Thứ tư 11/03/2026 17:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giám sát, phản biện xã hội của báo chí - truyền thông ở Việt Nam hiện nay

Bài viết phân tích vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí - truyền thông ở nước ta trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí - truyền thông trong quá trình kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng.


1. Nhìn ra nước ngoài

Vấn đề báo chí - truyền thông giám sát, phản biện xã hội trong mô hình Nhà nước pháp quyền tư sản theo cấu trúc tam quyền phân lập đã được nhìn nhận như một tất yếu của quyền và nghĩa vụ xã hội - pháp lý trên cơ sở quyền và nghĩa vụ công dân. Trong xã hội ấy, ngoài các nhánh quyền lực và các đảng phái chính trị kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau, báo chí - truyền thông trong mối quan hệ với dư luận xã hội được coi như quyền lực thứ tư[1], có khả năng kiểm soát cả ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Về bản chất, đó là thể chế hiện thực hóa quyền dân chủ của các thiết chế công dân mà báo chí chỉ là phương tiện và phương thức kết nối và thể hiện.

Mặc dù không có một công trình nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã nhấn mạnh vấn đề giám sát, phản biện xã hội trên tinh thần bàn đến tự do báo chí - truyền thông và phát huy vai trò của quần chúng nhân dân; khẳng định nhân dân là chủ thể sáng tạo, là động lực phát triển của lịch sử. C. Mác cũng đề cập đến mối quan hệ của báo chí với nhà cầm quyền: “Trong lĩnh vực báo chí, những người cai trị và những người bị cai trị có khả năng như nhau để phê bình những nguyên tắc và yêu cầu của nhau nhưng không phải trong khuôn khổ những quan hệ lệ thuộc, mà trên cơ sở ngang quyền với nhau, với tư cách là những công dân của Nhà nước - không phải với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, mà với tư cách là sức mạnh của trí tuệ, với tư cách là những người thể hiện những quan điểm hợp lý”[2]. Theo Lênin, hoạt động nghiên cứu chủ nghĩa Mác về giám sát, phản biện xã hội có vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước sau quá trình ủy quyền. Ông cho rằng: “Nếu buông lỏng kiểm kê, kiểm soát thì những người vô sản sẽ lại trở thành nô lệ; nếu không tiến hành kiểm kê, kiểm soát toàn diện đối với việc sản xuất và phân phối các sản phẩm thì chính quyền của người lao động, nền tự do của họ sẽ không thể nào duy trì được”[3]. Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giám sát, phản biện xã hội cho rằng đó là nhu cầu khách quan của bất kỳ hệ thống quyền lực hay thể chế nhà nước nào, bởi mỗi khi quyền lực không bị kiểm soát thì quyền lực sẽ bị lạm dụng và tha hóa, mà tha hóa quyền lực sẽ dẫn đến tha hóa chế độ xã hội và sụp đổ.

Tuy nhiên, đánh giá khách quan và khoa học, vấn đề giám sát và phản biện xã hội trong quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin chưa thực sự được quan tâm đúng mức trên cả hai phương diện nghiên cứu khoa học và nhất là áp dụng vào hoạt động thực tiễn. Vì vậy, trên thực tế, giám sát, phản biện xã hội nói chung, vấn đề báo chí giám sát, phản biện xã hội nói riêng ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và ở những nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay chưa được chú ý đúng tầm. Đây chính là một trong những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển hoàn thiện nó trong đời sống hiện thực.

2. Bản chất vấn đề báo chí giám sát, phản biện xã hội

2.1. Bản chất vấn đề báo chí giám sát, phản biện xã hội bắt nguồn từ vấn đề giám sát, phản biện xã hội; bởi vì, báo chí - truyền thông nói chung, chủ yếu là kênh kết nối và truyền dẫn, là phương tiện và phương thức giám sát, phản biện xã hội dựa trên cơ sở tiền đề môi trường pháp lý và quá trình giám sát, phản biện xã hội.

Theo các tác giả cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng” thì phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau[4]. Phản biện xã hội là hoạt động mang tính phổ quát của đời sống xã hội. Tính phổ quát của phê phán/phê bình xã hội được thể hiện qua cách thức mà cá nhân (chủ thể) bộc lộ trong mối quan hệ với các định chế, quy phạm cấu trúc xã hội. Về nguyên tắc, muốn thay đổi một trật tự thì chủ thể phải nhận ra các khuyết tật, yếu điểm của trật tự đó. Trước đòi hỏi ấy, phê bình/phê phán xuất hiện. Nhiệm vụ của phê bình/phê phán là đưa ra ánh sáng những quá trình, cơ chế gây nên hiện trạng “xơ cứng”, từ đó mở ra khả năng đổi mới hay tìm kiếm lối thoát, phát triển cho hiện trạng ấy.

Như vậy, phản biện xã hội với nghĩa rộng nhất của nó, xuất hiện rất sớm trong đời sống xã hội loài người. Khi cá nhân, cộng đồng người, một mặt phải chấp nhận hiện trạng, hòa nhập với nó, mặt khác luôn tìm cách vượt lên nó, hoàn thiện nó. Đó cũng chính là quy luật, đòi hỏi tất yếu của quá trình tiến hóa mang tính tự nhiên của xã hội loài người. Mối quan hệ đa chiều này phản ánh một trong những thuộc tính cơ bản nhất của con người (hiểu theo nghĩa rộng) là không ngừng suy tư, chất vấn, đấu tranh với mọi trở lực để ngày càng được tự do hơn, văn minh hơn, hoàn thiện hơn và xứng đáng với con người hơn - theo nghĩa cao quý nhất của danh từ này.

Thực chất của phê phán (phê bình) xã hội là mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Phản biện xã hội là trạng thái của quá trình nhận thức, đòi hỏi khách quan và có khả năng vượt qua hệ thống các giá trị đương thời, những kiểu mẫu có sẵn, mở ra các giá trị mới, tạo ra sự gia tăng và chuyển đổi tri thức vào quá trình vận động thực tiễn. Nhìn trên tổng thể, có thể chia phản biện xã hội thành hai loại hình hay cấp độ cơ bản:

Cấp độ thứ nhất, theo nghĩa rộng, phản biện xã hội hướng đến các cấu trúc, chế định hay thể chế, trạng thái hiện tồn của xã hội. Lĩnh vực này, nhiều tác giả đã gọi là “phản tư” của xã hội. Ở cấp độ này, mục đích phản biện xã hội là nhằm “sửa sang” thể chế, kiến tạo thể chế mới, thiết lập mô hình tổ chức xã hội mới đáp ứng nhu cầu phát triển[5]. Thể chế là vấn đề được coi như chìa khóa của sự phát triển xã hội đương đại.

Cấp độ thứ hai, theo nghĩa hẹp hơn, phản biện xã hội là sự phản biện từ phía nhân dân, các cộng đồng, các cá nhân và tổ chức xã hội đối với thể chế chính trị, thể chế nhà nước, các cơ cấu quyền lực mà trung tâm là Nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước, thực thi công vụ. Loại phản biện xã hội này, chủ yếu với mục đích nhằm vào các chính sách công được ban hành bởi các tổ chức trong hệ thống chính trị[6].

Trong khuôn khổ vấn đề đang xem xét, ở đây chỉ nói đến phản biện xã hội ở cấp độ thứ hai. Tức phản biện của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng xã hội đối với chính sách công với mục đích đồng thuận hay phản đối, hướng tới đồng thuận, hoàn thiện và tối ưu hóa nó trong thực tiễn.

Do vậy, có thể chú ý mấy vấn đề sau đây liên quan đến phản biện xã hội:

Một là, chủ thể phản biện xã hội là các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, các cộng đồng, các tầng lớp cư dân và các cá nhân... Đó là quá trình phản biện mang tính chất xã hội, thu hút đông đảo công dân và tổ chức tham gia. Nhưng nói đến chủ thể phản biện xã hội, thông thường trước hết phải nói đến vai trò trung tâm, nòng cốt của đội ngũ tri thức, tầng lớp tinh hoa trí tuệ của cộng đồng, của xã hội. Tiền đề của phản biện xã hội là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí đồng thời với quá trình thực hiện tính công khai và minh bạch hóa, bảo đảm quyền được biết, được thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin.

Hai là, đối tượng của phản biện xã hội là chính sách công do các chủ thể ban hành về chủ trương, chính sách, đề án, dự án, chương trình (gọi chung là chính sách công) có tác động xã hội lớn, liên quan đến quyền và lợi ích của cộng đồng nói chung hoặc của nhóm xã hội lớn. Trong kinh tế thị trường, nếu chính sách công không được phản biện xã hội làm việc triệt để, lợi ích nhóm dễ thao túng và lũng đoạn. Thực tế vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên) hay thay đổi quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm... đã minh chứng cho vấn đề này.

Ba là, mục đích của phản biện xã hội là nhằm bảo đảm cân bằng lợi ích, bảo đảm lợi ích công, thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ và cảm xúc của cộng đồng xã hội, của các tầng lớp nhân dân, các nhóm xã hội lớn và công dân nói chung... nhằm làm cho các chính sách công phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích của các nhóm đối tượng chịu sự tác động của chính sách công, góp phần bảo đảm hài hòa lợi ích công và phát triển bền vững. Ngạn ngữ Việt Nam có câu “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” là vậy. Đề án đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh và Đề án trục đường Hồ Tây - Ba Vì của Chính phủ lần đầu tiên bị kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII bác chính là kết quả phản biện xã hội qua báo chí - truyền thông, tạo áp lực từ dư luận xã hội.

Bốn là, phương thức phản biện xã hội là thể hiện tính công khai, minh bạch, tạo ra sự cộng hưởng và lan tỏa trong xã hội để mọi người cùng thống nhất nhận thức, nâng cao hiểu biết trên cơ sở cung cấp thông tin, kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm, qua đó mỗi công dân, nhóm xã hội lớn và cộng đồng dân cư mở mang hiểu biết, gia tăng tương đồng và giảm dần sự khác biệt, tạo đồng thuận xã hội về nhận thức, thái độ và hành vi xã hội trong hoạch định và thực thi chính sách công. Nếu phản biện xã hội được phát huy và được tiếp thu trong quy hoạch đô thị, vấn đề khu đô thị Thủ Thiêm đã không xảy ra khiếu kiện của hàng trăm hộ dân trong 10 năm nay, gây bức xúc dư luận xã hội.

Năm là, phản biện xã hội đòi hỏi bảo đảm tính khoa học - thực tiễn, tức là sự phản biện xuất phát trên cơ sở những luận điểm, luận cứ và luận chứng rõ ràng để soi chiếu vào vấn đề chính sách công và thực tiễn đang đặt ra trong mối quan hệ với lợi ích công. Quá trình phản biện xã hội qua báo chí - truyền thông về Đề án đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh và trục đường Hồ Tây - Ba Vì (như đã nêu trên) là dẫn chứng sinh động về các phản biện cung cấp cơ sở khoa học - thực tiễn để chỉ ra tính bất hợp lý, không bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của các đề án này; ngược lại, thậm chí đã chỉ ra manh nha lợi ích nhóm đang chi phối.

Sáu là, phản biện xã hội cần bảo đảm cơ sở chính trị - pháp lý. Quá trình phát triển nói chung cũng như các chính sách công của Việt Nam đều dựa trên cơ sở các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước. Do vậy, phản biện xã hội cần và nên xuất phát từ đây. Mặt khác, như trên đã đề cập, yêu cầu có tính nguyên tắc này đòi hỏi điều kiện tiên quyết là bảo đảm cơ sở pháp lý, về quyền tiếp cận thông tin[7], quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, bảo đảm quá trình dân chủ hóa và minh bạch hóa.

Như vậy, phản biện xã hội đòi hỏi tinh thần phê phán khoa học, tính chính trị - pháp lý với tinh thần, thái độ xây dựng của chủ thể phản biện xã hội, cũng như tinh thần cầu thị, khoa học trong tiếp thu phản biện của chủ thể ban hành chính sách công. Các biểu hiện công kích, hiềm khích, chia rẽ, hoặc thờ ơ, coi thường, bỏ qua... trái với tinh thần, thái độ và mục đích nêu trên đều không phù hợp với yêu cầu có tính nguyên tắc của phản biện xã hội. Nói cách khác, phản biện xã hội nhằm tạo đồng thuận xã hội, chia sẻ quan điểm, cung cấp thông tin và mở mang hiểu biết lẫn nhau (từ chủ thể chính sách công và cộng đồng) nhằm gia tăng những tương đồng và giảm dần sự khác biệt giữa các ý kiến và các luồng ý kiến tham gia phản biện xã hội vì mục tiêu phát triển bền vững, vì lợi ích công.

Từ cách hiểu trên đây, có thể hiểu rằng, phản biện xã hội là hoạt động bày tỏ ý kiến, chính kiến, đánh giá, nhận xét, bình luận, phê phán, tranh luận, thảo luận, thẩm định... của xã hội, thông qua các tổ chức và cá nhân… đối với quá trình ban hành và thực thi các chính sách công nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ và cảm xúc của xã hội, làm cho các chính sách công phản ánh đúng quy luật khách quan, bảo đảm lợi ích công và mong đợi của các nhóm đối tượng chịu sự tác động của chính sách công, bảo đảm hài hòa lợi ích và phát triển bền vững.

Báo chí phản biện xã hội, xét cho cùng, chủ yếu là phản biện chính sách công, bảo đảm cho chính sách công được thiết kế vì lợi ích công. Đất nước, thể chế chính trị chỉ có thể phát triển bền vững khi mọi chính sách công đều vì lợi ích công, vì cộng đồng và nhân dân, trước hết là nhóm chịu tác động chính sách công. Do đó, báo chí - truyền thông trong môi trường truyền thông số, trước hết cần phải kết nối và huy động nguồn lực - trí tuệ xã hội và cảm xúc của nhân dân, động viên, khích lệ năng lực sáng tạo của mỗi công dân trong việc tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách công nói chung. Phản biện xã hội của báo chí - truyền thông về dự án thu thuế tài sản của Bộ Tài chính vừa rồi là ví dụ. Dư luận cho rằng, thu thuế tài sản là đúng và cần, nhưng có nên là thời điểm này và có nên quy định mức khởi điểm nhà giá trị trên 700 triệu đồng trong khi ô tô lại trên 1,5 tỷ?

2.2. Khi chính sách công được ban hành, quá trình thực thi lại là câu chuyện không đơn giản trước các “nhóm lợi ích đen”. Vậy nên, báo chí - truyền thông không chỉ giám sát quá trình ban hành, mà quan trọng không kém là giám sát xã hội quá trình thực thi chính sách công.

Để góp phần nhận thức thêm vấn đề giám sát xã hội có thể nêu ra mấy điểm nhận diện quá trình này như sau:

- Nếu giám sát xã hội là hoạt động của chủ thể (gọi là chủ thể giám sát) biểu hiện qua theo dõi, quan sát, xem xét, phê phán về hoạt động của khách thể chịu sự giám sát, thì trong giám sát xã hội, chủ thể ấy là lực lượng xã hội - tổ chức hoặc công dân. Ở đây, chủ thể giám sát xã hội có thể là tổ chức hoặc cá nhân theo địa vị pháp lý. Khách thể chịu sự giám sát xã hội chủ yếu là tổ chức, cá nhân thực thi công vụ. Đối tượng giám sát xã hội chủ yếu là quá trình ban hành và thực thi chính sách công, thực thi công vụ.

- Mục đích của giám sát xã hội là bảo đảm chuẩn mực chính trị, pháp lý và đạo đức, vì lợi ích công; là kiểm tra, theo dõi, hoạt động của khách thể chịu sự giám sát có đúng với những quy định, chuẩn mực, mục đích đã đặt ra (theo thỏa thuận, theo cơ sở pháp luật) hay không để có những biện pháp can thiệp kịp thời và hướng hoạt động của khách thể đi đúng hướng, vì lợi ích xã hội.

- Giám sát xã hội mang tính độc lập, tức là chủ thể thực hiện giám sát xã hội độc lập với khách thể chịu sự giám sát xã hội. Đây là thuộc tính bản chất của giám sát xã hội mà nếu thiếu nó, hoạt động giám sát xã hội không còn ý nghĩa tích cực, đã bị biến thái, hình thức và thậm chí bị tha hóa.

- Chủ thể giám sát xã hội cần phải có kiến thức chuyên môn và pháp luật, hiểu biết về hoạt động (của đối tượng chịu sự giám sát) của khách thể giám sát xã hội. Vậy nên, chất lượng giám sát xã hội phụ thuộc vào trình độ văn hóa, nhất là kiến thức pháp luật của cộng đồng và môi trường pháp lý.

- Khác với phản biện xã hội chủ yếu ở thời điểm khởi thảo, ban hành chính sách công, giám sát xã hội là quá trình liên tục, được thực thi bởi các lực lượng xã hội, các cá nhân có lợi ích liên quan, bảo đảm lợi ích công, vì cộng đồng và sự phát triển bền vững. Giám sát xã hội là quá trình diễn ra mọi nơi, mọi lúc như “tai vách, mạch rừng”.

Báo chí - truyền thông thực thi giám sát xã hội, trước hết cần thực hiện tốt chức năng bản chất của mình là phương tiện và phương thức thông tin - giao tiếp trong quá trình công khai, minh bạch hóa các vấn đề và quan hệ xã hội; là phương tiện và phương thức kết nối xã hội, kết nối sức mạnh mềm, khơi dậy cảm xúc cộng đồng để tạo sức mạnh xã hội cho quá trình giám sát xã hội; là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra, bằng cách vừa cung cấp thông tin, kiến thức (văn hóa và pháp luật), vừa tạo diễn đàn chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm cho công chúng hướng vào những vấn đề trọng tâm, các chính sách công trong quá trình phát triển. Cần nhận thức rõ hơn, báo chí không chỉ là công cụ tuyên truyền, mà còn là thiết chế xã hội kiến tạo, thực hiện chức năng kết nối xã hội, tham gia giám sát, phản biện xã hội giúp Đảng và Nhà nước lãnh đạo và kiểm soát quyền lực.

3. Một số đề xuất

Thứ nhất, tinh giản bộ máy Đảng và Nhà nước (cả đầu mối công việc và số lượng nhân sự), không chỉ để tiết kiệm chi trong bối cảnh khó khăn tài chính, mà quan trọng là để nhìn rõ “các địa chỉ trách nhiệm”, tránh tình trạng “chỉ thấy rừng mà khó thấy cây”. Vấn đề và giải pháp này không đơn giản, nhưng muốn tồn tại và phát triển thì phải đổi mới. Ví dụ như Singapore, họ làm được kỳ tích đưa quốc đảo này từ một làng chài nghèo, đến nước ngọt cũng phải đi mua thành nước phát triển với môi trường tự nhiên và xã hội an lành... được thế giới ngưỡng mộ, nguyên nhân chính là xây dựng được bộ máy gọn nhẹ và chống lạm dụng quyền lực và tham nhũng, tiêu cực.

Thứ hai, thật sự tin dân và dựa vào dân để làm trong sạch bộ máy, làm lành mạnh hóa các quan hệ; cần tiếp tục phát huy dân chủ, thực hiện công khai và minh bạch từ công tác tổ chức cán bộ đến vấn đề chính sách công. Ban Bí thư Trung ương đã ban hành văn bản công khai hóa kê khai tài sản công chức rất được nhân dân đồng tình ủng hộ. Phải tìm mọi cách phá bỏ rào cản cản trở quá trình “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, cùng với đó, phát huy tối đa vai trò báo chí - truyền thông như phương tiện và phương thức kết nối và truyền dẫn quá trình công khai, minh bạch và dân chủ hóa đời sống xã hội. Cần coi báo chí - truyền thông không chỉ là công cụ tuyên truyền của tổ chức, mà hơn thế nữa, nó là thiết chế xã hội kiến tạo. Báo chí là kênh thông tin - giao tiếp, kênh kết nối trí tuệ và cảm xúc, lan tỏa rộng rãi nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất tới mọi công dân và nhóm xã hội, nhờ thế sẽ giúp Đảng, giúp dân làm công việc kết nối giám sát, phản biện xã hội hiệu quả nhất.

Thứ ba, xây dựng và làm trong sạch chính thiết chế báo chí như một thiết chế xã hội kiến tạo, để báo chí thật sự là phương tiện và phương thức giám sát, phản biện xã hội giúp Đảng, Nhà nước kiểm soát quyền lực cũng như thiết kế, thực thi chính sách công. Theo đó, rà soát lại phương án quy hoạch báo chí theo hướng phát huy nguồn sức mạnh tinh thần, trí tuệ và cảm xúc của công chúng và nhân dân, theo Luật Báo chí và Luật Tiếp cận thông tin...; rà soát đội ngũ làm báo để bảo đảm rằng những người làm báo có đủ tâm đức, có trình độ chuyên môn và bản lĩnh hành nghề. Bên cạnh đó, hoạt động báo chí cần phải đi vào thực chất, vừa thông tin – tuyên truyền, vừa phản ánh trung thực tình hình đang diễn ra, vừa là phương tiện và phương thức giám sát, phản biện xã hội giúp Đảng và Nhà nước kiểm soát quyền lực và làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào phát triển bền vững trong môi trường truyền thông số và hội nhập toàn cầu.

PGS.TS. Nguyễn Văn Dững

Học viện Báo chí và Tuyên truyền







[1]. Xem thêm: Quyền lực thứ tư - Bản chất và cách ứng xử, Tạp chí Người làm báo Việt Nam, số tháng 12/2012.

[2]. Sđd, tr. 290.

[3]. V.I. Lênin: Toàn tập, T6, tr. 224.

[4]. Ngô Văn Du - Hồng Hà - Trần Xuân Giá (đồng chủ biên) (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 182.

[5]. Xem thêm cuốn Tại sao các quốc gia thất bại của 02 tác giả: Daron Acemoglu và James A.Robinson.

[6]. Theo cách hiểu của Việt Nam hiện nay.

[7]. Theo tinh thần Luật Tiếp cận thông tin, có hiệu lực từ 01/7/ 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: