Thứ sáu 01/05/2026 06:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Tóm tắt: Bài viết bàn về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa và dịch vụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những vấn đề còn tồn tại trong quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hàng hóa, dịch vụ. Trên cơ sở đó, các tác giả đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến hàng hóa, dịch vụ trong tương lai.

Abstract: The article discusses the limitation of freedom of contract related to goods and services in the context of international integration, the remaining issues in the current legal regulations related to goods and services. On that basis, the authors offer some solutions to improve the legal provisions related to goods and services in the future.

1. Khái quát chung về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

1.1. Sự cần thiết giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Tự do hợp đồng là một trong những quyền kinh tế cơ bản của con người được pháp luật của nhiều quốc gia thừa nhận, được bảo đảm thực hiện trên thực tế bằng nhiều cách thức và biện pháp khác nhau. Tuy nhiên, tự do hợp đồng không có nghĩa là các chủ thể giao kết hợp đồng được phép thỏa thuận về tất cả những vấn đề, kể cả trường hợp vấn đề đó nằm ngoài sự cho phép của pháp luật. Giới hạn tự do hợp đồng có thể được đặt ra ở nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến chủ thể, nội dung, hình thức hợp đồng. Trong phạm vi bài viết, các tác giả tập trung nghiên cứu và phân tích giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ - một khía cạnh nhỏ thuộc nội dung hợp đồng. Hiện nay, nhiều quy định liên quan đến hàng hóa, dịch vụ thuộc các ngành, nghề kinh doanh đã có sự thay đổi lớn. Một số hàng hóa, dịch vụ thuộc ngành, nghề kinh doanh bị bãi bỏ, một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được bổ sung nhưng đã giảm xuống còn 227 so với 243 ngành, nghề theo Luật Đầu tư năm 2014 và Luật số 03/2016/QH 14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư năm 2014, cũng như mở rộng nội dung ưu đãi đầu tư đối với một số hàng hóa, dịch vụ[1]. Các xu hướng nói trên mà pháp luật thương mại Việt Nam hướng tới không đồng nghĩa với việc sẽ bảo đảm cho tất cả các hàng hóa, dịch vụ đều được đem trao đổi, mua bán tự do bởi quá trình hội nhập quốc tế có thể làm xuất hiện một số hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng tiêu cực đến giao lưu dân sự nói chung và hoạt động thương mại nói riêng. Việc đặt ra những giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ là một nội dung quan trọng và cần thiết bởi một số lý do cơ bản sau:

(i) Bảo đảm lợi ích của bên chủ thể, bảo đảm an toàn, cũng như bảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người. Hiện nay, còn tồn tại một số hàng hóa nếu được phép lưu thông có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người, ví dụ như các chất ma túy, các loại pháo nổ…

(ii) Bảo vệ thuần phong mỹ tục, các giá trị đạo đức và truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. Những giá trị này cần được bảo vệ đặc biệt khi nền kinh tế trong nước đang ngày càng phát triển, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ.

(iii) Bảo vệ môi trường sống bao gồm bảo vệ các loài thực vật, động vật quý hiếm. Theo báo cáo của Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ 01/01/2018 đến ngày 31/5/2019, lực lượng kiểm lâm toàn quốc đã bắt giữ và xử lý 560 vụ vi phạm liên quan đến bảo vệ động vật rừng. So với trước đây số vụ vi phạm mua bán, vận chuyển các loài động vật, thực vật hoang dã giảm nhưng tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng và tinh vi hơn[2]. Từ năm 1994 nước ta ký kết và trở thành thành viên của Công ước mua bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm (Công ước Cites). Một số nội dung quan trọng của Công ước đã được nội luật hóa, việc kinh doanh các mẫu vật liên quan đến thực vật, động vật quý hiếm bị nghiêm cấm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

(iv) Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của cộng đồng và sự phát triển chung của nền kinh tế, xã hội. Xét dưới khía cạnh này sẽ có một số hàng hóa, dịch vụ chỉ thuộc quyền kinh doanh của Nhà nước (hàng hóa, dịch vụ độc quyền nhà nước). Điều này cũng có nghĩa là đối với một số hàng hóa, dịch vụ độc quyền nhà nước sẽ do Nhà nước thực hiện và quản lý, các chủ thể khác không được sử dụng các hàng hóa, dịch vụ này đem mua bán, trao đổi trở thành đối tượng của hợp đồng trong hoạt động thương mại trừ trường hợp được Nhà nước cho phép khi đáp ứng các điều kiện và tiêu chuẩn Nhà nước đặt ra.

1.2. Quy định của pháp luật hiện hành về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Căn cứ vào Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020 và các văn bản pháp lý khác có liên quan, giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ được thể hiện như sau:

Một là, hàng hóa, dịch vụ không thể trở thành đối tượng hợp đồng khi hàng hóa, dịch vụ đó bị cấm kinh doanh. Nhóm hàng hóa, dịch vụ này được quy định cụ thể tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020 và Điều 10 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (Nghị định số 31/2021/NĐ-CP), bao gồm các chất ma túy được quy định tại Phụ lục I của Luật; các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục II của Luật; mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục III của Luật này; mua bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể người, bào thai người, hoạt động liên quan đến sinh sản vô tính trên người; pháo nổ; hoạt động mại dâm và dịch vụ đòi nợ thuê. Một số hàng hóa, dịch vụ cũng được loại trừ khỏi danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh như buôn bán phụ nữ, trẻ em; kinh doanh các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan… Tuy nhiên, việc loại bỏ một số hàng hóa, dịch vụ khỏi danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh không có nghĩa là các chủ thể của hợp đồng được quyền được lựa chọn hàng hóa, dịch vụ này để kinh doanh bởi việc thực hiện các hành vi kinh doanh với hàng hóa, dịch vụ đó là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo quy định của các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Xuất bản năm 2012… Quy định về một số loại hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh ở Việt Nam hiện nay cũng có sự tương đồng với một số quốc gia khác như Lào, Myanmar, Brunei và một số công ước quốc tế[3].

Hai là, một số hàng hóa, dịch vụ chỉ trở thành đối tượng hợp đồng khi đáp ứng điều kiện cần thiết do pháp luật quy định. Nhóm hàng hóa, dịch vụ này thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, được quy định cụ thể tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư năm 2020 với 227 loại hàng hóa, dịch vụ và Điều 11 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP. Một số loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện bị bãi bỏ như kinh doanh dịch vụ logistics, xuất khẩu, nhập khẩu điện… Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì đây là nhóm hàng hóa, dịch vụ được bãi bỏ không liên quan trực tiếp hoặc không chứng minh được có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội hoặc đã được quản lý bằng quy chuẩn kỹ thuật[4]. Điều này cho thấy các hàng hóa, dịch vụ hiện nay thuộc nhóm này đã giảm so với quy định trước, góp phần tạo ra nhiều cơ hội đầu tư kinh doanh, cũng như đã mở rộng hơn quyền tự do kinh doanh trong hoạt động thương mại cho các chủ thể kinh doanh.

Ba là, một số hàng hóa, dịch vụ chỉ do cơ quan nhà nước có quyền thực hiện hoặc các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao trách nhiệm thực hiện. Đây là nhóm hàng hóa, dịch vụ độc quyền nhà nước và các chủ thể không được Nhà nước giao thực hiện thì không có quyền tự do kinh doanh đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này. Hiện nay, vấn đề độc quyền nhà nước đối với hàng hóa, dịch vụ ở nước ta được quy định tại khoản 4 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 94/2017/NĐ-CP ngày 10/8/2017 của Chính phủ về hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại với 20 hàng hóa, dịch vụ kèm theo một hoặc một số công đoạn của hoạt động thương mại tương ứng. Nghị định này được ban hành đã hệ thống hóa lại hàng hóa, dịch vụ độc quyền trong hoạt động thương mại trước đây được quy định rải rác trong hệ thống pháp luật như Luật Điện lực, Luật Hàng không dân dụng, Luật Xuất bản, Luật Đường sắt… Như vậy, bằng việc quy định danh mục hàng hóa, dịch vụ độc quyền nhà nước, văn bản pháp lý này đã ngăn cản một cách đáng kể các chủ thể kinh doanh tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ này.

2. Thực trạng pháp luật hiện hành về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Thứ nhất, đối với hàng hóa, dịch vụ không thể trở thành đối tượng hợp đồng khi hàng hóa, dịch vụ đó bị cấm kinh doanh. Trong nhóm này, dịch vụ đòi nợ được Luật Đầu tư năm 2020 ghi nhận thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh. Quy định này đã tạo ra trên thực tế hai luồng ý kiến trái chiều nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, trước đây dịch vụ đòi nợ thuộc nhóm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện nhưng đã xuất hiện nhiều biến tướng, làm xuất hiện nhiều băng nhóm tội phạm, hoạt động tín dụng đen, gây mất trật tự xã hội. Vì vậy cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ là cần thiết[5]. Quan điểm thứ hai cho rằng, việc thuê một đơn vị trung gian đứng ra thu hồi nợ là nhu cầu khách quan xuất phát từ thực tế, để hạn chế các tiêu cực từ việc kinh doanh dịch vụ đòi nợ này thì nên bổ sung thêm các quy định có tính chặt chẽ hơn đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ mà không nên cấm như quy định hiện nay[6].

Thứ hai, đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện: Quy định pháp luật hiện hành về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện vẫn còn những hạn chế, bất cập. Một số hàng hóa, dịch vụ không nhận thấy tác động đáng kể đến lợi ích công cộng; một số hàng hàng hóa, dịch vụ không thấy rõ sự đặc thù so với hàng hóa, dịch vụ thông thường khác; một số hàng hóa, dịch vụ trong danh mục xác định phạm vi kiểm soát quá mức cần thiết. Có thể dẫn chứng một số hàng hóa, dịch vụ như kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng xe ô tô (mục 72). Dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng xe ô tô là dịch vụ kỹ thuật thông thường tương tự như với hoạt động bảo hành, bảo dưỡng các hàng hóa khác. Dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng xe ô tô thường đi kèm với dịch vụ bán hàng hoặc sản xuất ô tô. Nhà sản xuất phải có trách nhiệm với chất lượng sản phẩm của mình. Vì vậy, dịch vụ này chưa thể hiện được sự đặc thù so với các dịch vụ tương tự khác để có thể quy định về điều kiện kinh doanh. Hơn nữa, việc đặt ra điều kiện kinh doanh đối với dịch vụ này cũng không thể hiện được mục tiêu quản lý nào trong các tiêu chí mà pháp luật hiện hành đã đưa ra. Do đó, quy định dịch vụ này thuộc ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là bất hợp lý. Một số ngành, nghề kinh doanh khác như kinh doanh dịch vụ in, trừ in bao bì (mục 121), dịch vụ kinh doanh lữ hành (mục 196) đã được điều chỉnh bởi pháp luật về xuất bản, pháp luật về giao thông vận tải (đường bộ, đường sông..)… Vì vậy, quy định các dịch vụ nói trên thuộc ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là không cần thiết[7].

Thứ ba, một số hàng hóa, dịch vụ chỉ do cơ quan nhà nước có quyền thực hiện hoặc các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao trách nhiệm thực hiện: Vấn đề độc quyền nhà nước đối với việc kinh doanh 20 loại hàng hóa, dịch vụ hiện nay ở Việt Nam chưa thật sự phù hợp. Ví dụ như việc quản lý, khai thác trong trường hợp giao kế hoạch hệ thống thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên huyện, kè biển thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ độc quyền nhà nước là bất hợp lý bởi thủy lợi là lĩnh vực cần được khuyến khích đầu tư tham gia để tăng tính cạnh tranh, giảm giá thành dịch vụ, hạ giá đầu vào cho Ngành Nông nghiệp thì lại cấm các nhà đầu tư tư nhân tham gia[8]. Tương tự, nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ độc quyền nhà nước như hiện nay cũng bất hợp lý bởi Tổng công ty thuốc lá Việt Nam đã được cổ phần hóa, Nhà nước nắm giữ 51% vốn điều lệ[9], tức là cho phép nhà đầu tư tư nhân tham gia vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thuốc lá. Do đó, việc nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ độc quyền nhà nước là không hợp lý.

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Một là, đối với hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh: Khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020 nên được sửa đổi theo hướng, chuyển “dịch vụ đòi nợ” là một trong những ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh sang ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại Điều 7 Luật Đầu tư năm 2020. Lý do là trước đây cũng đã có những quy định pháp luật về việc kinh doanh dịch vụ đòi nợ, đó là Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ và Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này chưa thực sự có hiệu quả; nhiều khoản nợ vẫn không đòi được dẫn đến xuất hiện nhiều biến tướng làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hiện nay, ở một số quốc gia trên thế giới, dịch vụ đòi nợ không bị cấm kinh doanh, nhưng việc kinh doanh dịch vụ này phải tuân thủ các quy định của pháp luật một cách nghiêm ngặt. Ví dụ như ở Hàn Quốc, dịch vụ đòi nợ là một vấn đề bắt đầu được quy định ở Luật về thông tin tín dụng (1995), nhưng kèm theo đó có các quy định chặt chẽ về điều kiện kinh doanh dịch vụ đòi nợ, về phí thực hiện dịch vụ đòi nợ, về chủ thể kinh doanh dịch vụ đòi nợ, phạm vi các khoản nợ được phép thực hiện dịch vụ đòi nợ[10]. Ở Nhật Bản, Luật Dịch vụ thu hồi nợ được ban hành năm 1999 với những quy định chặt chẽ liên quan đến chủ thể được phép thu hồi nợ; quy định cấp phép thực hiện nghiệp vụ thu hồi nợ; quy định về ngành thu hồi nợ… Cho đến nay, Luật Dịch vụ thu hồi nợ của Nhật Bản đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế. Điều đó cho thấy việc Nhà nước Nhật Bản ban hành Luật Thu hồi vốn là đúng đắn[11]. Pháp luật của Thái Lan quy định thời gian gọi điện thu hồi nợ đối với người vay nợ là từ 8 giờ đến 20 giờ; ngoài khoảng thời gian này, người thực hiện dịch vụ đòi nợ không được gọi điện để đòi nợ. Pháp luật của Hoa Kỳ quy định thời gian gọi điện để thu hồi nợ là từ 8 giờ đến 21 giờ và không được phép tiếp cận với hàng xóm hay những người liên quan khác với mục đích là nhằm bảo vệ uy tín của người đi vay[12]. Kinh nghiệm của một số quốc gia cho thấy Nhà nước vẫn nên cho phép các nhà đầu tư kinh doanh thực hiện dịch vụ đòi nợ, nhưng pháp luật cần có những quy định chặt chẽ và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi nước.

Hai là, đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, cần tiếp tục được rà soát theo các xu hướng sau: (i) Phù hợp với những tiêu chí “vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng” đã được thể hiện tại khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2020; (ii) Các ngành, nghề kinh doanh có thể quản lý bằng hình thức khác thì không nhất thiết phải đặt ra điều kiện kinh doanh; (iii) Các ngành, nghề kinh doanh không nhận thấy rõ tính đặc thù so với ngành, nghề kinh doanh thông thường thì cũng không cần thiết đặt ra điều kiện kinh doanh cho ngành, nghề đó; (iv) Các ngành, nghề kinh doanh có phạm vi không rõ ràng thì cần phải xác định cụ thể hơn (ví dụ: Kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Công Thương; kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

Ba là, một số hàng hóa, dịch vụ chỉ do cơ quan Nhà nước có quyền thực hiện hoặc các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao trách nhiệm thực hiện: Đối với nhóm hàng hóa, dịch vụ này cần được rà soát lại theo hướng, chỉ nên duy trì sự độc quyền nhà nước đối với việc kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng và một số hàng hóa, dịch vụ khác nhằm bảo đảm ổn định và an toàn cho kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Một số hoạt động như nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà hay quản lý, khai thác trong trường hợp giao kế hoạch đối với công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên huyện, kè biển… có thể chuyển sang danh mục hàng hóa kinh doanh có điều kiện, nghĩa là các chủ thể phải tuân thủ các điều kiện mà pháp luật quy định khi tiến hành kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ đó.

Việc triển khai thực thi quy định pháp luật về hàng hóa, dịch vụ trong tương lai có thể phát sinh nhiều bất cập và hạn chế làm ảnh hưởng đến việc xác lập hợp đồng của các bên chủ thể trong hoạt động thương mại. Vì vậy, một số giải pháp được các tác giả đề cập trong bài viết là những giải pháp để tham khảo nhằm hoàn thiện hơn nữa quy định pháp luật về giới hạn tự do hợp đồng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh

Khoa Luật, Trường Đại học Thương mại

ThS. Trần Thị Lan Phương

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

[1]. https://nhandan.com.vn/thoi-su-phap-luat/tao-dong-luc-thu-hut-lan-song-dau-tu-moi-637436/.

[2]. Nguyễn Văn Pha (2020), Giải pháp cấp bách bảo vệ động vật hoang dã, quý, hiếm ở Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, truy cập ngày 01/10/2020.

[3].https://tuoitre.vn/dong-nam-a-cam-mai-dam-van-hoanh-hanh-20180424113835291.htm#:~:text= Ngo%C3%A0i%20g%C3%A1i%20n%E1%BB%99i%20%C4%91%E1%BB%8Ba%20c%C3%B2n,%C3%ADt%20khi%20b%E1%BB%8B%20x%E1%BB%AD%20ph%E1%BA%A1t.

[4]. https://nhandan.com.vn/thoi-su-phap-luat/tao-dong-luc-thu-hut-lan-song-dau-tu-moi-637436/.

[5]. https://dangcongsan.vn/phap-luat/quy-dinh-chat-che-cac-dieu-kien-hoat-dong-dich-vu-kinh-doanh-doi-no-555708.html.

[6]. https://dangcongsan.vn/phap-luat/quy-dinh-chat-che-cac-dieu-kien-hoat-dong-dich-vu-kinh-doanh-doi-no-555708.html.

[7]. Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2017), Báo cáo rà soát điều kiện kinh doanh và quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam, tr.16,18, 20.

[8]. https://tinnhanhchungkhoan.vn/tro-treu-quy-dinh-hang-hoa-dich-vu-doc-quyen-nha-nuoc-post153748.html.

[9]. https://vietnamfinance.vn/co-phan-hoa-vinataba-nha-nuoc-nam-51-von-20170508111505998.htm.

[10]. Mục kinh nghiệm trao đổi, kinh nghiệm quản lý dịch vụ đòi nợ ở Hàn Quốc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, https://www.sbv.gov.vn.

[11]. Trí Dũng, “Xử lý nợ xấu: Câu chuyện về ngành xử lý nợ Nhật Bản”, https://ndh.vn.

[12]. Bản tin Sputnik Việt Nam, “Việt Nam sẽ cấm đòi nợ thuê, đầu tư nước ngoài đe dọa chủ quyền và mua bán bào thai”, https://vn.sputniknews.com.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: