Thứ tư 23/09/2026 09:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng

Bài viết phân tích những căn cứ xác định giao dịch có khả năng tư lợi cần kiểm soát, nhận diện các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng theo pháp luật Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về vấn đề này.


Trên thực tế có nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau về giao dịch có khả năng tư lợi, nhưng tựu trung lại, khái niệm về giao dịch có khả năng tư lợi hàm chứa ba yếu tố cơ bản là sự dịch chuyển quyền lợi của công ty sang cá nhân, sự vi phạm của người được ủy thác tham gia giao dịch và sự lạm dụng vị thế để tư lợi. Có thể hiểu giao dịch có khả năng tư lợi là giao dịch có khả năng sẽ gây thiệt hại về tài sản, quyền lợi của công ty do người đại diện tham gia giao dịch lạm dụng vị thế của mình nhằm thu lợi cho cá nhân. Để nhận biết chính xác hơn giao dịch có khả năng tư lợi cần so sánh nó với giao dịch công bằng, theo đó, giao dịch công bằng bao gồm cả các giao dịch có khả năng tư lợi được thực hiện trên cơ sở công khai đầy đủ, không vì lợi thế cá nhân, đảm bảo công bằng và trung thực.

1. Căn cứ xác định các giao dịch có khả năng tư lợi cần kiểm soát

Một giao dịch được cấu thành bởi nhiều yếu tố như chủ thể tham gia giao dịch, nội dung giao dịch, giá trị giao dịch… Pháp luật cũng dựa vào những yếu tố cấu thành của giao dịch để đưa ra những căn cứ pháp lý xác định giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cần phải kiểm soát. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, căn cứ vào chủ thể tham gia giao dịch. Công ty với tính chất là một pháp nhân, tự bản thân nó không thể xác lập giao dịch cho chính mình mà phải thông qua con người cụ thể, bởi vậy, giao dịch thể hiện ý thức của chủ thể tham gia giao dịch với những mục đích và động cơ nhất định. Xem xét yếu tố chủ thể tham gia giao dịch là một trong những căn cứ để xác định giao dịch có khả năng tư lợi, theo đó, hai chủ thể được chú ý nhiều nhất là người đại diện công ty tham gia giao dịch và người có liên quan của công ty.

Thứ hai, căn cứ vào giá trị giao dịch. Giá trị hợp đồng - giá trị giao dịch là một trong những nội dung cơ bản của một giao dịch. Giá trị của giao dịch bao hàm trong đó lợi ích mà công ty có thể đạt được, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc trục lợi. Người thực hiện hành vi trục lợi sẽ chia chác nhau một phần giá trị của giao dịch làm thiệt hại đến tài sản của công ty. Pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi đặc biệt quan tâm đến các giao dịch có giá trị lớn, bởi các giao dịch có giá trị lớn có khả năng ảnh hưởng đến cơ cấu tài chính và nền tảng chung của công ty. Dẫn đến lo ngại rằng, nếu để xảy ra tư lợi thì công ty sẽ phải hứng chịu những thiệt hại nghiêm trọng. Do đó, quyết định chấp thuận các giao dịch này cần được dành cho cơ quan quyền lực cao nhất của công ty là đại hội đồng cổ đông.

Thứ ba, căn cứ vào nội dung của giao dịch. Nội dung cơ bản của giao dịch về đối tượng, số lượng và chất lượng, giá cả và thanh toán, phương thức thực hiện hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên… cho biết các thông tin về mục đích và cách thức để đạt được mục đích của giao dịch. Pháp luật kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi chú ý đến giao dịch chứa đựng những nội dung bị cấm và giao dịch chứa đựng nội dung bất thường,

2. Nhận diện giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng theo pháp luật Việt Nam

Nhìn chung, tùy theo pháp luật mỗi nước mà công ty đại chúng được định nghĩa (hoặc được xác định cụ thể) khác nhau căn cứ theo hoạt động chào bán chứng khoán, quy mô vốn và cơ cấu tổ chức. Tại Việt Nam, Luật Chứng khoán năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (Luật Chứng khoán) đã dành một chương quy định về công ty đại chúng. Theo Điều 25 Luật Chứng khoán thì công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình như: (i) Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; (ii) Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán; (ii) Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên.

2.1. So với các công ty khác, pháp luật kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng có một số khác biệt căn bản xuất phát từ bản chất của công ty đại chúng và thực tiễn hoạt động quản trị công ty đại chúng. Cụ thể:

Thứ nhất, công ty đại chúng là loại hình công ty đối vốn điển hình, sự phân tách giữa sở hữu và điều hành tạo ra sự phức tạp và đa dạng trong quan hệ đại diện khác hẳn so với các loại hình công ty đối nhân và đối vốn khác. Nếu như trong doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty đối vối đơn giản và công ty trách nhiệm hữu hạn…, chủ sở hữu, thành viên công ty thường có mối quan thân thiết, hiểu biết lẫn nhau thậm chí chủ sở hữu đồng thời là người trực tiếp điều hành công ty thì công ty đại chúng cùng với việc chuyển nhượng cổ phiếu dễ dàng; các nhà đầu tư - chủ sở hữu công ty thường có số lượng lớn, thay đổi liên tục; các cổ đông chỉ quan tâm đến đồng vốn của mình mà thiếu sự quan tâm hoặc phó mặc quản trị công ty cho người đại diện. Như vậy, giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng nhiều hơn, đa dạng và phức tạp hơn so với các công ty khác nên đòi hỏi nhu cầu kiểm soát cao hơn.

Thứ hai, trong quản trị công ty, cơ cấu tổ chức của công ty đại chúng so với các loại hình công ty khác cũng đặc thù và phức tạp hơn, bởi vậy, cơ chế kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng cồng kềnh và chặt chẽ hơn. Hệ thống các văn bản nội bộ công ty đại chúng cũng đồ sộ hơn và phải tuân thủ sự điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật khác. Sự khác biệt này thể hiện rõ nét qua các nội dung kiểm soát cụ thể như ranh giới được phép và không được phép tiến hành giao dịch và cơ chế thông qua quyết định của đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, ban giám đốc… để tránh giao dịch có khả năng tư lợi; chế độ công khai hóa thông tin liên quan đến giao dịch trong quá trình xác lập và thực hiện giao dịch; về kiểm toán độc lập và kiểm soát nội bộ đối với các giao dịch để tránh tư lợi…

Thứ ba, kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau so với pháp luật kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong các mô hình công ty khác chỉ tuân thủ Luật Doanh nghiệp. Trong công ty đại chúng, vấn đề này không chỉ là nội dung cơ bản của Luật Doanh nghiệp mà còn có sự điều chỉnh của Luật Chứng khoán, bên cạnh đó, còn rất nhiều những văn bản hướng dẫn dưới luật và những khuyến nghị của các tổ chức quốc tế.

2.2. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng bao gồm những giao dịch sau:

Một là, giao dịch giữa công ty đại chúng với người có liên quan. Căn cứ pháp lý xác định giao dịch giữa công ty đại chúng với người có liên quan gồm: Điều 4, Điều 159, Điều 162 Luật Doanh nghiệp năm 2014; Điều 59 Luật Phá sản năm 2014; Điều 6 Luật Chứng khoán; Điều 25, Điều 26 Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017 của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng (Nghị định số 71/2017/NĐ-CP); điều lệ công ty.

Dù được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng tổng hợp lại người có liên quan của công ty đại chúng bao gồm:

- Nhóm các chủ thể có quan hệ trực tiếp với công ty đại chúng: Cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty; thành viên hội đồng quản trị; thành viên ban kiểm soát; giám đốc/tổng giám đốc, phó giám đốc/phó tổng giám đốc; người quản lý khác của công ty do điều lệ công ty quy định; nhóm người thỏa thuận cùng phối hợp để thâu tóm phần vốn góp, cổ phần hoặc lợi ích ở công ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của công ty, người được ủy quyền đại diện cho những người trên.

- Nhóm các chủ thể có quan hệ gián tiếp với công ty đại chúng gồm:

+ Cá nhân là vợ, chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người quản lý công ty hoặc của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty, cổ đông sở hữu cổ phần chi phối; người quản lý công ty mẹ; người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ; người được ủy quyền đại diện cho những người trên.

+ Tổ chức là công ty mẹ hoặc công ty con trong nhóm công ty, doanh nghiệp mà cổ đông sở hữu cổ phần chi phối; thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát, giám đốc/tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty có sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần; doanh nghiệp mà vợ, chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người quản lý công ty hoặc của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty hoặc của cổ đông sở hữu cổ phần chi phối cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng phần vốn góp trên 10% vốn điều lệ.

Về cơ bản, so với các văn bản pháp luật trước đây thì pháp luật hiện hành đã có những bước tiến đáng kể trong việc xác định người có liên quan làm tiền đề cho việc nhận diện và kiểm soát các giao dịch của công ty với người có liên quan. Tuy nhiên, khi nhận diện các giao dịch giữa công ty với người có liên quan các văn bản pháp luật áp dụng cho công ty đại chúng tiếp cận, định nghĩa và giải thích khái niệm người có liên quan và giao dịch của công ty với người có liên quan thiếu nhất quán. Cụ thể:

- Khoản 17 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 liệt kê người có liên quan của công ty là tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp. Trong khi đó, khoản 34 Điều 6 Luật Chứng khoán lại có cách tiếp cận khác và liệt kê các trường hợp người có liên quan là cá nhân hoặc tổ chức có quan hệ với nhau.

- Khoản 3 Điều 59 Luật Phá sản năm 2014 không quy định “anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người quản lý công ty” là người có liên quan của doanh nghiệp, còn các trường hợp khác quy định tương tự như Luật Doanh nghiệp năm 2014.

- Khoản 9 Điều 2 Nghị định số 71/2017/NĐ-CP quy định về người có liên quan là tất cả cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 17 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và khoản 34 Điều 6 Luật Chứng khoán.

Như vậy, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Phá sản và các văn bản dưới luật không thống nhất, nhưng khi áp dụng pháp luật thì công ty đại chúng phải áp dụng tất cả các quy định trên. Điều này gây khó khăn cho các công ty trong quá trình áp dụng pháp luật cũng như việc xây dựng điều lệ công ty để kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi.

Hai là, giao dịch có giá trị lớn. Căn cứ pháp lý để xác định giao dịch có giá trị lớn là Điều 162 Luật Doanh nghiệp năm 2014; khoản 4 Điều 26 Nghị định số 71/2017/NĐ-CP; Điều 15 Phụ lục I Thông tư số 95/2017/TT-BTC ngày 22/9/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 71/2017/NĐ-CP và căn cứ vào điều lệ công ty. Để kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi, pháp luật trao quyền quyết định giao dịch cho đại hội đồng cổ đông (những người chủ sở hữu thực sự của công ty), theo đó, đại hội đồng cổ đông sẽ quyết định đối với những giao dịch có giá trị lớn trong hai trường hợp sau:

Trường hợp 1, giao dịch có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty (nếu như điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác nhỏ hơn).

Trường hợp 2, hợp đồng hoặc giao dịch giữa công ty đại chúng với một hoặc nhiều thành viên hội đồng quản trị, kiểm soát viên, giám đốc/tổng giám đốc), người điều hành khác và các cá nhân, tổ chức có liên quan đến họ hoặc công ty, đối tác, hiệp hội, hoặc tổ chức mà thành viên hội đồng quản trị, kiểm soát viên, giám đốc/tổng giám đốc, người điều hành khác hoặc những người liên quan đến họ là thành viên, hoặc có liên quan lợi ích tài chính có giá trị lớn hơn hoặc bằng 20% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất (khoản 5 Điều 40 Phụ lục I Thông tư số 95/2017/TT-BTC). Ở trường hợp này giao dịch hội tụ đủ hai yếu tố: Giao dịch với người có liên quan và giá trị của giao dịch lớn. Đây cũng là đặc điểm khác biệt giữa công ty đại chúng so với công ty khác.

Ba là, giao dịch bị cấm trong công ty đại chúng gồm: (i) Giao dịch nội gián: Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các đạo luật doanh nghiệp trước đó không nhắc đến những giao dịch nội gián trong công ty đại chúng. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm hiểu những giao dịch này thông qua các quy định của Luật Chứng khoán và Bộ luật Hình sự. Khoản 3 Điều 9 Luật Chứng khoán cấm hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán cho chính mình hoặc cho người khác; tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho người khác mua, bán chứng khoán trên cơ sở thông tin nội bộ. Bên cạnh đó, Điều 210 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) cũng quy định giao dịch nội gián là loại giao dịch vi phạm pháp luật hình sự và người thực hiện giao dịch này là tội phạm. Với loại tội phạm này, Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với cả cá nhân và pháp nhân thương mại. (ii) Giao dịch có khả năng tư lợi bị cấm khi công ty lâm vào tình trạng phá sản hoặc giải thể: Theo Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2014, kể từ khi có quyết định giải thể doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp thực hiện các hoạt động như từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ; chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp; cầm cố, thế chấp, tặng cho tài sản; chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực…

Như vậy, ngoài việc quan tâm đến một số giao dịch của công ty với người có liên quan, giao dịch có giá trị lớn, giao dịch nội gián và giao dịch khi công ty lâm vào tình trạng phá sản hoặc giải thể thì Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật liên quan không quy định về các tiêu chí để nhận diện giao dịch bất thường của công ty mà chỉ đưa ra các quy định mở dành cho điều lệ công ty điều chỉnh đối với các giao dịch này. Điều đó cũng có nghĩa rằng, nếu như điều lệ công ty không quy định hoặc không cụ thể hóa được các tiêu chí để xác định giao dịch bất thường của công ty thì sẽ không có căn cứ pháp lý để xác định và kiểm soát đối với những giao dịch có nội dung bất thường của công ty. Đặc biệt, đối với những giao dịch mang tính chất đơn phương của công ty, pháp luật Việt Nam cũng như điều lệ của hầu hết các công ty đại chúng không nhận định cụ thể về khả năng tư lợi của loại giao dịch này.

3. Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến nhận diện giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng

Thứ nhất, khi hoàn thiện quy định pháp luật về nhận diện giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng, cần làm rõ căn cứ pháp lý để xác định giao dịch có khả năng tư lợi: Về người đại diện tham gia giao dịch; người có liên quan của công ty; giá trị tài sản tham gia giao dịch; nội dung bất thường của giao dịch. Trên cơ sở đó, pháp luật điều chỉnh chung (pháp luật doanh nghiệp, pháp luật chứng khoán, pháp luật phá sản, các văn bản pháp luật liên quan) và văn bản nội bộ của công ty cần nhận diện đầy đủ các giao dịch phải kiểm soát bao gồm: Giao dịch giữa công ty đại chúng với người có liên quan; giao dịch có giá trị lớn; giao dịch nội gián; giao dịch trong các trường hợp đặc biệt (công ty lâm vào tình trạng phá sản hoặc giải thể); giao dịch bất thường (như giao dịch đơn phương của công ty, giao dịch có giá trị chênh lệnh lớn so với mặt bằng chung của thị trường tại thời điểm giao kết…).

Thứ hai, pháp luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi cần đưa ra định nghĩa về giao dịch có khả năng tư lợi. Nếu như Luật Doanh nghiệp, Nghị định số 71/2017/NĐ-CP, Thông tư số 95/2017/TT-BTC chưa quy định thì điều lệ công ty cần chú ý đến vấn đề này để bổ sung những lỗ hổng của pháp luật.

Luật Chứng khoán hiện hành cần sửa đổi, bổ sung về khái niệm người có liên quan cho phù hợp với khái niệm tại khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các quy định về giao dịch có khả năng tư lợi cần mở rộng đối tượng là người quản lý trong công ty. Theo khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, người quản lý công ty bao gồm chủ tịch hội đồng quản trị; thành viên hội đồng quản trị; giám đốc/tổng giám đốc và cá nhân khác giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại điều lệ công ty. Tuy nhiên, xuất phát từ cơ cấu tổ chức cồng kềnh, phức tạp của mô hình công ty đại chúng thì cần bổ sung một số chức danh như phó giám đốc, phó tổng giám đốc, kế toán trưởng, giám đốc chi nhánh, trưởng văn phòng đại diện… Ngoài ra, một số chức danh quản lý ở những vị trí chủ chốt khác điều lệ cần quy định cụ thể.

Thứ ba, các công ty cần nhận thức được vai trò và giá trị của các văn bản nội bộ trong công ty, đặc biệt là điều lệ công ty. Luật Doanh nghiệp cần có quy định riêng khẳng định giá trị pháp lý và hiệu lực điều chỉnh của điều lệ công ty đối với tổ chức và hoạt động của công ty nói chung, vấn đề kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi nói riêng. Bởi lẽ, không có một tiêu chí chung nào để đánh giá tính bất thường của giao dịch mà đúng với mọi công ty. Hơn ai hết, các công ty mới là chủ thể nắm được đặc điểm kinh doanh, cơ cấu quản trị của công ty mình. Khi hai công ty cùng tham gia vào một giao dịch, mỗi công ty áp dụng tiêu chí khác nhau để phân loại giao dịch bất thường, vì vậy, cùng một giao dịch có thể được coi là bất thường đối với công ty này, nhưng không phải là giao dịch bất thường với công ty khác. Thực tế, để xác định được những giao dịch nào có nội dung quan trọng hay tính bất thường của giao dịch là một vấn đề phức tạp phụ thuộc vào mỗi giao dịch, mỗi công ty, trong từng tình huống cụ thể. Do đó, vai trò của điều lệ công ty cần được đề cao trong quá trình điều chỉnh đối với các giao dịch bất thường./.

TS. Nguyễn Thanh Lý

Học viện Khoa học xã hội



Tài liệu tham khảo:

1. Bùi Xuân Hải (2007), Học thuyết đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4/2007.

2. Black’s Law Dictionary Second Pocket Edition (2001), West Publishing CO, USA.

3. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD (2004), Bộ quy tắc về quản trị công ty của OECD.

4. GS.TS. Lê Hồng Hạnh (1999), “Buôn bán nội gián trong hoạt động của các công ty trên thị trường chứng khoán”, Tạp chí Luật học số 5.

5. Zohar Goshen (2003), The Efficiency of Controlling Corporate Self-Dealing: Theory Meets Reality.

6. PGS.TS. Ngô Huy Cương (Chủ biên) (2013), Giáo trình Luật Thương mại phần chung và thương nhân, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

7. Tổ chức tài chính quốc tế - IFC (2010), Cẩm nang quản trị công ty.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: