Chủ nhật 11/10/2026 06:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Gian nan trả lại tài sản có giá trị nhỏ trong thi hành án dân sự

Trả lại tiền, tài sản thi hành án là một trong những khoản thi hành án chủ động mà các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thường xuyên phải tổ chức thi hành. Trình tự, thủ tục hoàn trả số tiền, tài sản có giá trị nhỏ hay lớn cho đương sự đều phải thực hiện theo trình tự, thủ tục chung do pháp luật quy định. Trên thực tế, rất nhiều trường hợp việc hoàn trả đối với những số tiền tạm ứng án phí hoặc tài sản có giá trị nhỏ là không dễ dàng.

Thủ tục trả lại tiền, tài sản được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự); Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

1. Trả lại tiền tạm ứng án phí có giá trị nhỏ

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là một trong những loại việc chủ động thi hành án[1], thường gặp trong các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình. Trong thực tế, việc hoàn trả đối với số tiền tạm ứng án phí có giá trị nhỏ thường gặp một số khó khăn, cụ thể như:

Một là, đương sự không đến nhận lại tiền tạm ứng án phí được hoàn trả

Theo Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì mức án phí áp dụng đối với việc tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch là 300.000 đồng. Do đó, đối với các trường hợp thuận tình ly hôn hoặc đình chỉ việc dân sự thì mức án phí được tuyên trả lại đương sự thường chỉ từ 150.000 đồng đến 300.000 đồng. Cá biệt, có những vụ án hình sự, đương sự được trả lại số tiền chỉ vài chục nghìn đồng. Vấn đề vướng mắc ở đây là, vì số tiền tạm ứng án phí được trả lại có giá trị quá nhỏ dẫn đến nhiều đương sự không đến nhận lại tiền do “ngại” phải mất thời gian, công sức. Một số trường hợp, sau khi ly hôn, đương sự chuyển địa chỉ đi nơi khác hoặc không thể xác định được địa chỉ của đương sự... dẫn đến tình trạng cơ quan THADS báo gọi rất nhiều lần nhưng đương sự không đến nhận tiền. Việc này gây ra không ít khó khăn cho chấp hành viên và dẫn đến tồn đọng hồ sơ thi hành án.

Hai là, thủ tục xử lý đối với khoản tiền trả lại tạm ứng án phí còn nhiều bất cập

Thủ tục trả lại tiền tạm ứng án phí được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự; Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp đương sự không đến nhận khoản tiền tạm ứng án phí được trả lại, cơ quan THADS phải thực hiện xử lý khoản tiền này theo đầy đủ trình tự, thủ tục được quy định tại các điều khoản nêu trên như: Thông báo cho đương sự, nếu hết thời hạn mà đương sự không đến nhận thì gửi tiền qua bưu điện (trong trường hợp đương sự ở xa và rõ địa chỉ, khoản tiền có giá trị nhỏ hơn một tháng lương cơ sở), gửi tiết kiệm vào ngân hàng và thông báo cho đương sự (nếu đương sự không có địa chỉ hoặc bưu điện trả lại do không có người nhận), hết 05 năm thì sung quỹ nhà nước. Như vậy, để theo dõi, xử lý khoản tiền mà đương sự không đến nhận phải mất 05 năm, đây là thời hạn quá dài. Điều này dẫn đến việc thi hành án bị tồn đọng, gây lãng phí thời gian và nhân lực của các cơ quan THADS và của Nhà nước.

Để giải quyết dứt điểm các vụ án hoàn trả tiền tạm ứng án phí, tiết kiệm chi phí và nhân lực cho hoạt động THADS, cần xem xét quy định thống nhất một phương án xử lý chung đối với khoản tiền tạm ứng án phí có giá trị nhỏ (dưới 500.000 đồng) đó là Tòa án có thể tuyên thu toàn bộ số tiền tạm ứng án phí để sung công quỹ nhà nước, góp phần giảm tải số lượng việc thi hành án cho các cơ quan THADS. Về thời gian làm thủ tục sung công quỹ nhà nước thì cần xem xét rút ngắn từ 05 năm xuống còn 01 năm để tạo điều kiện cho cơ quan THADS có thể nhanh chóng kết thúc hồ sơ thi hành án.

2. Trả lại tài sản có giá trị nhỏ

Bên cạnh việc trả lại tiền tạm ứng án phí, các việc thi hành án dân sự trả lại tài sản có giá trị nhỏ cũng rất nan giải. Để thực hiện việc trả lại các tài sản có giá trị quá nhỏ (chẳng hạn như vài con ốc vít, tô vít, con dao, chiếc chìa khóa…), chấp hành viên cũng phải thực hiện đầy đủ các tác nghiệp như các vụ việc trả tài sản có giá trị lớn khác. Bên cạnh các thủ tục thông báo quyết định thi hành án, thông báo về việc nhận tiền, tài sản theo quy định, cơ quan THADS còn phải thực hiện rất nhiều các thủ tục hành chính khác để giải quyết vụ việc, chẳng hạn như: Chấp hành viên làm thủ tục đề nghị xuất kho tài sản, tang vật, trình thủ trưởng ký phê duyệt; kế toán làm thủ tục xuất kho tài sản, tang vật (lập lệnh xuất kho, phiếu xuất kho); chấp hành viên lập biên bản trả lại tài sản, sau đó phối hợp cùng kế toán, thủ kho giao trả tài sản cho người được nhận tài sản theo quyết định thi hành án. Tổng thời gian thực hiện việc tống đạt quyết định thi hành án và thực hiện thủ tục trả tài sản mất khoảng 02 ngày làm việc (tùy theo các tình huống khác nhau có thể phát sinh mà số lượng công việc thực hiện có thể tăng lên và thời gian thực hiện có thể dài hơn).

Có những trường hợp, theo địa chỉ tại bản án, người được nhận tài sản (có giá trị rất nhỏ) cư trú ở cách xa cơ quan THADS, chấp hành viên đã gửi quyết định thi hành án và thông báo về việc nhận tiền, tài sản theo đường bưu điện, nhưng do người này đã chuyển địa chỉ, chấp hành viên không thể liên lạc được để hướng dẫn các thủ tục nhận lại tài sản. Theo quy định tại khoản 3 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự, đối với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định tại Điều 125 của Luật này. Tổng thời gian thực hiện việc tống đạt văn bản và trả tài sản mất khoảng 02 ngày làm việc; mất một khoản chi phí cho việc gửi các loại công văn, giấy tờ; ngoài ra còn có các chi phí để thực hiện tiêu hủy tang vật theo quy định[2] (trong trường hợp người được nhận không nhận tài sản). Các chi phí đó đều lấy từ nguồn chi hoạt động của cơ quan THADS[3].

Như vậy, có thể thấy, mặc dù khoản phải thi hành ở đây chỉ là việc trả lại một tài sản rất nhỏ, nhưng theo quy định hiện hành, việc hoàn trả các tài sản có giá trị rất nhỏ hoặc các tài sản có giá trị lớn hơn cho đương sự đều phải thực hiện theo một trình tự, thủ tục chung do pháp luật quy định. Việc quy định một trình tự, thủ tục chung khi trả lại cho các loại tài sản này gây ra khá nhiều bất cập trong thực tiễn. Điều 126 Luật Thi hành án dân sự quy định: Sau khi có quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ, chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền, tài sản. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng thì chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99, 101 Luật Thi hành án dân sự (tiến hành định giá và bán tài sản) và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Đối với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định tại Điều 125 Luật Thi hành án dân sự (cơ quan THADS thành lập hội đồng tiêu huỷ vật chứng, tài sản gồm chấp hành viên là chủ tịch hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan chuyên môn tham gia hội đồng khi cần thiết và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia để tiêu hủy vật chứng).

Vấn đề vướng mắc ở đây là thời gian để xử lý tài sản trong trường hợp đương sự không đến nhận vẫn còn quá dài (05 năm). Việc này gây ra không ít khó khăn cho quá trình tổ chức thi hành án, tốn kém thời gian, công sức của chấp hành viên[4]. Do đó, cần có quy định rút ngắn thời gian và thủ tục xử lý khi đương sự không đến nhận tài sản (đặc biệt là đối với việc trả lại các tài sản có giá trị nhỏ) để giảm thiểu tối đa thời gian tổ chức thi hành án.

Mặt khác, cần bổ sung quy định về việc cho phép gửi các tài sản có giá trị nhỏ qua đường bưu điện (tương tự quy định tại Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đối với tài sản là khoản tiền có giá trị nhỏ hơn 01 tháng lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Nhà nước quy định) vì hiện nay, quy định này mới chỉ áp dụng đối với tài sản là tiền, mà chưa áp dụng đối với tài sản là vật có giá trị nhỏ. Quy định như vậy sẽ giảm bớt các loại giấy tờ, thủ tục hành chính phát sinh và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự thì khoản trả lại tiền, tài sản cho đương sự thuộc loại việc chủ động thi hành án nên sẽ do cơ quan THADS chủ động tổ chức thi hành. Điều này đồng nghĩa với việc ngân sách nhà nước phải chi trả các chi phí phát sinh; mặt khác, việc trả lại tài sản có giá trị quá nhỏ, có thể chính bản thân người được nhận lại tài sản cũng không có nhu cầu nhận, cũng là một việc làm không thật sự cần thiết. Do đó, có quan điểm cho rằng, có thể cân nhắc chuyển khoản “trả lại tiền, tài sản cho đương sự” sang loại việc theo yêu cầu, sẽ thuận lợi hơn cho cơ quan THADS, góp phần giảm tải công việc cho chấp hành viên, giảm thiểu các chi phí phát sinh. Theo đó, đối với những khoản tiền, tài sản được tuyên trả lại cho đương sự, bản án, quyết định cần giải thích rõ quyền yêu cầu thi hành án của đương sự. Sau một thời gian nhất định, nếu đương sự không liên hệ để yêu cầu nhận lại tài sản thì cơ quan THADS sẽ thực hiện sung công quỹ nhà nước.

3. Về trả lại tài sản cho phạm nhân

Tổ chức thi hành án dân sự đối với đương sự là phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù là một công việc rất khó khăn, phức tạp, không chỉ đối với người phải thi hành án là phạm nhân mà còn cả đối với những trường hợp trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân là người được thi hành án.

Vấn đề trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án là phạm nhân được quy định tại Điều 129 Luật Thi hành án dân sự và Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải THADS và trả tiền, giấy tờ cho người được THADS là phạm nhân (Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC). Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định trên còn gặp rất nhiều bất cập, cụ thể:

Một là, khó xác định trại giam của đương sự

Theo khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự, chấp hành viên gửi thông báo, quyết định về việc nhận lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thông qua giám thị trại giam, trại tạm giam. Tuy nhiên, việc xác định trại giam của đương sự không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách dễ dàng, thuận lợi, đặc biệt là đối với một số trường hợp gia đình và địa phương không biết thông tin về nơi đương sự phải chấp hành hình phạt tù.

Tình trạng không xác định được địa chỉ trại giam của đương sự là khá phổ biến mà các cơ quan THADS thường gặp phải. Mặc dù Điều 3 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC đã quy định rõ giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự, công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho cơ quan THADS nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải THADS hoặc phạm nhân là người được thi hành án theo bản án hình sự, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại giam. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định trên ở nhiều nơi vẫn còn hạn chế. Trong một số trường hợp, việc tìm hiểu và xác định trại giam nơi người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù còn làm mất khá nhiều thời gian của chấp hành viên, làm giảm hiệu quả thi hành án.

Hai là, thủ tục trả lại tài sản cho phạm nhân còn phức tạp

Khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC quy định: Trường hợp phạm nhân là người được THADS có đơn đề nghị được nhận tiền, giấy tờ tại trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện thì trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho cơ quan THADS biết; trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan THADS có trách nhiệm gửi tiền, giấy tờ cho giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện để tiến hành việc trả tiền, giấy tờ cho phạm nhân là người được THADS theo quyết định trả tiền, giấy tờ. Tuy nhiên, nhiều phạm nhân có trình độ hiểu biết hạn chế, cá biệt còn có những phạm nhân không biết chữ, do đó, quy định phạm nhân có đơn xin nhận tiền, giấy tờ trong trại giam đôi khi rất khó khăn. Mặt khác, đối với những tài sản được trả lại có giá trị quá nhỏ thì việc trả lại càng khó khăn hơn khi đương sự thì ở trong trại giam, người nhà đương sự thì không muốn đến nhận do tài sản có giá trị quá nhỏ, nhất là khi họ lại cư trú ở các tỉnh xa với nơi xử án.

Điểm c Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy. Đối với những tài sản, vật chứng không có giá trị, giá trị nhỏ hoặc không sử dụng được thì Tòa án nên tuyên tiêu hủy đối với vật chứng đó, không nên tuyên trả lại cho bị cáo, nhất là khi bị cáo phải chịu hình phạt tù giam với thời gian dài. Việc thống nhất giữa quá trình xét xử với việc xem xét xử lý các tài sản, tang vật của vụ án sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giai đoạn THADS, giảm tải công việc cho các cơ quan THADS, tiết kiệm thời gian, nhân lực, chi phí của Nhà nước.

Khoản 4 Điều 4 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC quy định: Trường hợp phạm nhân là người được THADS thì cơ quan THADS trực tiếp chuyển tiền cho người được thi hành án thông qua giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện hoặc chuyển vào tài khoản tạm gửi của trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện. Đối với giấy tờ khác thì cơ quan THADS chuyển giao cho giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện để trả lại cho phạm nhân là người được thi hành án. Tuy nhiên, quy định này của Thông tư lại không áp dụng đối với các tài sản khác (ngoài tiền), trong khi số lượng việc thi hành án phải trả lại các tài sản khác cho phạm nhân là rất lớn. Do đó, nên xem xét bổ sung quy định rõ đối với những tài sản có giá trị nhỏ (ước tính giá trị còn lại dưới 2.000.000 đồng) trong trường hợp đã xác định được chính xác địa chỉ trại giam, cơ quan THADS thực hiện luôn việc chuyển trả tài sản vào trại giam để trại giam tiến hành trả cho phạm nhân mà không cần các thủ tục như đơn xin nhận tài sản, ủy quyền nhận tài sản… để rút ngắn thời gian thi hành án.

Về thủ tục trả lại tiền, tài sản cho phạm nhân đối với các tài sản có giá trị nhỏ cũng cần có những quy định đơn giản hơn. Quy định về giấy ủy quyền có xác nhận của trại giam (khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự) chỉ nên áp dụng đối với trường hợp tài sản có giá trị lớn, còn đối với các tài sản có giá trị nhỏ thì không nên áp dụng quy định này vì trong thực tiễn, việc xin xác nhận của trại giam vào đơn xin nhận tài sản hoặc giấy ủy quyền cũng gặp rất nhiều khó khăn do phạm nhân bị quản lý rất chặt chẽ, việc người nhà phạm nhân đến trại giam xin xác nhận ủy quyền nhận tài sản cũng rất khó khăn, mất nhiều thời gian tổ chức thi hành án. Do đó, đối với các trường hợp tài sản có giá trị nhỏ, nên quy định thân nhân của phạm nhân có thể xin xác nhận của chính quyền địa phương về nhân thân để đến nhận tài sản tại cơ quan thi hành án, điều này cũng sẽ giản tiện bớt thủ tục và cũng tạo thuận lợi cho chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp.

Từ thực tiễn thi hành khoản trả lại tiền, tài sản có giá trị nhỏ nêu trên, có thể thấy, việc nghiên cứu xây dựng một cơ chế “thi hành án rút gọn” đối với các vụ việc thi hành án có giá trị nhỏ, tính chất đơn giản là vô cùng cần thiết để có thể giải quyết dứt điểm các việc thi hành án hoàn trả tiền, tài sản còn tồn đọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác THADS.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội


[1] Khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự.

[2] Điều 13 Thông tư số 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ Tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự.

[3] Điều 12 Thông tư số 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ Tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự.

[4] Xem thêm: Hoàng Thị Thanh Hoa, Trả lại tài sản thi hành án - Một số bất cập từ thực tiễn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: