, khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh của công dân trong THADS đã được giải quyết kịp thời, đúng quy định pháp luật. Hầu hết các vụ việc khiếu nại, tố cáo được giải quyết dứt điểm không làm phát sinh khiếu nại, tố cáo phức tạp kéo dài; chất lượng giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo trong THADS được nâng cao, bảo đảm đúng pháp luật, đúng thời hạn. Về cơ bản quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo có hiệu lực của người có thẩm quyền giải quyết đã được thực hiện nghiêm túc, các sai phạm được phát hiện trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo được khắc phục.

Để đạt được kết quả nêu trên, các cơ quan THADS đã thực hiện tốt công tác dân vận, xác định công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cấp ủy, cơ quan, đơn vị; thường xuyên theo dõi, nắm bắt và dự báo sát tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân. Việc kịp thời ngăn chặn, chấn chỉnh, từng bước khắc phục những thiếu sót trong quá trình tổ chức thi hành án cũng đã góp phần hạn chế các khiếu nại, tố cáo phát sinh.

3. Một số khó khăn, vướng mắc bất cập và giải pháp khắc phục

Mặc dù hành lang pháp lý về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ngày càng được hoàn thiện, tuy nhiên, quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS hiện nay vẫn còn có một số tồn tại, hạn chế liên quan đến quy định pháp luật chung như: Chưa có quy định cụ thể về chế tài xử lý hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để cố tình khiếu nại, tố cáo, phản ánh sai sự thật, lạm dụng các quyền về khiếu nại, tố cáo để khiếu nại, tố cáo vượt cấp, mặc dù đã được các cấp có thẩm quyền giải quyết đúng quy định pháp luật (nhiều trường hợp người khiếu nại, tố cáo biết khiếu nại, tố cáo không có cơ sở mà vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo, nhưng các cơ quan vẫn phải giải quyết, gây tốn kém chi phí, công sức và thời gian); còn có một số bất cập trong quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS chưa được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn kịp thời. Những tồn tại, hạn chế nêu trên đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền liên quan cần không ngừng nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại nói chung, trong hệ thống THADS nói riêng.

Trong việc thực hiện pháp luật, bên cạnh những kết quả đạt được, các cơ quan THADS còn tồn tại một số hạn chế như: Vẫn còn một số cơ quan THADS chưa làm tốt công tác tiếp công dân; còn hiện tượng người dân tập trung đông người tại địa điểm tiếp công dân của Bộ Tư pháp để khiếu nại việc thi hành án; một số cơ quan THADS, chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp vẫn để xảy ra vi phạm về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo, chưa thực hiện nghiêm kết luận nội dung tố cáo, quyết định giải quyết khiếu nại dẫn đến đương sự, công dân, doanh nghiêp bức xúc tiếp tục có đơn thư vượt cấp; công tác quản lý, kiểm tra nội bộ và kiểm tra của cấp Cục đối với cấp Chi cục còn hạn chế; một số cơ quan THADS chưa quan tâm củng cố, kiện toàn cán bộ làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; công chức làm công tác kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo còn phải kiêm nhiệm các nhiệm vụ khác hoặc bố trí người ít kinh nghiệm dẫn đến hiệu quả, chất lượng tham mưu trong giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa cao.

Từ những kết quả đã đạt được cùng hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân nêu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện về thể chế.

Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về THADS, hạn chế mâu thuẫn giữa các quy định pháp luật, bảo đảm hoạt động tổ chức thi hành án ngày càng minh bạch, rút ngắn được thời gian tổ chức thi hành án. Hoàn thiện pháp luật và cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo vừa tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong THADS nhưng cũng phải hạn chế tối đa việc lợi dung khiếu nại, tố cáo để kéo dài việc thi hành án. Tiếp tục củng cố, kiện toàn cán bộ làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Về lâu dài, Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS cần nghiên cứu hoàn thiện đề án vị trí việc làm để bảo đảm việc tinh giản biên chế, thu gọn đầu mối nhưng vẫn đủ nhân lực trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Thứ hai, thực hiện các biện pháp nhằm củng cố bộ máy, con người làm công tác thi hành án nói chung, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS nói riêng.

- Về bộ máy, cần sớm nghiên cứu hoàn thiện Đề án đổi mới sắp xếp lại tổ chức bộ máy hệ thống THADS theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, trong đó tập trung kiện toàn về biên chế và điều kiện cần thiết khác bảo đảm để Phòng Kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc Cục Thi hành án dân sự hoạt động hiệu quả việc kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS. Hoàn thiện đề án vị trí việc làm; bố trí, sắp xếp đủ số lượng thẩm tra viên theo yêu cầu của các cơ quan THADS.

- Chú trọng nâng cao trình độ, kỹ năng công chức. Thường xuyên thực hiện các hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên, thư ký thi hành án bảo đảm có đầy đủ kiến thức, kỹ năng tổ chức thi hành vụ việc hạn chế vi phạm, sai sót phát sinh. Bên cạnh đó, thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức làm công tác giải quyết tố cáo trong THADS. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác giải quyết tố cáo, đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình hiện nay; chỉ đạo, hỗ trợ các cơ quan THADS địa phương củng cố kiện toàn đội ngũ công chức; thực hiện luân chuyển công chức theo quy định.

- Nâng cao ý thức, trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu là Thủ trưởng các cơ quan THADS địa phương trong công tác tiếp công dân, giải quyết tố cáo. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện quyền tố cáo, kiến nghị, phản ánh về công tác THADS; tăng cường giáo dục phẩm chất, đạo đức, kỹ năng dân vận cho cán bộ tiếp công dân. Kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp phát hiện “nể nang”, “lòng vòng” khi giải quyết khiếu nại, tố cáo; những sai phạm, thiếu sót trong quá trình tổ chức thi hành án, câu kết với tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá tài sản làm sai lệch hồ sơ vụ án, nhất là đối với sai phạm nghiêm trọng, khó khắc phục, gây thiệt hại cho Nhà nước và công dân làm phát sinh tố cáo bức xúc. Đối với những trường hợp đương sự lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để chống đối, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, gây rối, làm mất trật tự tại cơ quan, đơn vị, cần phải có biện pháp đúng pháp luật, kiên quyết xử lý và giải quyết dứt điểm.

Thứ ba, thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Lãnh đạo đơn vị trong hệ thống THADS nghiêm chỉnh chấp hành quy định Thủ trưởng trực tiếp tiếp công dân theo quy định; tăng cường đối thoại trong giải quyết tố cáo. Quan tâm, chú trọng hơn công tác giải quyết các kiến nghị, phản ánh của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thỏa đáng, đúng quy định, tránh gây bức xúc dẫn đến khiếu nại, tố cáo kéo dài.

Các cơ quan THADS chú trọng tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về THADS nói chung và pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS nói riêng để nâng cao hiểu biết pháp luật của nhân dân (tập trung ở khu vực xã, phường, thị trấn). Tăng cường thông tin, tuyên truyền về các vụ việc khiếu nại, tố cáo cụ thể, bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực; phê phán những hành vi vi phạm pháp luật và những biểu hiện lệch lạc trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo.

Phát huy vai trò của các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác hòa giải, tham gia làm người đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của người dân để cùng kiến nghị, xem xét, giải quyết những vấn đề thuộc lợi ích chính đáng của công dân; tăng cường việc giám sát của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Thứ tư, tập trung giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài.

Xác định công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những công tác trọng tâm của Bộ, Ngành Tư pháp và các địa phương theo đúng tinh thần chỉ đạo tại Chỉ thị số 14/CT- TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Có kế hoạch chỉ đạo thực hiện giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn kịp thời, có kết quả, nhất là phải giải quyết bảo đảm đúng chính sách, pháp luật.

Các địa phương cần chủ động xem xét, phối hợp lực lượng và tiếp tục xây dựng, hoàn thiện kế hoạch giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, trong đó phải xây dựng lộ trình và các giải pháp cụ thể. Trong quá trình xem xét, giải quyết phải tổ chức đối thoại công khai, dân chủ với công dân để làm rõ nội dung vụ việc, phải xem xét đầy đủ các căn cứ pháp lý, tình hình thực tế của vụ việc để có biện pháp giải quyết dứt điểm; báo cáo Ban chỉ đạo THADS cùng cấp, Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp để tháo gỡ vướng mắc và thống nhất biện pháp giải quyết.

Các cơ quan THADS chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước thông qua kiểm tra trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan THADS không thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân hoặc giải quyết không đúng quy định của pháp luật. Khắc phục những mặt yếu kém, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các bên đương sự.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra.

Tăng cường công tác kiểm tra công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó chú trọng kiểm tra việc thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo, các kết luận kiểm tra; kiểm tra định kỳ, đột xuất với công tác THADS tại địa phương, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Qua kiểm tra, kịp thời đôn đốc, chỉ đạo thi hành án đối với các vụ việc thi hành án có điều kiện nhưng chấp hành viên chậm thi hành được phát hiện trong quá trình kiểm tra, tiếp dân, xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của công dân; kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo để giải quyết dứt điểm, công khai, khách quan, minh bạch các vụ việc thi hành án.

Thứ sáu, tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan.

Tăng cường phối hợp với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân các cấp và các cơ quan chức năng trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS. Đối với các trình tự, thủ tục liên quan các cơ quan Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp thì các cơ quan THADS có liên quan kịp thời kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp chỉ đạo và thực hiện tốt việc phối hợp trong công tác THADS, kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức THADS theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân các cấp tăng cường công tác kiểm sát đối với việc tuân theo pháp luật của các đương sự - người tố cáo, qua đó phát hiện các trường hợp lợi dụng quyền tự do dân chủ, các trường hợp tố cáo không đúng sự thật để có biện pháp xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật; góp phần hạn chế tình trạng tố cáo sai sự thật. Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS tăng cường hơn nữa quan hệ phối hợp công tác với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong hướng dẫn giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động THADS; đặc biệt là tăng cường phối hợp trong giải quyết các việc THADS phức tạp, có khiếu nại, tố cáo kéo dài để có thể trong thời gian tới, giải quyết được cơ bản số vụ việc THADS phức tạp còn tồn đọng trong toàn hệ thống THADS.

Đối với các cơ quan, ban ngành có liên quan khác, cần tăng cường công tác chỉ đạo phối hợp của Thủ trưởng các cơ quan ban ngành với cơ quan THADS các cấp. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo THADS, xem là một trong những giải pháp quan trọng, góp phần đưa công tác THADS đạt kết quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Các cấp ủy Đảng tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của các cơ quan THADS. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức đoàn thể các cấp tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về THADS; giám sát công tác THADS theo quy định pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác THADS.

Nguyễn Thị Ngọc

Vụ Giải quyết khiếu nại, tố cáo, Tổng cục Thi hành án dân sự

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 383), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: