Thứ ba 18/08/2026 09:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giám sát, phản biện xã hội của báo chí - truyền thông ở Việt Nam hiện nay

Bài viết phân tích vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí - truyền thông ở nước ta trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí - truyền thông trong quá trình kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng.


1. Nhìn ra nước ngoài

Vấn đề báo chí - truyền thông giám sát, phản biện xã hội trong mô hình Nhà nước pháp quyền tư sản theo cấu trúc tam quyền phân lập đã được nhìn nhận như một tất yếu của quyền và nghĩa vụ xã hội - pháp lý trên cơ sở quyền và nghĩa vụ công dân. Trong xã hội ấy, ngoài các nhánh quyền lực và các đảng phái chính trị kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau, báo chí - truyền thông trong mối quan hệ với dư luận xã hội được coi như quyền lực thứ tư[1], có khả năng kiểm soát cả ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Về bản chất, đó là thể chế hiện thực hóa quyền dân chủ của các thiết chế công dân mà báo chí chỉ là phương tiện và phương thức kết nối và thể hiện.

Mặc dù không có một công trình nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã nhấn mạnh vấn đề giám sát, phản biện xã hội trên tinh thần bàn đến tự do báo chí - truyền thông và phát huy vai trò của quần chúng nhân dân; khẳng định nhân dân là chủ thể sáng tạo, là động lực phát triển của lịch sử. C. Mác cũng đề cập đến mối quan hệ của báo chí với nhà cầm quyền: “Trong lĩnh vực báo chí, những người cai trị và những người bị cai trị có khả năng như nhau để phê bình những nguyên tắc và yêu cầu của nhau nhưng không phải trong khuôn khổ những quan hệ lệ thuộc, mà trên cơ sở ngang quyền với nhau, với tư cách là những công dân của Nhà nước - không phải với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, mà với tư cách là sức mạnh của trí tuệ, với tư cách là những người thể hiện những quan điểm hợp lý”[2]. Theo Lênin, hoạt động nghiên cứu chủ nghĩa Mác về giám sát, phản biện xã hội có vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước sau quá trình ủy quyền. Ông cho rằng: “Nếu buông lỏng kiểm kê, kiểm soát thì những người vô sản sẽ lại trở thành nô lệ; nếu không tiến hành kiểm kê, kiểm soát toàn diện đối với việc sản xuất và phân phối các sản phẩm thì chính quyền của người lao động, nền tự do của họ sẽ không thể nào duy trì được”[3]. Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giám sát, phản biện xã hội cho rằng đó là nhu cầu khách quan của bất kỳ hệ thống quyền lực hay thể chế nhà nước nào, bởi mỗi khi quyền lực không bị kiểm soát thì quyền lực sẽ bị lạm dụng và tha hóa, mà tha hóa quyền lực sẽ dẫn đến tha hóa chế độ xã hội và sụp đổ.

Tuy nhiên, đánh giá khách quan và khoa học, vấn đề giám sát và phản biện xã hội trong quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin chưa thực sự được quan tâm đúng mức trên cả hai phương diện nghiên cứu khoa học và nhất là áp dụng vào hoạt động thực tiễn. Vì vậy, trên thực tế, giám sát, phản biện xã hội nói chung, vấn đề báo chí giám sát, phản biện xã hội nói riêng ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và ở những nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay chưa được chú ý đúng tầm. Đây chính là một trong những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển hoàn thiện nó trong đời sống hiện thực.

2. Bản chất vấn đề báo chí giám sát, phản biện xã hội

2.1. Bản chất vấn đề báo chí giám sát, phản biện xã hội bắt nguồn từ vấn đề giám sát, phản biện xã hội; bởi vì, báo chí - truyền thông nói chung, chủ yếu là kênh kết nối và truyền dẫn, là phương tiện và phương thức giám sát, phản biện xã hội dựa trên cơ sở tiền đề môi trường pháp lý và quá trình giám sát, phản biện xã hội.

Theo các tác giả cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng” thì phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau[4]. Phản biện xã hội là hoạt động mang tính phổ quát của đời sống xã hội. Tính phổ quát của phê phán/phê bình xã hội được thể hiện qua cách thức mà cá nhân (chủ thể) bộc lộ trong mối quan hệ với các định chế, quy phạm cấu trúc xã hội. Về nguyên tắc, muốn thay đổi một trật tự thì chủ thể phải nhận ra các khuyết tật, yếu điểm của trật tự đó. Trước đòi hỏi ấy, phê bình/phê phán xuất hiện. Nhiệm vụ của phê bình/phê phán là đưa ra ánh sáng những quá trình, cơ chế gây nên hiện trạng “xơ cứng”, từ đó mở ra khả năng đổi mới hay tìm kiếm lối thoát, phát triển cho hiện trạng ấy.

Như vậy, phản biện xã hội với nghĩa rộng nhất của nó, xuất hiện rất sớm trong đời sống xã hội loài người. Khi cá nhân, cộng đồng người, một mặt phải chấp nhận hiện trạng, hòa nhập với nó, mặt khác luôn tìm cách vượt lên nó, hoàn thiện nó. Đó cũng chính là quy luật, đòi hỏi tất yếu của quá trình tiến hóa mang tính tự nhiên của xã hội loài người. Mối quan hệ đa chiều này phản ánh một trong những thuộc tính cơ bản nhất của con người (hiểu theo nghĩa rộng) là không ngừng suy tư, chất vấn, đấu tranh với mọi trở lực để ngày càng được tự do hơn, văn minh hơn, hoàn thiện hơn và xứng đáng với con người hơn - theo nghĩa cao quý nhất của danh từ này.

Thực chất của phê phán (phê bình) xã hội là mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Phản biện xã hội là trạng thái của quá trình nhận thức, đòi hỏi khách quan và có khả năng vượt qua hệ thống các giá trị đương thời, những kiểu mẫu có sẵn, mở ra các giá trị mới, tạo ra sự gia tăng và chuyển đổi tri thức vào quá trình vận động thực tiễn. Nhìn trên tổng thể, có thể chia phản biện xã hội thành hai loại hình hay cấp độ cơ bản:

Cấp độ thứ nhất, theo nghĩa rộng, phản biện xã hội hướng đến các cấu trúc, chế định hay thể chế, trạng thái hiện tồn của xã hội. Lĩnh vực này, nhiều tác giả đã gọi là “phản tư” của xã hội. Ở cấp độ này, mục đích phản biện xã hội là nhằm “sửa sang” thể chế, kiến tạo thể chế mới, thiết lập mô hình tổ chức xã hội mới đáp ứng nhu cầu phát triển[5]. Thể chế là vấn đề được coi như chìa khóa của sự phát triển xã hội đương đại.

Cấp độ thứ hai, theo nghĩa hẹp hơn, phản biện xã hội là sự phản biện từ phía nhân dân, các cộng đồng, các cá nhân và tổ chức xã hội đối với thể chế chính trị, thể chế nhà nước, các cơ cấu quyền lực mà trung tâm là Nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước, thực thi công vụ. Loại phản biện xã hội này, chủ yếu với mục đích nhằm vào các chính sách công được ban hành bởi các tổ chức trong hệ thống chính trị[6].

Trong khuôn khổ vấn đề đang xem xét, ở đây chỉ nói đến phản biện xã hội ở cấp độ thứ hai. Tức phản biện của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng xã hội đối với chính sách công với mục đích đồng thuận hay phản đối, hướng tới đồng thuận, hoàn thiện và tối ưu hóa nó trong thực tiễn.

Do vậy, có thể chú ý mấy vấn đề sau đây liên quan đến phản biện xã hội:

Một là, chủ thể phản biện xã hội là các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, các cộng đồng, các tầng lớp cư dân và các cá nhân... Đó là quá trình phản biện mang tính chất xã hội, thu hút đông đảo công dân và tổ chức tham gia. Nhưng nói đến chủ thể phản biện xã hội, thông thường trước hết phải nói đến vai trò trung tâm, nòng cốt của đội ngũ tri thức, tầng lớp tinh hoa trí tuệ của cộng đồng, của xã hội. Tiền đề của phản biện xã hội là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí đồng thời với quá trình thực hiện tính công khai và minh bạch hóa, bảo đảm quyền được biết, được thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin.

Hai là, đối tượng của phản biện xã hội là chính sách công do các chủ thể ban hành về chủ trương, chính sách, đề án, dự án, chương trình (gọi chung là chính sách công) có tác động xã hội lớn, liên quan đến quyền và lợi ích của cộng đồng nói chung hoặc của nhóm xã hội lớn. Trong kinh tế thị trường, nếu chính sách công không được phản biện xã hội làm việc triệt để, lợi ích nhóm dễ thao túng và lũng đoạn. Thực tế vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên) hay thay đổi quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm... đã minh chứng cho vấn đề này.

Ba là, mục đích của phản biện xã hội là nhằm bảo đảm cân bằng lợi ích, bảo đảm lợi ích công, thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ và cảm xúc của cộng đồng xã hội, của các tầng lớp nhân dân, các nhóm xã hội lớn và công dân nói chung... nhằm làm cho các chính sách công phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích của các nhóm đối tượng chịu sự tác động của chính sách công, góp phần bảo đảm hài hòa lợi ích công và phát triển bền vững. Ngạn ngữ Việt Nam có câu “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” là vậy. Đề án đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh và Đề án trục đường Hồ Tây - Ba Vì của Chính phủ lần đầu tiên bị kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII bác chính là kết quả phản biện xã hội qua báo chí - truyền thông, tạo áp lực từ dư luận xã hội.

Bốn là, phương thức phản biện xã hội là thể hiện tính công khai, minh bạch, tạo ra sự cộng hưởng và lan tỏa trong xã hội để mọi người cùng thống nhất nhận thức, nâng cao hiểu biết trên cơ sở cung cấp thông tin, kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm, qua đó mỗi công dân, nhóm xã hội lớn và cộng đồng dân cư mở mang hiểu biết, gia tăng tương đồng và giảm dần sự khác biệt, tạo đồng thuận xã hội về nhận thức, thái độ và hành vi xã hội trong hoạch định và thực thi chính sách công. Nếu phản biện xã hội được phát huy và được tiếp thu trong quy hoạch đô thị, vấn đề khu đô thị Thủ Thiêm đã không xảy ra khiếu kiện của hàng trăm hộ dân trong 10 năm nay, gây bức xúc dư luận xã hội.

Năm là, phản biện xã hội đòi hỏi bảo đảm tính khoa học - thực tiễn, tức là sự phản biện xuất phát trên cơ sở những luận điểm, luận cứ và luận chứng rõ ràng để soi chiếu vào vấn đề chính sách công và thực tiễn đang đặt ra trong mối quan hệ với lợi ích công. Quá trình phản biện xã hội qua báo chí - truyền thông về Đề án đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh và trục đường Hồ Tây - Ba Vì (như đã nêu trên) là dẫn chứng sinh động về các phản biện cung cấp cơ sở khoa học - thực tiễn để chỉ ra tính bất hợp lý, không bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của các đề án này; ngược lại, thậm chí đã chỉ ra manh nha lợi ích nhóm đang chi phối.

Sáu là, phản biện xã hội cần bảo đảm cơ sở chính trị - pháp lý. Quá trình phát triển nói chung cũng như các chính sách công của Việt Nam đều dựa trên cơ sở các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước. Do vậy, phản biện xã hội cần và nên xuất phát từ đây. Mặt khác, như trên đã đề cập, yêu cầu có tính nguyên tắc này đòi hỏi điều kiện tiên quyết là bảo đảm cơ sở pháp lý, về quyền tiếp cận thông tin[7], quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, bảo đảm quá trình dân chủ hóa và minh bạch hóa.

Như vậy, phản biện xã hội đòi hỏi tinh thần phê phán khoa học, tính chính trị - pháp lý với tinh thần, thái độ xây dựng của chủ thể phản biện xã hội, cũng như tinh thần cầu thị, khoa học trong tiếp thu phản biện của chủ thể ban hành chính sách công. Các biểu hiện công kích, hiềm khích, chia rẽ, hoặc thờ ơ, coi thường, bỏ qua... trái với tinh thần, thái độ và mục đích nêu trên đều không phù hợp với yêu cầu có tính nguyên tắc của phản biện xã hội. Nói cách khác, phản biện xã hội nhằm tạo đồng thuận xã hội, chia sẻ quan điểm, cung cấp thông tin và mở mang hiểu biết lẫn nhau (từ chủ thể chính sách công và cộng đồng) nhằm gia tăng những tương đồng và giảm dần sự khác biệt giữa các ý kiến và các luồng ý kiến tham gia phản biện xã hội vì mục tiêu phát triển bền vững, vì lợi ích công.

Từ cách hiểu trên đây, có thể hiểu rằng, phản biện xã hội là hoạt động bày tỏ ý kiến, chính kiến, đánh giá, nhận xét, bình luận, phê phán, tranh luận, thảo luận, thẩm định... của xã hội, thông qua các tổ chức và cá nhân… đối với quá trình ban hành và thực thi các chính sách công nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ và cảm xúc của xã hội, làm cho các chính sách công phản ánh đúng quy luật khách quan, bảo đảm lợi ích công và mong đợi của các nhóm đối tượng chịu sự tác động của chính sách công, bảo đảm hài hòa lợi ích và phát triển bền vững.

Báo chí phản biện xã hội, xét cho cùng, chủ yếu là phản biện chính sách công, bảo đảm cho chính sách công được thiết kế vì lợi ích công. Đất nước, thể chế chính trị chỉ có thể phát triển bền vững khi mọi chính sách công đều vì lợi ích công, vì cộng đồng và nhân dân, trước hết là nhóm chịu tác động chính sách công. Do đó, báo chí - truyền thông trong môi trường truyền thông số, trước hết cần phải kết nối và huy động nguồn lực - trí tuệ xã hội và cảm xúc của nhân dân, động viên, khích lệ năng lực sáng tạo của mỗi công dân trong việc tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách công nói chung. Phản biện xã hội của báo chí - truyền thông về dự án thu thuế tài sản của Bộ Tài chính vừa rồi là ví dụ. Dư luận cho rằng, thu thuế tài sản là đúng và cần, nhưng có nên là thời điểm này và có nên quy định mức khởi điểm nhà giá trị trên 700 triệu đồng trong khi ô tô lại trên 1,5 tỷ?

2.2. Khi chính sách công được ban hành, quá trình thực thi lại là câu chuyện không đơn giản trước các “nhóm lợi ích đen”. Vậy nên, báo chí - truyền thông không chỉ giám sát quá trình ban hành, mà quan trọng không kém là giám sát xã hội quá trình thực thi chính sách công.

Để góp phần nhận thức thêm vấn đề giám sát xã hội có thể nêu ra mấy điểm nhận diện quá trình này như sau:

- Nếu giám sát xã hội là hoạt động của chủ thể (gọi là chủ thể giám sát) biểu hiện qua theo dõi, quan sát, xem xét, phê phán về hoạt động của khách thể chịu sự giám sát, thì trong giám sát xã hội, chủ thể ấy là lực lượng xã hội - tổ chức hoặc công dân. Ở đây, chủ thể giám sát xã hội có thể là tổ chức hoặc cá nhân theo địa vị pháp lý. Khách thể chịu sự giám sát xã hội chủ yếu là tổ chức, cá nhân thực thi công vụ. Đối tượng giám sát xã hội chủ yếu là quá trình ban hành và thực thi chính sách công, thực thi công vụ.

- Mục đích của giám sát xã hội là bảo đảm chuẩn mực chính trị, pháp lý và đạo đức, vì lợi ích công; là kiểm tra, theo dõi, hoạt động của khách thể chịu sự giám sát có đúng với những quy định, chuẩn mực, mục đích đã đặt ra (theo thỏa thuận, theo cơ sở pháp luật) hay không để có những biện pháp can thiệp kịp thời và hướng hoạt động của khách thể đi đúng hướng, vì lợi ích xã hội.

- Giám sát xã hội mang tính độc lập, tức là chủ thể thực hiện giám sát xã hội độc lập với khách thể chịu sự giám sát xã hội. Đây là thuộc tính bản chất của giám sát xã hội mà nếu thiếu nó, hoạt động giám sát xã hội không còn ý nghĩa tích cực, đã bị biến thái, hình thức và thậm chí bị tha hóa.

- Chủ thể giám sát xã hội cần phải có kiến thức chuyên môn và pháp luật, hiểu biết về hoạt động (của đối tượng chịu sự giám sát) của khách thể giám sát xã hội. Vậy nên, chất lượng giám sát xã hội phụ thuộc vào trình độ văn hóa, nhất là kiến thức pháp luật của cộng đồng và môi trường pháp lý.

- Khác với phản biện xã hội chủ yếu ở thời điểm khởi thảo, ban hành chính sách công, giám sát xã hội là quá trình liên tục, được thực thi bởi các lực lượng xã hội, các cá nhân có lợi ích liên quan, bảo đảm lợi ích công, vì cộng đồng và sự phát triển bền vững. Giám sát xã hội là quá trình diễn ra mọi nơi, mọi lúc như “tai vách, mạch rừng”.

Báo chí - truyền thông thực thi giám sát xã hội, trước hết cần thực hiện tốt chức năng bản chất của mình là phương tiện và phương thức thông tin - giao tiếp trong quá trình công khai, minh bạch hóa các vấn đề và quan hệ xã hội; là phương tiện và phương thức kết nối xã hội, kết nối sức mạnh mềm, khơi dậy cảm xúc cộng đồng để tạo sức mạnh xã hội cho quá trình giám sát xã hội; là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra, bằng cách vừa cung cấp thông tin, kiến thức (văn hóa và pháp luật), vừa tạo diễn đàn chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm cho công chúng hướng vào những vấn đề trọng tâm, các chính sách công trong quá trình phát triển. Cần nhận thức rõ hơn, báo chí không chỉ là công cụ tuyên truyền, mà còn là thiết chế xã hội kiến tạo, thực hiện chức năng kết nối xã hội, tham gia giám sát, phản biện xã hội giúp Đảng và Nhà nước lãnh đạo và kiểm soát quyền lực.

3. Một số đề xuất

Thứ nhất, tinh giản bộ máy Đảng và Nhà nước (cả đầu mối công việc và số lượng nhân sự), không chỉ để tiết kiệm chi trong bối cảnh khó khăn tài chính, mà quan trọng là để nhìn rõ “các địa chỉ trách nhiệm”, tránh tình trạng “chỉ thấy rừng mà khó thấy cây”. Vấn đề và giải pháp này không đơn giản, nhưng muốn tồn tại và phát triển thì phải đổi mới. Ví dụ như Singapore, họ làm được kỳ tích đưa quốc đảo này từ một làng chài nghèo, đến nước ngọt cũng phải đi mua thành nước phát triển với môi trường tự nhiên và xã hội an lành... được thế giới ngưỡng mộ, nguyên nhân chính là xây dựng được bộ máy gọn nhẹ và chống lạm dụng quyền lực và tham nhũng, tiêu cực.

Thứ hai, thật sự tin dân và dựa vào dân để làm trong sạch bộ máy, làm lành mạnh hóa các quan hệ; cần tiếp tục phát huy dân chủ, thực hiện công khai và minh bạch từ công tác tổ chức cán bộ đến vấn đề chính sách công. Ban Bí thư Trung ương đã ban hành văn bản công khai hóa kê khai tài sản công chức rất được nhân dân đồng tình ủng hộ. Phải tìm mọi cách phá bỏ rào cản cản trở quá trình “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, cùng với đó, phát huy tối đa vai trò báo chí - truyền thông như phương tiện và phương thức kết nối và truyền dẫn quá trình công khai, minh bạch và dân chủ hóa đời sống xã hội. Cần coi báo chí - truyền thông không chỉ là công cụ tuyên truyền của tổ chức, mà hơn thế nữa, nó là thiết chế xã hội kiến tạo. Báo chí là kênh thông tin - giao tiếp, kênh kết nối trí tuệ và cảm xúc, lan tỏa rộng rãi nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất tới mọi công dân và nhóm xã hội, nhờ thế sẽ giúp Đảng, giúp dân làm công việc kết nối giám sát, phản biện xã hội hiệu quả nhất.

Thứ ba, xây dựng và làm trong sạch chính thiết chế báo chí như một thiết chế xã hội kiến tạo, để báo chí thật sự là phương tiện và phương thức giám sát, phản biện xã hội giúp Đảng, Nhà nước kiểm soát quyền lực cũng như thiết kế, thực thi chính sách công. Theo đó, rà soát lại phương án quy hoạch báo chí theo hướng phát huy nguồn sức mạnh tinh thần, trí tuệ và cảm xúc của công chúng và nhân dân, theo Luật Báo chí và Luật Tiếp cận thông tin...; rà soát đội ngũ làm báo để bảo đảm rằng những người làm báo có đủ tâm đức, có trình độ chuyên môn và bản lĩnh hành nghề. Bên cạnh đó, hoạt động báo chí cần phải đi vào thực chất, vừa thông tin – tuyên truyền, vừa phản ánh trung thực tình hình đang diễn ra, vừa là phương tiện và phương thức giám sát, phản biện xã hội giúp Đảng và Nhà nước kiểm soát quyền lực và làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào phát triển bền vững trong môi trường truyền thông số và hội nhập toàn cầu.

PGS.TS. Nguyễn Văn Dững

Học viện Báo chí và Tuyên truyền







[1]. Xem thêm: Quyền lực thứ tư - Bản chất và cách ứng xử, Tạp chí Người làm báo Việt Nam, số tháng 12/2012.

[2]. Sđd, tr. 290.

[3]. V.I. Lênin: Toàn tập, T6, tr. 224.

[4]. Ngô Văn Du - Hồng Hà - Trần Xuân Giá (đồng chủ biên) (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 182.

[5]. Xem thêm cuốn Tại sao các quốc gia thất bại của 02 tác giả: Daron Acemoglu và James A.Robinson.

[6]. Theo cách hiểu của Việt Nam hiện nay.

[7]. Theo tinh thần Luật Tiếp cận thông tin, có hiệu lực từ 01/7/ 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: