Thứ sáu 06/03/2026 06:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Gian nan trả lại tài sản có giá trị nhỏ trong thi hành án dân sự

Trả lại tiền, tài sản thi hành án là một trong những khoản thi hành án chủ động mà các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thường xuyên phải tổ chức thi hành. Trình tự, thủ tục hoàn trả số tiền, tài sản có giá trị nhỏ hay lớn cho đương sự đều phải thực hiện theo trình tự, thủ tục chung do pháp luật quy định. Trên thực tế, rất nhiều trường hợp việc hoàn trả đối với những số tiền tạm ứng án phí hoặc tài sản có giá trị nhỏ là không dễ dàng.

Thủ tục trả lại tiền, tài sản được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự); Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

1. Trả lại tiền tạm ứng án phí có giá trị nhỏ

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là một trong những loại việc chủ động thi hành án[1], thường gặp trong các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình. Trong thực tế, việc hoàn trả đối với số tiền tạm ứng án phí có giá trị nhỏ thường gặp một số khó khăn, cụ thể như:

Một là, đương sự không đến nhận lại tiền tạm ứng án phí được hoàn trả

Theo Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì mức án phí áp dụng đối với việc tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch là 300.000 đồng. Do đó, đối với các trường hợp thuận tình ly hôn hoặc đình chỉ việc dân sự thì mức án phí được tuyên trả lại đương sự thường chỉ từ 150.000 đồng đến 300.000 đồng. Cá biệt, có những vụ án hình sự, đương sự được trả lại số tiền chỉ vài chục nghìn đồng. Vấn đề vướng mắc ở đây là, vì số tiền tạm ứng án phí được trả lại có giá trị quá nhỏ dẫn đến nhiều đương sự không đến nhận lại tiền do “ngại” phải mất thời gian, công sức. Một số trường hợp, sau khi ly hôn, đương sự chuyển địa chỉ đi nơi khác hoặc không thể xác định được địa chỉ của đương sự... dẫn đến tình trạng cơ quan THADS báo gọi rất nhiều lần nhưng đương sự không đến nhận tiền. Việc này gây ra không ít khó khăn cho chấp hành viên và dẫn đến tồn đọng hồ sơ thi hành án.

Hai là, thủ tục xử lý đối với khoản tiền trả lại tạm ứng án phí còn nhiều bất cập

Thủ tục trả lại tiền tạm ứng án phí được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự; Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp đương sự không đến nhận khoản tiền tạm ứng án phí được trả lại, cơ quan THADS phải thực hiện xử lý khoản tiền này theo đầy đủ trình tự, thủ tục được quy định tại các điều khoản nêu trên như: Thông báo cho đương sự, nếu hết thời hạn mà đương sự không đến nhận thì gửi tiền qua bưu điện (trong trường hợp đương sự ở xa và rõ địa chỉ, khoản tiền có giá trị nhỏ hơn một tháng lương cơ sở), gửi tiết kiệm vào ngân hàng và thông báo cho đương sự (nếu đương sự không có địa chỉ hoặc bưu điện trả lại do không có người nhận), hết 05 năm thì sung quỹ nhà nước. Như vậy, để theo dõi, xử lý khoản tiền mà đương sự không đến nhận phải mất 05 năm, đây là thời hạn quá dài. Điều này dẫn đến việc thi hành án bị tồn đọng, gây lãng phí thời gian và nhân lực của các cơ quan THADS và của Nhà nước.

Để giải quyết dứt điểm các vụ án hoàn trả tiền tạm ứng án phí, tiết kiệm chi phí và nhân lực cho hoạt động THADS, cần xem xét quy định thống nhất một phương án xử lý chung đối với khoản tiền tạm ứng án phí có giá trị nhỏ (dưới 500.000 đồng) đó là Tòa án có thể tuyên thu toàn bộ số tiền tạm ứng án phí để sung công quỹ nhà nước, góp phần giảm tải số lượng việc thi hành án cho các cơ quan THADS. Về thời gian làm thủ tục sung công quỹ nhà nước thì cần xem xét rút ngắn từ 05 năm xuống còn 01 năm để tạo điều kiện cho cơ quan THADS có thể nhanh chóng kết thúc hồ sơ thi hành án.

2. Trả lại tài sản có giá trị nhỏ

Bên cạnh việc trả lại tiền tạm ứng án phí, các việc thi hành án dân sự trả lại tài sản có giá trị nhỏ cũng rất nan giải. Để thực hiện việc trả lại các tài sản có giá trị quá nhỏ (chẳng hạn như vài con ốc vít, tô vít, con dao, chiếc chìa khóa…), chấp hành viên cũng phải thực hiện đầy đủ các tác nghiệp như các vụ việc trả tài sản có giá trị lớn khác. Bên cạnh các thủ tục thông báo quyết định thi hành án, thông báo về việc nhận tiền, tài sản theo quy định, cơ quan THADS còn phải thực hiện rất nhiều các thủ tục hành chính khác để giải quyết vụ việc, chẳng hạn như: Chấp hành viên làm thủ tục đề nghị xuất kho tài sản, tang vật, trình thủ trưởng ký phê duyệt; kế toán làm thủ tục xuất kho tài sản, tang vật (lập lệnh xuất kho, phiếu xuất kho); chấp hành viên lập biên bản trả lại tài sản, sau đó phối hợp cùng kế toán, thủ kho giao trả tài sản cho người được nhận tài sản theo quyết định thi hành án. Tổng thời gian thực hiện việc tống đạt quyết định thi hành án và thực hiện thủ tục trả tài sản mất khoảng 02 ngày làm việc (tùy theo các tình huống khác nhau có thể phát sinh mà số lượng công việc thực hiện có thể tăng lên và thời gian thực hiện có thể dài hơn).

Có những trường hợp, theo địa chỉ tại bản án, người được nhận tài sản (có giá trị rất nhỏ) cư trú ở cách xa cơ quan THADS, chấp hành viên đã gửi quyết định thi hành án và thông báo về việc nhận tiền, tài sản theo đường bưu điện, nhưng do người này đã chuyển địa chỉ, chấp hành viên không thể liên lạc được để hướng dẫn các thủ tục nhận lại tài sản. Theo quy định tại khoản 3 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự, đối với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định tại Điều 125 của Luật này. Tổng thời gian thực hiện việc tống đạt văn bản và trả tài sản mất khoảng 02 ngày làm việc; mất một khoản chi phí cho việc gửi các loại công văn, giấy tờ; ngoài ra còn có các chi phí để thực hiện tiêu hủy tang vật theo quy định[2] (trong trường hợp người được nhận không nhận tài sản). Các chi phí đó đều lấy từ nguồn chi hoạt động của cơ quan THADS[3].

Như vậy, có thể thấy, mặc dù khoản phải thi hành ở đây chỉ là việc trả lại một tài sản rất nhỏ, nhưng theo quy định hiện hành, việc hoàn trả các tài sản có giá trị rất nhỏ hoặc các tài sản có giá trị lớn hơn cho đương sự đều phải thực hiện theo một trình tự, thủ tục chung do pháp luật quy định. Việc quy định một trình tự, thủ tục chung khi trả lại cho các loại tài sản này gây ra khá nhiều bất cập trong thực tiễn. Điều 126 Luật Thi hành án dân sự quy định: Sau khi có quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ, chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền, tài sản. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng thì chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99, 101 Luật Thi hành án dân sự (tiến hành định giá và bán tài sản) và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Đối với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định tại Điều 125 Luật Thi hành án dân sự (cơ quan THADS thành lập hội đồng tiêu huỷ vật chứng, tài sản gồm chấp hành viên là chủ tịch hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan chuyên môn tham gia hội đồng khi cần thiết và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia để tiêu hủy vật chứng).

Vấn đề vướng mắc ở đây là thời gian để xử lý tài sản trong trường hợp đương sự không đến nhận vẫn còn quá dài (05 năm). Việc này gây ra không ít khó khăn cho quá trình tổ chức thi hành án, tốn kém thời gian, công sức của chấp hành viên[4]. Do đó, cần có quy định rút ngắn thời gian và thủ tục xử lý khi đương sự không đến nhận tài sản (đặc biệt là đối với việc trả lại các tài sản có giá trị nhỏ) để giảm thiểu tối đa thời gian tổ chức thi hành án.

Mặt khác, cần bổ sung quy định về việc cho phép gửi các tài sản có giá trị nhỏ qua đường bưu điện (tương tự quy định tại Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đối với tài sản là khoản tiền có giá trị nhỏ hơn 01 tháng lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Nhà nước quy định) vì hiện nay, quy định này mới chỉ áp dụng đối với tài sản là tiền, mà chưa áp dụng đối với tài sản là vật có giá trị nhỏ. Quy định như vậy sẽ giảm bớt các loại giấy tờ, thủ tục hành chính phát sinh và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự thì khoản trả lại tiền, tài sản cho đương sự thuộc loại việc chủ động thi hành án nên sẽ do cơ quan THADS chủ động tổ chức thi hành. Điều này đồng nghĩa với việc ngân sách nhà nước phải chi trả các chi phí phát sinh; mặt khác, việc trả lại tài sản có giá trị quá nhỏ, có thể chính bản thân người được nhận lại tài sản cũng không có nhu cầu nhận, cũng là một việc làm không thật sự cần thiết. Do đó, có quan điểm cho rằng, có thể cân nhắc chuyển khoản “trả lại tiền, tài sản cho đương sự” sang loại việc theo yêu cầu, sẽ thuận lợi hơn cho cơ quan THADS, góp phần giảm tải công việc cho chấp hành viên, giảm thiểu các chi phí phát sinh. Theo đó, đối với những khoản tiền, tài sản được tuyên trả lại cho đương sự, bản án, quyết định cần giải thích rõ quyền yêu cầu thi hành án của đương sự. Sau một thời gian nhất định, nếu đương sự không liên hệ để yêu cầu nhận lại tài sản thì cơ quan THADS sẽ thực hiện sung công quỹ nhà nước.

3. Về trả lại tài sản cho phạm nhân

Tổ chức thi hành án dân sự đối với đương sự là phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù là một công việc rất khó khăn, phức tạp, không chỉ đối với người phải thi hành án là phạm nhân mà còn cả đối với những trường hợp trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân là người được thi hành án.

Vấn đề trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án là phạm nhân được quy định tại Điều 129 Luật Thi hành án dân sự và Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải THADS và trả tiền, giấy tờ cho người được THADS là phạm nhân (Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC). Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định trên còn gặp rất nhiều bất cập, cụ thể:

Một là, khó xác định trại giam của đương sự

Theo khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự, chấp hành viên gửi thông báo, quyết định về việc nhận lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thông qua giám thị trại giam, trại tạm giam. Tuy nhiên, việc xác định trại giam của đương sự không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách dễ dàng, thuận lợi, đặc biệt là đối với một số trường hợp gia đình và địa phương không biết thông tin về nơi đương sự phải chấp hành hình phạt tù.

Tình trạng không xác định được địa chỉ trại giam của đương sự là khá phổ biến mà các cơ quan THADS thường gặp phải. Mặc dù Điều 3 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC đã quy định rõ giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự, công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho cơ quan THADS nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải THADS hoặc phạm nhân là người được thi hành án theo bản án hình sự, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại giam. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định trên ở nhiều nơi vẫn còn hạn chế. Trong một số trường hợp, việc tìm hiểu và xác định trại giam nơi người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù còn làm mất khá nhiều thời gian của chấp hành viên, làm giảm hiệu quả thi hành án.

Hai là, thủ tục trả lại tài sản cho phạm nhân còn phức tạp

Khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC quy định: Trường hợp phạm nhân là người được THADS có đơn đề nghị được nhận tiền, giấy tờ tại trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện thì trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho cơ quan THADS biết; trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan THADS có trách nhiệm gửi tiền, giấy tờ cho giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện để tiến hành việc trả tiền, giấy tờ cho phạm nhân là người được THADS theo quyết định trả tiền, giấy tờ. Tuy nhiên, nhiều phạm nhân có trình độ hiểu biết hạn chế, cá biệt còn có những phạm nhân không biết chữ, do đó, quy định phạm nhân có đơn xin nhận tiền, giấy tờ trong trại giam đôi khi rất khó khăn. Mặt khác, đối với những tài sản được trả lại có giá trị quá nhỏ thì việc trả lại càng khó khăn hơn khi đương sự thì ở trong trại giam, người nhà đương sự thì không muốn đến nhận do tài sản có giá trị quá nhỏ, nhất là khi họ lại cư trú ở các tỉnh xa với nơi xử án.

Điểm c Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy. Đối với những tài sản, vật chứng không có giá trị, giá trị nhỏ hoặc không sử dụng được thì Tòa án nên tuyên tiêu hủy đối với vật chứng đó, không nên tuyên trả lại cho bị cáo, nhất là khi bị cáo phải chịu hình phạt tù giam với thời gian dài. Việc thống nhất giữa quá trình xét xử với việc xem xét xử lý các tài sản, tang vật của vụ án sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giai đoạn THADS, giảm tải công việc cho các cơ quan THADS, tiết kiệm thời gian, nhân lực, chi phí của Nhà nước.

Khoản 4 Điều 4 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC quy định: Trường hợp phạm nhân là người được THADS thì cơ quan THADS trực tiếp chuyển tiền cho người được thi hành án thông qua giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện hoặc chuyển vào tài khoản tạm gửi của trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện. Đối với giấy tờ khác thì cơ quan THADS chuyển giao cho giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện để trả lại cho phạm nhân là người được thi hành án. Tuy nhiên, quy định này của Thông tư lại không áp dụng đối với các tài sản khác (ngoài tiền), trong khi số lượng việc thi hành án phải trả lại các tài sản khác cho phạm nhân là rất lớn. Do đó, nên xem xét bổ sung quy định rõ đối với những tài sản có giá trị nhỏ (ước tính giá trị còn lại dưới 2.000.000 đồng) trong trường hợp đã xác định được chính xác địa chỉ trại giam, cơ quan THADS thực hiện luôn việc chuyển trả tài sản vào trại giam để trại giam tiến hành trả cho phạm nhân mà không cần các thủ tục như đơn xin nhận tài sản, ủy quyền nhận tài sản… để rút ngắn thời gian thi hành án.

Về thủ tục trả lại tiền, tài sản cho phạm nhân đối với các tài sản có giá trị nhỏ cũng cần có những quy định đơn giản hơn. Quy định về giấy ủy quyền có xác nhận của trại giam (khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự) chỉ nên áp dụng đối với trường hợp tài sản có giá trị lớn, còn đối với các tài sản có giá trị nhỏ thì không nên áp dụng quy định này vì trong thực tiễn, việc xin xác nhận của trại giam vào đơn xin nhận tài sản hoặc giấy ủy quyền cũng gặp rất nhiều khó khăn do phạm nhân bị quản lý rất chặt chẽ, việc người nhà phạm nhân đến trại giam xin xác nhận ủy quyền nhận tài sản cũng rất khó khăn, mất nhiều thời gian tổ chức thi hành án. Do đó, đối với các trường hợp tài sản có giá trị nhỏ, nên quy định thân nhân của phạm nhân có thể xin xác nhận của chính quyền địa phương về nhân thân để đến nhận tài sản tại cơ quan thi hành án, điều này cũng sẽ giản tiện bớt thủ tục và cũng tạo thuận lợi cho chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp.

Từ thực tiễn thi hành khoản trả lại tiền, tài sản có giá trị nhỏ nêu trên, có thể thấy, việc nghiên cứu xây dựng một cơ chế “thi hành án rút gọn” đối với các vụ việc thi hành án có giá trị nhỏ, tính chất đơn giản là vô cùng cần thiết để có thể giải quyết dứt điểm các việc thi hành án hoàn trả tiền, tài sản còn tồn đọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác THADS.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội


[1] Khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự.

[2] Điều 13 Thông tư số 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ Tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự.

[3] Điều 12 Thông tư số 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ Tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự.

[4] Xem thêm: Hoàng Thị Thanh Hoa, Trả lại tài sản thi hành án - Một số bất cập từ thực tiễn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: