Thứ ba 28/07/2026 05:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh từ thực tiễn kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích tầm quan trọng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh từ thực tiễn công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời dự báo những nội dung cần giải thích trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích tầm quan trọng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh từ thực tiễn công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời dự báo những nội dung cần giải thích trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

Abstract: In this article, the author analyzes the importance and need for interpretation of the Constitution, laws, ordinances from the practice of examining legal documents, and at the same time predicts the contents that need to be explained in the Constitution, law, ordinances.

1. Công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

Hiện nay, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) được thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này, trong đó, tập trung tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP[1] ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP).

Theo đó, “kiểm tra văn bản là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản QPPL được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật” (khoản 4 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP).

Như vậy, đối tượng của hoạt động kiểm tra văn bản là các văn bản QPPL do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản từ cấp bộ xuống đến cấp xã và văn bản có chứa QPPL nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản QPPL; văn bản có chứa QPPL hoặc có thể thức như văn bản QPPL nhưng do cơ quan, người không có thẩm quyền ban hành (khoản 1 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP).

Mục tiêu của hoạt động kiểm tra văn bản là đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản QPPL được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật. Để thực hiện được mục tiêu này, cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản phải căn cứ vào quy định trong các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn gọi là căn cứ pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra (Điều 107 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP). Như vậy, trong quá trình kiểm tra văn bản, một trong những yêu cầu cốt lõi đối với người làm kiểm tra, ngoài việc xác định đúng nội dung văn bản được kiểm tra thì còn phải hiểu đúng về văn bản làm căn cứ pháp lý để kiểm tra, trong đó có Hiến pháp, luật và pháp lệnh.

Theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, một trong những yêu cầu của văn bản QPPL là văn bản đó phải bảo đảm tính minh bạch (Điều 5). Ngôn ngữ sử dụng phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu (Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Từ ngữ được sử dụng trong văn bản phải thể hiện chính xác nội dung cần truyền đạt, không làm phát sinh nhiều cách hiểu; trường hợp dùng nhiều từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa thì phải giải thích theo nghĩa được sử dụng trong văn bản (khoản 5 Điều 69 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP).

Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, theo đó, “giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội làm rõ tinh thần, nội dung của điều, khoản, điểm trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh để có nhận thức, thực hiện, áp dụng đúng, thống nhất pháp luật”.

Như vậy, từ mục đích, cơ sở pháp lý, đến nội dung, đối tượng kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, hoạt động kiểm tra văn bản QPPL đều hướng đến bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản QPPL. Trong quá trình kiểm tra văn bản, việc xác định chính xác, đầy đủ nội dung quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh (trên cơ sở quy định cụ thể và bằng giải thích) có giá trị rất lớn để xác định tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản được kiểm tra; cũng qua kiểm tra văn bản cho thấy những quy định nào của Hiến pháp, luật, pháp lệnh chưa rõ ràng, có thể có những cách hiểu khác nhau, cần phải giải thích để có cách hiểu thống nhất. Đây chính là điểm thể hiện mối quan hệ giữa kiểm tra văn bản QPPL với việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở nước ta hiện nay.

2. Nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp[2], trong 04 năm qua, trung bình hàng năm, thực hiện thẩm quyền kiểm tra văn bản được giao, Bộ Tư pháp đã tổ chức kiểm tra khoảng 5.000 văn bản của cả trung ương và địa phương, trong đó, trung bình mỗi năm phát hiện, kiến nghị xử lý khoảng gần 100 văn bản có nội dung trái pháp luật, qua đó, góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống pháp luật. Cũng chính thông qua quá trình kiểm tra văn bản, một số nội dung quy định trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh cần được hiểu rõ hơn, cụ thể hơn có thể được thực hiện thông qua việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Có thể kể đến những điển hình như sau:

2.1. Quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013

Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Có quan điểm cho rằng, với quy định này, cần giải thích cụ thể thế nào là “trường hợp cần thiết”, “lý do đạo đức xã hội”… Song, xem xét ở khía cạnh của người kiểm tra văn bản, quy định này cần phải được giải thích ở những khía cạnh sau:

Một là, Hiến pháp năm 2013 quy định “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật”, điều này được hiểu là chỉ có luật mới được quy định hạn chế quyền con người, quyền công dân. Tuy vậy, luật có được phép quy định hạn chế quyền con người, quyền công dân theo hướng định khung, sau đó, thực hiện việc ủy quyền lập pháp, Quốc hội giao cho cơ quan có thẩm quyền quy định hạn chế quyền con người, quyền công dân trong văn bản dưới luật không, hay trong mọi trường hợp, cứ hạn chế quyền con người, quyền công dân là phải được quy định trong luật? Nói cách khác, trong các văn bản dưới luật có được phép tồn tại các quy định “cấm” (đối với cá nhân) với nghĩa là quy định chi tiết các nội dung “cấm” đã được quy định trong luật không?

Hai là, Hiến pháp năm 2013 quy định “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật”, tuy vậy, trong hệ thống văn bản QPPL, có nghị định do Chính phủ ban hành để quy định “vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội” (Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật)[3] (trong đời sống pháp lý, văn bản này được gọi vắn tắt là “nghị định không đầu”). Như vậy, xét về hình thức, văn bản này không phải luật; xét về nội dung, nó được xem là “luật trong thời gian thí điểm”. Vậy, trong văn bản này, có được quy định những nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân không? Hiện nay đang tồn tại hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng, vì không phải là luật nên việc quy định nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân trong văn bản này là vi phạm khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013; quan điểm thứ hai cho rằng, vì đây là văn bản được ban hành sau khi có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, những vấn đề văn bản này điều chỉnh thuộc thẩm quyền của Quốc hội nên việc quy định nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân là phù hợp và cần thiết.

Ba là, cần hiểu như thế nào là quyền con người, quyền công dân bị hạn chế? Theo Từ điển Tiếng Việt[4], hạn chế là giữ lại, ngăn lại trong một giới hạn nhất định. Như vậy, bị hạn chế là bị giữ lại, ngăn lại trong một giới hạn nhất định. Trong trường hợp của khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 thì đó là quyền con người, quyền công dân bị giữ lại, ngăn lại trong một giới hạn nhất định.

Có quan điểm cho rằng, quy định này được xem là tương đương với quy định cấm cá nhân, tổ chức thực hiện việc gì đó[5]. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động kiểm tra văn bản cho thấy, không phải tất cả những quy định cấm đối với cá nhân đều là hạn chế quyền con người, quyền công dân. Chẳng hạn, tại một văn bản dưới luật về quản lý, sử dụng thông tin, có quy định cấm đối với các hành vi như: “Cố tình làm sai lệch thông tin, cung cấp thông tin sai lệch để trục lợi”; “tự ý lập, tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch thông tin, tài liệu”; chiếm đoạt, làm hỏng, mất tài liệu, mua bán, chuyển giao, tiêu hủy trái phép thông tin, tài liệu”… thì những quy định cấm này hoàn toàn không hạn chế quyền con người, quyền công dân. Như vậy, vấn đề ở đây là phải xác định được đâu là “quyền”, là giới hạn được phép thực hiện để xét thế nào là “bị hạn chế quyền” và đó chính là điểm mấu chốt để giải thích nội dung này trong quy định quyền con người, quyền công dân bị hạn chế tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013. Vấn đề này đã được khoa học pháp lý làm rõ.

Có thể nói, những vấn đề trao đổi trong nội dung này không phải vấn đề mới, cũng không có nhiều cách hiểu khác nhau, có nội dung đã được khoa học pháp lý làm rõ, song trong thực tế, đây lại là lý do để người, cơ quan đã ban hành văn bản dưới luật có quy định cấm (được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra xác định là trái với quy định tại khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013) có thể viện dẫn để nại ra mong khẳng định văn bản do mình ban hành bảo đảm tính hợp hiến mà người kiểm tra văn bản lại không có căn cứ đích xác để viện dẫn, khoa học pháp lý không phải là cơ sở pháp lý để kiểm tra văn bản. Vì vậy, đôi khi kết luận nội dung văn bản vi hiến bị cho là khiên cưỡng.

2.2. Quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 (hiện nay được ghi nhận tại khoản 3 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2020)

Khoản 3 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 quy định: “Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề quy định tại khoản 2 Điều này được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”. Qua quá trình kiểm tra văn bản QPPL, quy định này cần được làm rõ ở hai khía cạnh sau:

Một là, bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có được ban hành văn bản quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh trên cơ sở ủy quyền quy định chi tiết các điều kiện khung đã được quy định trong các văn bản luật, pháp lệnh, nghị định không? Đây là trường hợp tương tự như quy định nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân đã trình bày ở trên. Vấn đề này trong thực tiễn hiện nay tồn tại hai quan điểm:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, mọi điều kiện đã được quy định trong các văn bản của người có thẩm quyền; các quy định chi tiết được ban hành theo ủy quyền không đặt ra điều kiện mới. Chẳng hạn, khoản 1 Điều 19 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 quy định các điều kiện để cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận hoạt động giáo dục nghề nghiệp (điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp). Đồng thời, cũng tại Luật này, Quốc hội giao Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định cụ thể về điều kiện đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp (khoản 4 Điều 19). Thực hiện thẩm quyền được giao, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 25/2015/TT-BLĐTBXH ngày 13/7/2015 quy định về đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp và đình chỉ hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp (Thông tư số 25/2015/TT-BLĐTBXH), trong đó có quy định điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp. Điều 4 Thông tư này quy định về điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp gồm: Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo; diện tích phòng học lý thuyết, phòng thực hành; đội ngũ giáo viên; chương trình, giáo trình, học liệu đào tạo; nguồn lực tài chính… Nội dung tại Điều 4 Thông tư nêu trên là các điều kiện đầu tư kinh doanh. Tuy vậy, các điều kiện này được đánh giá là quy định chi tiết các điều kiện khung trong Luật Giáo dục nghề nghiệp và theo thẩm quyền do Quốc hội giao; Thông tư không đặt ra các điều kiện kinh doanh mới mà chỉ quy định cụ thể các điều kiện được giao trong Luật. Do vậy, Thông tư số 25/2015/TT-BLĐTBXH không trái Luật Đầu tư năm 2014.

- Quan điểm khác lại cho rằng, khoản 3 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định rõ: “Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”. Do vậy, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành văn bản quy định điều kiện đầu tư kinh doanh là vi phạm điều cấm của Luật, là trái Luật.

Hai là, khoản 3 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 chỉ cho phép các chủ thể gồm: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành văn bản quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh; đồng thời, cũng chỉ cấm các chủ thể: Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành văn bản quy định về vấn đề này. Vậy, Thủ tướng Chính phủ là chủ thể không cấm mà cũng không cho phép, phải chăng, quy định này được hiểu đây là chủ thể “dự bị”, sẽ được sử dụng trong trường hợp đặc biệt?

Từ phân tích trên cho thấy, đây là những vấn đề đã được luật quy định cụ thể nhưng khi áp dụng vào thực tế lại có những tình huống dẫn đến các cách hiểu khác nhau, trong khi đó, văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành lại chưa dự liệu được tình huống này, vì vậy, cần có sự giải thích để áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

3. Dự báo những nội dung cần giải thích trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh từ thực tiễn kiểm tra văn bản

Kết luận văn bản trái pháp luật, văn bản không bảo đảm tính hợp hiến là kết quả của quá trình xem xét, đánh giá nội dung văn bản được kiểm tra với văn bản làm căn cứ pháp lý để kiểm tra. Trong quá trình này, như đã phân tích và dẫn chứng ở trên, đòi hỏi người làm kiểm tra văn bản phải có căn cứ pháp lý vững chắc, rõ ràng để không bỏ lọt quy định trái, nhưng cũng không kết luận khiên cưỡng đối với bất kỳ quy định nào. Chính vì vậy, ngoài việc yêu cầu văn bản QPPL phải được quy định cụ thể, rõ ràng, nội dung cần hướng dẫn, quy định chi tiết phải được hướng dẫn, quy định chi tiết đầy đủ thì với thực tiễn công tác kiểm tra văn bản, tác giả dự báo trong thời gian tới cần có giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở những nội dung như sau:

Thứ nhất, những quy định đã rõ nhưng khi áp dụng vào thực tế (kể cả thực tế xây dựng văn bản QPPL và thực tế áp dụng pháp luật) lại có những phương thức tiếp cận khác nhau, gây ra các cách hiểu khác nhau mà ở đó, các bên có thể “tranh thủ”, vận dụng theo hướng có lợi cho mình (hậu quả là làm mất đi sự thống nhất của hệ thống pháp luật) mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại không có cơ sở chắc chắn để xử lý. Chẳng hạn, trong các ví dụ điển hình được phân tích ở phần 2 của bài viết này, rõ ràng “quyền”, “hạn chế quyền” là các khái niệm đã được làm rõ trong khoa học pháp lý hoặc quy định “chỉ được hạn chế bằng luật” là quy định rất rõ ràng, việc hình thành nên một cách hiểu khác là rất khiên cưỡng, tuy nhiên, trong tình thế cả hai bên đều không chắc chắn về lập luận của mình thì không tìm ra chân lý. Vì vậy, cần thiết phải có giải thích rõ ràng, cụ thể để minh bạch trong áp dụng.

Thứ hai, những quy định đã cụ thể nhưng khi áp dụng vào thực tế với tính chất sống động và đa chiều của nó có thể dẫn tới cách hiểu khác nhau và một trong các cách hiểu có thể dẫn tới hành vi vi phạm quy định pháp luật hoặc không xác định được hành vi vi phạm thì cần phải có giải thích cụ thể. Chẳng hạn như ví dụ điển hình thứ hai được phân tích trong phần 2 của bài viết này, liệu rằng luật có được quy định khung về điều kiện đầu tư kinh doanh để văn bản ở cấp thấp hơn quy định chi tiết các điều kiện đầu tư kinh doanh không?

Thứ ba, những quy định chưa cụ thể, nếu được giải thích thì sẽ rõ ràng và thống nhất khi áp dụng. Chẳng hạn, Luật Đất đai năm 2013 giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm quyền quy định diện tích tối thiểu để tách thửa đất[6] nhưng không xác định có hay không bao gồm diện tích được phân chia theo bản án, quyết định của Tòa án, trong khi đó lại quy định, người sử dụng đất theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, dẫn tới tình huống cho rằng, đất đai tại địa phương thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nên bản án, quyết định phân chia quyền sử dụng đất phải phù hợp với quy định của địa phương về diện tích tối thiểu tách thửa, nếu không phù hợp thì không thể được thi hành hoặc được thi hành nhưng sau phân chia quyền sử dụng đất thì không thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì không đủ điều kiện về diện tích tối thiểu theo quy định của địa phương. Đồng thời, có quan điểm khác cho rằng, Hiến pháp đã quy định, bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án phải được tôn trọng, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành[7], do đó, dù Tòa án có ra bản án, quyết định như thế nào khi phân chia quyền sử dụng đất thì bản án, quyết định đó vẫn được thi hành và người sử dụng đất theo bản án, quyết định đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phụ thuộc vào diện tích tối thiểu tách thửa mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã quy định. Hoặc trong trường hợp xuất hiện khoảng trống pháp lý khi Việt Nam gia nhập/tham gia vào các điều ước, thỏa thuận quốc tế mà ngay lập tức cần có giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh để việc áp dụng được thống nhất trên toàn quốc. Đây là tình huống ban hành Nghị quyết số 08/2021/NQ-UBTVQH15 ngày 26/11/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích khoản 1 Điều 289 của Bộ luật Hình sự.

Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh đem lại cách hiểu và áp dụng thống nhất quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh trong thực tiễn. Việc này không chỉ mang lại lợi ích đối với công tác kiểm tra văn bản mà nó còn là cơ sở để bảo đảm thúc đẩy, hỗ trợ các hoạt động kinh tế - xã hội vận hành, phát triển. Quá trình kiểm tra văn bản QPPL đã cho thấy nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh từ thực tiễn là tương đối lớn. Do vậy, trong thời gian tới, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, quan tâm thích đáng đến hoạt động này.

Nguyễn Thị Thu Hòe
Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp



[1]. Trước đây được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL, được quy định chi tiết thi hành tại Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11/2010 của Bộ Tư pháp. Trước năm 2010, thực hiện theo quy định tại Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL, được hướng dẫn thi hành tại Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004 của Bộ Tư pháp.

[2]. Các báo cáo của Bộ Tư pháp: Báo cáo số 100/BC-BTP ngày 24/4/2018 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2018; Báo cáo số 126/BC-BTP ngày 06/5/2019 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL năm 2018 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2019; Báo cáo số 98/BC-BTP ngày 29/4/2020 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2020; Báo cáo số 78/BC-BTP ngày 10/5/2021 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL năm 2020 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2021.

[3]. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 cũng có quy định này (Điều 14).

[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin.

[5]. Chẳng hạn, một số quy định tại Điều 12 Luật Đất đai năm 2013: “Những hành vi bị nghiêm cấm: 1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai. 2. Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố. 3. Không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích. 4. Không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất…”.

[6]. Khoản 4 Điều 144 Luật Đất đai năm 2013.

[7]. Điều 106 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: