Thứ sáu 15/05/2026 03:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản (vật quyền) là nhu cầu tất yếu với pháp luật của mỗi quốc gia. Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam và các văn bản có liên quan một mặt đã tiếp cận được với thông lệ quốc tế nhưng mặt khác cũng bộc lộ một số hạn chế trong giải quyết xung đột pháp luật về vấn đề này.

Abstract: Settlement of conflict of law in ownership rights and other property-related rights (real rights) is an indispensable need for the laws of each country. Vietnam’s Civil Code of 2015 and related documents have been accessible to international practice but on the other hand also reveal some limitations in addressing this problem.

Quyền sở hữu (QSH) nói riêng và vật quyền nói chung vốn là một chế định cơ bản trong pháp luật dân sự của mọi quốc gia, nhưng mỗi nước lại có quan điểm và quy định khác nhau về vấn đề này. Trong pháp luật Đức, ngoài QSH thì có các vật quyền như quyền địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền ưu tiên, và các vật quyền bảo đảm[1]… Bộ luật Dân sự của Nhật Bản còn quy định thêm quyền canh tác, quyền lưu giữ, quyền ưu tiên và cả quyền cầm cố, quyền thế chấp cũng được coi là một dạng vật quyền. Trong Luật về tài sản năm 2007 của Trung Quốc thì bên cạnh QSH cũng tập trung nhiều vào quyền hưởng dụng, quyền địa dịch, vật quyền bảo đảm và quyền chiếm hữu được quy định riêng ngoài QSH[2]. Trong quá trình soạn thảo Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có lúc chúng ta sử dụng khái niệm “vật quyền”[3], nhưng cuối cùng Bộ luật Dân sự được thông qua với khái niệm “QSH và quyền khác đối với tài sản”. Sự đa dạng này là một nguyên nhân làm phát sinh xung đột pháp luật (XĐPL) về QSH và quyền khác đối với tài sản trong tư pháp quốc tế. Và do đó, việc giải quyết XĐPL về QSH, quyền khác đối với tài sản trở thành một nội dung then chốt của tư pháp quốc tế không chỉ của Việt Nam mà còn của nhiều nước trên thế giới. Qua bài viết này, tác giả xin đánh giá về các quy phạm xung đột về QSH và quyền khác đối với tài sản của Việt Nam trong mối tương quan với quy định của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới để đưa ra hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này.

1. Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản

Để giải quyết XĐPL về QSH và quyền khác đối với tài sản, tư pháp quốc tế của hầu hết các nước đều áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản (Lex rei sitae) như Điều 99 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm 1982 của Thụy Sĩ; Điều 13 Luật chung về luật áp dụng năm 2006 của Nhật Bản; Điều 36, Điều 37 Luật về luật áp dụng với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài năm 2010 của Trung Quốc; Điều 19 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm 2011 của Hàn Quốc; Điều 41 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm 2011 của Séc; Điều 69 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm 2012 của Séc… (sau đây xin gọi chung các đạo luật về tư pháp quốc tế này là PILA - Private International Law Act).

Pháp luật Việt Nam cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó. Từ Điều 833 Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 766 Bộ luật Dân sự năm 2005 đến Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015 (tuy phạm vi có khác nhau nhưng) đều thống nhất xác định QSH (và từ Bộ luật Dân sự năm 2015 là cả các quyền khác đối với tài sản) sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi có tài sản đó. Điều này là phù hợp với cả lý luận và thông lệ quốc tế khi giải quyết xung đột pháp luật về QSH và quyền khác đối với tài sản.

Căn cứ của hệ thuộc luật nơi có tài sản có thể được kể đến như: (i) Nơi tồn tại của tài sản là nơi bất kỳ ai cũng có thể xác định được một cách dễ dàng, do đó sẽ đáp ứng được yêu cầu bảo đảm hiệu lực đối kháng với người thứ ba và sự ổn định của giao dịch; (ii) Quan hệ QSH và quyền khác đối với tài sản là quan hệ pháp lý liên quan trực tiếp đến việc chi phối, sử dụng tài sản nên việc xác định nội dung của các quyền này đương nhiên được cho là cần phù hợp với pháp luật nước nơi có tài sản đó; (iii) Nếu áp dụng hệ thuộc luật của nước nào đó không phải nơi có tài sản thì sẽ dẫn đến luật của nước này áp dụng cho tài sản nằm ở nước khác, mà nếu tài sản cần phải đăng ký thì sẽ gây ra rất nhiều khó khăn, vướng mắc[4]; (iv) Tài sản, nhất là bất động sản nằm ở nước nào thì sẽ liên quan đến các lợi ích, kể cả lợi ích công cộng ở nước đó nên việc áp dụng luật nơi có tài sản vừa dễ xác định vừa đảm bảo sự hợp lý trong mối quan hệ lợi ích của các đương sự và lợi ích nhà nước có liên quan[5].

Mặc dù phần hệ thuộc trong quy định này tương đồng với pháp luật của các nước, nhưng phần phạm vi lại bị giới hạn khá hẹp, tức là chỉ dừng ở việc “xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt”. Vậy các nội dung khác liên quan đến QSH và quyền khác đối với tài sản như chuyển dịch rủi ro, giới hạn của QSH, hiệu lực đối kháng với người thứ ba hay phân loại vật quyền... sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước nào? Các đạo luật về tư pháp quốc tế của Hàn Quốc, Séc, Nhật Bản, Trung Quốc[6]... đều chỉ quy định chung là “vật quyền” mà không đi vào từng khía cạnh cụ thể của vật quyền là gì để đảm bảo được điều chỉnh toàn diện tất cả những vấn đề có thể phát sinh liên quan đến vật quyền. Hi vọng trong tương lai, chúng ta sẽ có án lệ giải thích phạm vi của khoản 1 Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo nghĩa rộng, tức là tất cả các nội dung khác liên quan đến QSH và quyền khác đối với tài sản đều có thể xem xét trong mối tương quan với sự xác lập, thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quyền nên vẫn áp dụng luật nơi có tài sản theo quy định tại khoản này.

Ở đây, cần lưu ý phân biệt giữa pháp luật áp dụng với QSH và pháp luật áp dụng với hợp đồng chuyển giao QSH hoặc pháp luật áp dụng đối với quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xâm phạm QSH. Pháp luật áp dụng với hợp đồng chuyển giao QSH, bồi thường thiệt hại do xâm phạm QSH sẽ điều chỉnh quan hệ giữa các bên trong hợp đồng, trong quan hệ bồi thường thiệt hại với nhau. Pháp luật áp dụng với QSH sẽ điều chỉnh quan hệ giữa chủ sở hữu và các chủ thể khác không phải chủ sở hữu như sẽ xác định hợp đồng đó có phải là căn cứ làm phát sinh QSH hay không, khi nào thì QSH được xác lập trên cơ sở hợp đồng có hiệu lực với người thứ ba không phải là một bên trong hợp đồng (ngay từ thời điểm các bên thỏa thuận trong hợp đồng hay sau khi đã chuyển giao tài sản hoặc làm thủ tục đăng ký)...

2. Một số ngoại lệ của hệ thuộc luật nơi có tài sản

2.1. Tài sản là động sản đang trên đường vận chuyển

Mặc dù về mặt nguyên tắc luật áp dụng đối với QSH và quyền khác đối với tài sản là luật nơi có tài sản, nhưng cũng có một số ngoại lệ liên quan đến luật áp dụng đối với QSH và quyền khác đối với tài sản. Đó là trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, đối với tài sản đang trên đường vận chuyển thì hệ thuộc luật được ưu tiên đầu tiên là luật theo sự thỏa thuận, nếu không có sự thỏa thuận này thì sẽ áp dụng luật của nước nơi động sản được chuyển đến. Do đặc điểm tài sản đang trên đường vận chuyển là động sản di dời, vận chuyển nên các quyền khác đối với tài sản ở đây được hiểu chỉ bao gồm quyền hưởng dụng[7]. Ngoại lệ này được cho là cần thiết vì đối với tài sản đang trên đường vận chuyển thì không thể xác định được tài sản đang ở đâu (ví dụ như khi tài sản đang đi qua vùng biển cả, vùng không phận quốc tế), nếu có xác định được thì nơi có tài sản chỉ là nơi ngẫu nhiên, nhất thời có sự tồn tại đó, hoàn toàn không phản ánh được mối liên hệ mật thiết giữa tài sản và nơi tài sản đang đi qua đó. Nhưng việc áp dụng hệ thuộc luật thỏa thuận và hệ thuộc luật nước nơi tài sản chuyển đến có thực sự hợp lý hay không?

Về hệ thuộc luật thỏa thuận: Có một điều chắc chắn rằng, mọi quan hệ pháp luật đều xoay quanh các thể nhân, pháp nhân - những chủ thể ngang quyền và bình đẳng với nhau. Nhưng không có nghĩa là trong mọi quan hệ pháp luật đó việc thương lượng, thỏa thuận nói chung, việc thỏa thuận về luật áp dụng nói riêng giữa các bên đều được ưu tiên[8]. Bởi lẽ, nếu quan niệm như vậy thì mọi quan hệ do tư pháp quốc tế điều chỉnh cũng đều phải ưu tiên sự thỏa thuận của các bên, cả trong vấn đề lựa chọn luật áp dụng? Thực tế thì chỉ một số quan hệ đặc thù mới có áp dụng hệ thuộc luật do các bên lựa chọn, nên giải thích này chưa thuyết phục.

Nhưng vấn đề quan trọng hơn là QSH và quyền khác đối với tài sản về bản chất không phải là quan hệ giữa các cá nhân, pháp nhân với nhau mà về bản chất đó là quan hệ giữa chủ thể có quyền và tài sản. Có nghĩa là QSH và cả quyền khác đối với tài sản là quan hệ đối vật (in rem), chứ không phải là quan hệ đối nhân (in personam) và quyền đối với tài sản, trong đó bao gồm cả QSH sẽ “theo quy định của luật”[9] chứ không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Trên thế giới hiện nay tồn tại một nguyên tắc là nguyên tắc vật quyền pháp định. Có nghĩa là các quan hệ vật quyền (QSH và quyền khác đối với tài sản) sẽ do pháp luật quy định mà các bên không được tự do thỏa thuận về nội dung các quyền đó[10]. Sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự (ví dụ hợp đồng, thừa kế) được coi là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và là cơ sở làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt QSH, quyền khác đối với tài sản chứ không thể quy định toàn bộ nội dung vấn đề QSH. Ví dụ, A công dân Hoa Kỳ tặng cho B công dân Việt Nam hai khẩu súng lục và một băng đạn. Trong trường hợp này quan hệ hợp đồng tặng cho tài sản là quan hệ đối nhân sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ hợp đồng giữa A và B. Nhưng rõ ràng sự thỏa thuận này không quyết định được việc B có được xác lập, thực hiện QSH với hai khẩu súng và băng đạn ở Việt Nam hay không, không quyết định được vấn đề bảo vệ QSH, giới hạn QSH, phân loại vật chính, vật phụ… Từ bản chất đối vật như vậy nên sự “thỏa thuận” được quy định ở khoản 2 Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015 là hết sức bất hợp lý vì không biết sự thỏa thuận này là thỏa thuận của ai với ai?

Phải chăng đang có sự nhầm lẫn giữa bản thân quan hệ liên quan đến QSH với các quan hệ khác phát sinh trong quá trình vận chuyển tài sản như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi tài sản bị thất thoát, hư hỏng giữa bên bán, bên mua, bên vận chuyển; hay quan hệ giữa các bên trong hợp đồng… Ví dụ: Công ty X của Việt Nam ký hợp đồng bán một lô hàng cho Công ty Y của Anh. Khi hàng chuyển đến Ấn Độ thì bị chủ tàu vận chuyển T (Singapore) tự ý bán lại cho Công ty Z của Ấn Độ. Nếu Y kiện X tại Tòa án Việt Nam vì đã hết thời hạn chuyển giao hàng trong hợp đồng mà chưa nhận được hàng thì đây rõ ràng là quan hệ hợp đồng. Nhưng nếu Y kiện T và Z tại Tòa án Việt Nam để xác định QSH với lô hàng đã bị T bán thì đây chỉ là quan hệ về QSH. Lô hàng đó thuộc sở hữu của Y hay Z, hợp đồng của X và Y hay hợp đồng của T và Z có là căn cứ phát sinh QSH hay không, QSH phát sinh từ thời điểm nào, có hiệu lực đối kháng ra sao… phải căn cứ vào một hệ thống pháp luật nhất định. Y muốn khẳng định QSH của mình với lô hàng, chứ không phải tranh chấp về hợp đồng hoặc tranh chấp bồi thường thiệt hại. Khi đó, quan hệ về QSH không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của Y với T, Z (vì nếu thỏa thuận được thì đã xác lập một hợp đồng mới và không có tranh chấp về QSH) nên cũng không nên có sự thỏa thuận về luật áp dụng ở đây. Khảo sát quy định về QSH và các quyền khác đối với tài sản (vật quyền) tại tư pháp quốc tế của một số nước ngoại trừ Trung Quốc (Điều 38)[11] thì Thuỵ Sĩ (Điều 101), Hàn Quốc (Điều 22), Ba Lan (Điều 43), Thái Lan (Điều 16, 17)… đều không ghi nhận sự thỏa thuận về luật áp dụng đối với tài sản đang trên đường vận chuyển[12].

Về hệ thuộc luật nước nơi tài sản được chuyển đến: Thực tế đây là hệ thuộc luật được quy định trong tư pháp quốc tế của khá nhiều nước. Ví dụ: Điều 101 PILA Thụy Sĩ, Điều 38 PILA Trung Quốc, Điều 22 PILA Hàn Quốc. PILA Nhật Bản không quy định về luật áp dụng đối với tài sản đang trên đường vận chuyển, nhưng trong Bản án ngày 29/10/2002 Tòa án tối cao Nhật Bản liên quan đến xe ô tô, Tòa án đã quyết định với ô tô được sử dụng để di chuyển trên một phạm vi rộng, vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì áp dụng luật nước gốc sử dụng xe và một loại không nằm trong diện đó thì vẫn áp dụng luật nơi đang có xe[13]. Nhưng cũng có một số nước áp dụng luật nước nơi chuyển đi (Điều 43 PILA Ba Lan, Điều 70 khoản 3 PILA Séc) hoặc luật quốc tịch người bán với hàng hóa xuất khẩu (Điều 16 PILA Thái Lan). Có ý kiến cho rằng, do Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới đang là một nước nhập siêu nên lượng hàng hóa vào Việt Nam nhiều hơn hàng hóa chuyển đi và việc lựa chọn hệ thuộc luật nơi có tài sản được chuyển đến sẽ giúp tăng thêm khả năng áp dụng pháp luật Việt Nam[14]. Nhưng theo số liệu từ Tổng cục Hải quan thì Việt Nam đã xuất siêu liên tục từ năm 2012 đến nay[15] và rất nhiều nước như Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Trung Quốc đều là những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hàng hóa nhưng lại quy định luật nước nơi được chuyển đến. Do đó, ý kiến vì Việt Nam là nước nhập siêu nên quy định như vậy để mở rộng khả năng áp dụng của pháp luật Việt Nam là chưa thuyết phục.

Thậm chí, các quan hệ về QSH, quyền khác liên quan đến động sản đang trên đường vận chuyển thường phát sinh trong quá trình vận chuyển động sản đó, tức là chưa tới được nước nơi chuyển đến. Vậy rõ ràng là nước nơi chuyển đến không hề có mối liên hệ nào với động sản, từ đó làm cho việc áp dụng luật nước nơi chuyển đến thiếu đi tính chất quan trọng nhất là cần phải có mối quan hệ mật thiết với quan hệ pháp lý phát sinh. Thêm nữa, cũng có những trường hợp động sản được chuyển đến nhiều nước (ví dụ như trả hàng cho nhiều nước hoặc chở hàng đi triển lãm tại nhiều nước) thì cũng không thể xác định được nước nào mới là nước nơi động sản được chuyển đến. Khi đó, nước nơi chuyển đi có thể sẽ trở thành nơi có mối quan hệ mật thiết hơn đối với tài sản. Bởi lẽ nước nơi chuyển đi là nước nơi tài sản đã tồn tại, nơi diễn ra các sự kiện làm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền đối với tài sản đó (có thể là nơi ký kết hợp đồng, nơi để lại di sản hoặc ít nhất chắc chắn đó là nơi diễn ra hoặc bắt đầu diễn ra quá trình chuyển giao tài sản về thực tế). Luật nước nơi tài sản được chuyển đi là cách tiếp cận mà PILA Ba Lan và PILA Séc đang áp dụng.

Do đó, theo quan điểm của tác giả, khoản 2 Điều 678 nên được quy định theo hướng: QSH và các quyền khác đối với động sản đang trên đường vận chuyển được xác định theo “pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đi”, trừ trường hợp các bên liên quan “chứng minh được pháp luật của nước khác có mối liên hệ mật thiết hơn với động sản đó”. Cách xác định này chính là quy định của tư pháp quốc tế Ba Lan mà theo tác giả là rất đáng học hỏi. Bởi lẽ, nó vừa tạo được sự hợp lý trong mối liên hệ giữa luật nước nơi chuyển đi và động sản đang trên đường vận chuyển, nhưng vẫn tạo ra sự linh hoạt trong những trường hợp có thể chứng minh pháp luật nước khác nơi có mối quan hệ mật thiết hơn.

2.2. Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tàu bay, tàu biển

Ngoài ngoại lệ liên quan đến tài sản đang trên đường vận chuyển, pháp luật Việt Nam hiện hành còn quy định riêng về pháp luật áp dụng với QSH và quyền khác đối với tàu bay, tàu biển. Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định rõ ngoại lệ này tại khoản 4 Điều 766. Nhưng quy định này đã được lược bỏ, không cần nhắc lại hay dẫn chiếu thêm trong Bộ luật Dân sự năm 2015 vì đã điều chỉnh tại văn bản pháp luật chuyên ngành. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hàng hải năm 2015 thì: “Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến QSH tài sản trên tàu biển (...) các vụ việc xảy ra trên tàu biển khi tàu đang ở vùng biển quốc tế thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch”; khoản 1 Điều 4 Luật Hàng không dân dụng năm 2006 (sửa đổi năm 2014) quy định: “Pháp luật của quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay được áp dụng đối với quan hệ xã hội phát sinh trong tàu bay đang bay và áp dụng để xác định các quyền đối với tàu bay”. Như vậy, đối với QSH tài sản trên tàu biển sẽ theo pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch, còn QSH và quyền khác đối với tàu bay cũng như quan hệ về QSH phát sinh trong tàu bay sẽ theo pháp luật của quốc gia nơi đăng ký tàu bay. Sự cắt bỏ này được đánh giá là điều hợp lý “vừa không trùng lặp, vừa đảm bảo sự thống nhất trong toàn bộ bộ luật và vì vậy sự cắt bỏ này hoàn toàn không ảnh hưởng đến việc điều chỉnh quan hệ phát sinh”[16].

Nhưng trong các quy định của Bộ luật Hàng hải và Luật Hàng không dân dụng chúng ta vẫn có thể nhận thấy một số vấn đề chưa rõ ràng trong các quy định của pháp luật Việt Nam. Thứ nhất, đó là QSH và các quyền khác đối với bản thân tàu biển không được đề cập riêng trong Bộ luật Hàng hải. Nếu Luật Hàng không dân dụng quy định rất rõ về “các quyền đối với tàu bay” thì Bộ luật Hàng hải chỉ quy định về “QSH tài sản trên tàu biển”. Vậy QSH với bản thân tàu biển sẽ theo nguyên tắc chung được quy định trong Bộ luật Dân sự là luật nơi có tài sản hay theo thông lệ áp dụng luật nơi tàu biển mang cờ? Thứ hai, đó là vấn đề liên quan đến “QSH tài sản trên tàu biển”. Theo quy định của Luật Hàng không dân dụng thì chỉ đặt ra ngoại lệ với “các quyền đối với tàu bay” còn QSH tài sản, hàng hóa đang trên đường vận chuyển bằng tàu bay không được quy định riêng nên có thể hiểu sẽ áp dụng khoản 2 Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định. Nhưng theo quy định của Bộ luật Hàng hải thì luật áp dụng với QSH tài sản trên tàu biển sẽ theo luật của nước mà tàu biển mang cờ. Ngoài các tài sản cố định gắn liền với tàu biển thì các tài sản trên tàu biển thông thường sẽ là hàng hóa đang trên đường vận chuyển. Như vậy, phải chăng Bộ luật Hàng hải lại đặt ra thêm một ngoại lệ của ngoại lệ về hàng hóa đang trên đường vận chuyển quy định tại khoản 2 Điều 678 Bộ luật Dân sự 2015? Nếu thực sự đây là chủ ý của nhà làm luật thì tại sao chỉ hàng hóa đang trên đường vận chuyển bằng tàu biển lại không áp dụng khoản 2 Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015? So với tài sản (hàng hóa) đang trên đường vận chuyển bằng đường hàng không (máy bay), bằng đường bộ (tàu hỏa, ô tô) thì rất khó tìm ra đặc điểm riêng biệt của “tài sản trên tàu biển” để buộc phải đưa ra một quy định riêng cho tài sản trên tàu biển như quy định hiện nay.

Do đó, theo quan điểm của tác giả, Bộ luật Hàng hải nên thiết kế lại quy định về luật áp dụng với QSH tàu biển, QSH với tài sản trên tàu biển tương tự như Luật Hàng không dân dụng. Nghĩa là bổ sung quy định về luật áp dụng cho QSH đối với bản thân tàu biển theo hướng quy định rõ ràng việc áp dụng luật nơi tàu biển mang cờ; còn với “tài sản trên tàu biển” thì không nên quy định riêng mà nên áp dụng thống nhất khoản 2 Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Như vậy, so với Điều 766 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có nhiều điểm mới đáng lưu ý. Việc xây dựng các quy định này được tiến hành trên cơ sở những so sánh rất kỹ lưỡng và tiếp thu kinh nghiệm về tư pháp quốc tế của các nước trên thế giới. Nhưng tác giả nhận thấy còn nhiều điều cần phải có những điều chỉnh trong bản thân quy định của Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015, cũng như các quy định khác tại Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng để đảm bảo quy định được chính xác, rõ ràng và có tính hệ thống hơn. Hơn thế nữa, có một điều cần lưu ý rằng, Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015 dường như mới chỉ tập trung vào các loại tài sản (vật) hữu hình. Do đó, để điều chỉnh triệt để vấn đề QSH và quyền khác đối với tài sản cũng cần có các nghiên cứu toàn diện hơn liên quan đến luật áp dụng cho các loại tài sản vô hình, quyền tài sản, tài sản ảo. Việc này cũng chính là nhằm đảm bảo điều chỉnh hiệu quả các mối quan hệ trong nền kinh tế thị trường ngày càng hội nhập và đón đầu cuộc cách mạng công nghệ trong tương lai.

Nguyễn Đức Việt

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1].Bộ luật Dân sự Đức xem tại: https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.pdf.

Xem thêm: Nguyễn Thị Hanh, “Một số vấn đề về cấu trúc, vật quyền, trái quyền trong Bộ luật Dân sự Đức mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005”, tại: https://thongtinphapluatdansu.com/2012/05/31/31-5-2012/ truy cập ngày 13/2/2017.

[2]. Xem Luật về tài sản năm 2007 của Trung Quốc tại: http://www.npc.gov.cn/englishnpc/Law/2009-02/20/content_1471118.htm, truy cập ngày 13/02/2017.

[3]. Xem thêm: Nguyễn Nhật Vũ, Thuật ngữ “Vật quyền” trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), tại: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1855, truy cập ngày 13/02/2017.

[4]. Kanzaki Tadashi, Hayakawa Yoshihisa, Motonaga Kazuhiko (Chủ biên), Tư pháp quốc tế (Tái bản lần 2), Nxb.Yuhikaku, Tokyo (2009), tr. 202.

[5]. Yamaguchi Ryoichi, Tư pháp quốc tế (Tái bản lần 3), Nxb. Yuhikaku, Tokyo (2004), tr. 292.

[6]. PILA Nhật Bản Điều 13, PILA Hàn Quốc Điều 19, PILA Séc Điều 69, PILA Trung Quốc Điều 36 - Điều 40…

[7]. Đỗ Văn Đại (Chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, thành phố Hồ Chí Minh (2016), tr. 613.

[8]. Có quan điểm khác lý giải khoản 2 Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015 xuất phát từ sự bình đẳng, thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ sở hữu nói riêng, quan hệ dân sự nói chung. Xem thêm: Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Vũ Thị Phương Lan, Phần thứ năm Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội (2017), tr. 1067.

[9]. Điều 158, Điều 160 Bộ luật Dân sự năm 2015 đều nhấn mạnh khía cạnh phải “theo quy định của luật” khi nói đến QSH, quyền khác đối với tài sản.

[10]. Về nguyên tắc vật quyền pháp định (Numerus Clausus), xem thêm: Thomas W. Merrill, Henry E. Smith, Optimal Standardization in the Law of Property: The Numerus Clausus Principle, Yale Law Journal, Vol.110. No.1 (2000), xem tại: http://www.yalelawjournal.org/pdf/450_gnotg4rq.pdf (truy cập ngày 04/4/2017); Yun-chien Chang, Henry E. Smith, The Numerus Clausus Principle, Property Customs, and the Emergence of New Property Forms, Iowa Law Review, Vol. 100 (2015), xem tại: https://ilr.law.uiowa.edu/assets/Uploads/ILR-100-6-Chang-Smith.pdf (truy cập ngày 04/4/2017).

[11]. Ngay cả ở Trung Quốc cũng có ý kiến chỉ ra sự bất cập của quy định này khi cho rằng tranh chấp liên quan đến động sản có tính chất QSH thì sẽ được điều chỉnh bởi quy tắc trong Điều 37, Điều 38 Luật về luật áp dụng với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; còn tranh chấp liên quan đến động sản có tính chất hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật áp dụng đối với hợp đồng. Vậy điều gì sẽ xảy ra khi tranh chấp liên quan đến động sản có cả hai tính chất này. (Guangjian Tu, “Private International Law in China”, Springer Science Business Media, Singapore 2016, p.63). Rõ ràng là đang có sự lúng túng khi không xác định rõ phạm vi, tính chất của quan hệ vật quyền sẽ dẫn đến tình huống này.

[12]. Riêng Điều 104 Tư pháp quốc tế Thụy Sĩ quy định: “Các bên có thể lựa chọn luật áp dụng cho việc được lợi hoặc tổn thất lợi ích với động sản là luật của nước của người vận chuyển hoặc luật của nước được chuyển đến hoặc luật áp dụng với quan hệ pháp lý cơ bản”. Nhưng quy định này chỉ tập trung vào hai nội dung là việc được lợi hoặc bị tổn thất với động sản đang trên đường vận chuyển, chứ không nói chung như Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam. Mà việc được lợi hoặc tổn thất đó có thể quy về hai quan hệ đối nhân (in personam) là được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chứ bản chất không phải là quan hệ đối vật (in rem). Vì đó là quan hệ đối nhân nên sẽ có một bên được lợi, một bên bị tổn thất, một bên gây thiệt hại, một bên bị thiệt hại nên sự thỏa thuận là có lý và có thể xảy ra. Tuy nhiên sự thỏa thuận này không được xâm phạm lợi ích của người thứ ba (khoản 2 Điều 104).

[13]. Harada Hisashi, “Báo cáo về việc xem xét lại luật áp dụng với vật quyền - Trọng tâm xem xét Bản án ngày 29/10/2002 Tòa án tối cao Nhật Bản”, Tạp chí Luật Đại học Chiba (2013), Quyển 27, số 4, tr. 344 - 400.

[14]. Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Vũ Thị Phương Lan, Phần thứ năm Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tr. 1068.

[15]. Tổng cục Hải quan, Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2016, xem tại: https://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1038&Category= Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20k%E1%BB%B3&Group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch, truy cập ngày 15/2/2017.

[16]. Xem thêm: Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Vũ Thị Phương Lan, Phần thứ năm Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tr. 1068.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: