Thứ năm 14/05/2026 22:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý Dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi)

Điều 5 Dự thảo Luật trình Quốc hội (tháng 5/2015) quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ, tuy nhiên, một số quy định tại Điều này cần nghiên cứu, cân nhắc đảm bảo đúng là nguyên tắc trong tổ chức hoạt động của Chính phủ mà không lẫn với nguyên tắc hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, cũng không lẫn với mục tiêu, yêu cầu của Luật này cần hướng tới.

Dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) là một trong những dự án luật nhằm triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013. Việc ban hành Luật này sẽ góp phần cụ thể hóa các quy định và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến Chính phủ; khắc phục những vướng mắc, bất cập, hạn chế trong các quy định của Luật Tổ chức Chính phủ hiện hành và trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của Chính phủ đã được chỉ ra trong quá trình tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992. Việc xây dựng Luật này hướng đến mục tiêu xây dựng một Chính phủ mạnh, năng động, sáng tạo, ứng phó kịp thời với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy các quá trình cải cách pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp phù hợp với chủ trương, đường lối mà các văn kiện Đại hội Đảng XI đã đề ra.

1. Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ

Điều 5 Dự thảo Luật trình Quốc hội (tháng 5/2015) quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ, tuy nhiên, một số quy định tại Điều này cần nghiên cứu, cân nhắc đảm bảo đúng là nguyên tắc trong tổ chức hoạt động của Chính phủ mà không lẫn với nguyên tắc hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, cũng không lẫn với mục tiêu, yêu cầu của Luật này cần hướng tới.

Để bảo đảm phù hợp với tính năng động, linh hoạt trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các Bộ và nhất là để làm cơ sở cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong quá trình đề xuất thành lập tổ chức bộ máy, phân bổ nhân sự, Luật này cần bổ sung một số nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ như: (i) Cơ cấu tổ chức phải bảo đảm thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội; (ii) Bảo đảm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của Chính phủ một cách chủ động; (iii) Bảo đảm tiết kiệm chi phí và hiệu quả; (iv) các đơn vị tổ chức và nhân sự cần được thiết lập với quy mô và số lượng phù hợp, ít tầng nấc và theo mức độ, yêu cầu công việc...

2. Về cơ cấu tổ chức Chính phủ

Dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ không nên quy định cứng trong Luật số lượng, tên gọi các bộ, cơ quan ngang bộ nhằm tạo điều kiện cho Quốc hội quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ (khoản 1 Điều 95) và Quốc hội thành lập Chính phủ khi Quốc hội hết nhiệm kỳ tại đầu nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội (Điều 97 của Hiến pháp). Thực tiễn thời gian qua cho thấy, Luật Tổ chức Chính phủ được ban hành từ năm 2001 đến nay mới sửa đổi, trong khi đó cơ cấu tổ chức của Chính phủ được sắp xếp lại nhiều lần hơn. Việc quy định cứng số lượng tên gọi các bộ, cơ quan ngang bộ có thể làm khó khăn, chậm trễ cho quá trình rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương cũng như chủ trương xây dựng mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực được ghi nhận tại Nghị quyết số 39-NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 17/4/2015. Nên chăng, Luật chỉ quy định mang tính nguyên tắc như: Yêu cầu tổ chức bộ máy các bộ tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, tiết kiệm. Luật cũng có thể xác định các tiêu chí cụ thể cho việc thành lập một số cơ quan bộ hoặc các cơ quan cấp trung ương (do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập; tiêu chí cho việc thành lập các tổ chức phối hợp liên ngành của Chính phủ, của các bộ);... cùng với các quy định có tính nguyên tắc khác đủ để Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội có thể giám sát, chất vấn nếu như Chính phủ, các bộ trưởng không tuân thủ các quy định, nguyên tắc Luật đề ra.

3. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ

Việc Dự án Luật cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn Chính phủ quy định tại Điều 96 Hiến pháp năm 2013 là hợp lý, tuy nhiên, trong điều kiện các luật chuyên ngành còn đang chưa thể hiện tinh thần phân cấp, phân quyền theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 nên Luật này không quy định chi tiết vào từng nội dung của các nhiệm vụ kinh tế - xã hội (tức là không cụ thể hóa khoản 3 Điều 96 Hiến pháp năm 2013) mà chỉ quy định làm rõ hơn các nhiệm vụ quy định tại các khoản còn lại của Điều 96; đồng thời Luật này cần quy định rõ các lĩnh vực không phân cấp, phân quyền và nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong các lĩnh vực không phân cấp, phân quyền này. Đối với các lĩnh vực sẽ phân cấp, phân quyền cho địa phương, việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Chính phủ, các Bộ trong từng lĩnh vực sẽ do các luật chuyên ngành xác định căn cứ vào điều kiện thực tế và khả năng của chính quyền địa phương mỗi cấp. Bên cạnh đó, cần phải rà soát nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong các lĩnh vực cụ thể tránh chồng chéo, trùng lặp.

Nhằm tăng cường tính hiệu quả trong hoạt động của Chính phủ: Chính phủ cần tăng cường họp thường xuyên (có thể là hàng tuần hoặc một tháng 2 phiên thay vì 1 phiên/1 tháng như hiện nay) để Chính phủ có thể tập trung hoạch định chính sách. Ngoài ra, nên có các cuộc họp cấp Thứ trưởng (tiến hành trước khi diễn ra phiên họp Chính phủ) để giải quyết các vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau giữa các bộ, ngành hoặc các vấn đề cần phải đưa ra thảo luận tại phiên họp của Chính phủ, đặc biệt là xử lý tốt các vấn đề kỹ thuật trước khi họp Chính phủ. Theo đó, cần tăng cường các phiên họp do Lãnh đạo Văn phòng Chính phủ chủ trì để giải quyết những vấn đề còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, ngành.

Việc đổi mới hoạt động của Chính phủ cũng phải tính tới sao cho hoạt động của các thành viên Chính phủ được đầy đủ, đúng ý nghĩa, vị trí, theo đó, Bộ trưởng phải tập trung vào công tác hoạch định chính sách vĩ mô (bao gồm cả xác định mục tiêu, kế hoạch, chương trình, chiến lược quốc gia thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách, xây dựng pháp luật và tổ chức thực thi, hướng dẫn pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực…) và cần hạn chế tối đa giải quyết các vấn đề sự vụ, kể cả các vấn đề chuyên môn liên quan đến ngành, lĩnh vực.

4. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ

Luật cần thể hiện được đầy đủ vị thế, vai trò của Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật; lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Do đó, Luật cần làm nổi bật địa vị pháp lý của Thủ tướng và quy định cụ thể các nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với vị thế và vai trò của Thủ tướng và thống nhất, đồng bộ với các quy định khác liên quan đến thẩm quyền của Thủ tướng đã được Hiến pháp quy định. Ví dụ: bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Thủ tướng Chính phủ trong việc giao quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong trường hợp khuyết Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong khi chờ Quốc hội phê chuẩn và Chủ tịch nước bổ nhiệm; tạm thời giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp chưa bầu được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; nhiệm vụ phê duyệt danh sách nhân sự giới thiệu Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; phê chuẩn, phê duyệt danh sách nhân sự trước khi giới thiệu bầu cử vào các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương...

5. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và địa vị pháp lý của bộ, cơ quan ngang bộ

Dự án Luật cần phân định rõ nhiệm vụ của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách thành viên Chính phủ và tư cách người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ; quy định khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ tại Dự thảo Luật. Trong điều kiện hiện nay, bộ máy hành chính còn tương đối cồng kềnh, có thể quy định chặt chẽ về cơ cấu tổ chức của bộ, tiêu chí thành lập bộ, cơ quan ngang bộ (vì Quốc hội là chủ thể thành lập các bộ); tuy nhiên, đề nghị cân nhắc việc quy định chi tiết về cơ cấu tổ chức của các đơn vị dưới bộ vì như vậy thể hiện sự can thiệp của nhánh lập pháp đối với quyền hành pháp; khó bảo đảm cho Chính phủ “thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia” (khoản 5 Điều 96 Hiến pháp năm 2013); Thủ tướng Chính phủ “lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương; bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia” (khoản 2 Điều 98 Hiến pháp năm 2013); Bộ trưởng “lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ” (khoản Điều 99 Hiến pháp năm 2013).

Cách quy định quá cụ thể sẽ làm cho các Bộ trưởng mất đi quyền chủ động trong điều hành, sắp xếp về mặt tổ chức; nhất là Luật không nên quy định về số lượng cấp phó của các bộ, cơ quan ngang bộ và đơn vị thuộc bộ vì vấn đề này thuộc về điều hành hành chính. Luật không nên can thiệp ở cấp thấp hơn vì không phù hợp với cơ chế phân công quyền lực rõ ràng hiện nay theo tinh thần Hiến pháp 2013. Tương tự, việc quy định số lượng cấp phó của Bộ, cơ quan ngang bộ là cần thiết nhưng cần có cơ chế “mềm” để có thể linh hoạt trong trường hợp cần thiết. Đối với số lượng cấp phó của các đơn vị thuộc Bộ quy định cứng đồng loạt cho các đơn vị là không hợp lý, dẫn đến khó chủ động cho cấp có thẩm quyền quyết định để phù hợp với số lượng công việc của từng đơn vị trong từng thời kỳ. Nếu quy định cứng thì cần bổ sung nguyên tắc: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đảm bảo tổng số cấp phó trong bộ, cơ quan ngang bộ không vượt quá số lượng quy định tại văn bản này, trên cơ sở đó, tùy thuộc vào khối lượng công việc của từng đơn vị, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cân đối giữa các đơn vị trong tổng số cấp phó đó.

Để Bộ trưởng làm tốt vai “thành viên Chính phủ”, cần xác định rõ địa vị pháp lý và trách nhiệm của Thứ trưởng: Địa vị pháp lý của Thứ trưởng là người nhân danh Bộ trưởng khi thực hiện các nhiệm vụ theo ủy quyền của Bộ trưởng, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng. Các Thứ trưởng có thể giúp Bộ trưởng giải quyết nhiều công việc hành chính, quản trị cơ quan, các công việc chuyên môn cũng thuộc trách nhiệm của Thứ trưởng. Như vậy mới có thể tạo điều kiện cho Bộ trưởng tập trung vào hoạch định chính sách, tham gia đầy đủ các phiên họp Chính phủ, các hoạt động của Chính phủ. Đây là cơ sở quan trọng để Chính phủ tập trung vào hoạch định chính sách quốc gia thông qua hoạt động của các thành viên Chính phủ là các Bộ trưởng.

Về mối quan hệ giữa các Bộ trưởng. Đây là vấn đề quan trọng bảo đảm một Chính phủ thống nhất trong hành động, do đó, cần được quy định cụ thể tại Luật này. Một số nguyên tắc cần được ghi nhận: (i) Khi Bộ trưởng vắng mặt thì một Bộ trưởng khác được chỉ định đại diện trong Chính phủ (ví dụ khi trả lời chất vấn Quốc hội); (ii) Đối với việc giải trình trước các cơ quan của Quốc hội thì Bộ trưởng có thể cử đại diện là Thứ trưởng; phát ngôn của Bộ trưởng trước công luận phải phù hợp với chính sách Chính phủ đề ra; (iii) Trước khi trình Chính phủ, tất cả các vấn đề phải được thảo luận giữa các Bộ trưởng có liên quan…

6. Về phân cấp của Chính phủ và bộ, cơ quan ngang bộ với chính quyền địa phương

Với tinh thần phân cấp, phân quyền theo Hiến pháp năm 2013, sẽ có lĩnh vực chỉ do trung ương (Chính phủ, các Bộ) quản lý, là lĩnh vực cần tập trung quyền lực và thuộc quyền hạn riêng của trung ương mà không phân quyền hay phân cấp. Chính quyền địa phương được xác định thực hiện các loại nhiệm vụ: (i) Nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền theo luật định, trừ một số lĩnh vực nhất thiết phải do trung ương quản lý tập trung, thống nhất như quốc phòng, an ninh, ngoại giao, tư pháp (theo thông lệ ở các nhà nước đơn nhất hay nhà nước liên bang đều do trung ương quản lý như lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao, tôn giáo, tư pháp ...); (ii) Nhiệm vụ thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước cấp trên nhưng chuyển giao (ủy quyền) cho chính quyền cấp dưới thực hiện.

Trong bối cảnh Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật chuyên ngành liên quan đến các lĩnh vực cụ thể đang được sửa đổi, hoàn thiện phù hợp với tinh thần Hiến pháp thì Luật tổ chức Chính phủ cần xác định các nguyên tắc phân quyền, phân cấp và cần xác định rõ các lĩnh vực không phân quyền như đã nêu ở trên nhằm tránh tranh luận kéo dài trong quá trình xây dựng các luật chuyên ngành liên quan đến các lĩnh vực nêu trên, đồng thời cũng là định hướng để sửa đổi, bổ sung các luật liên quan. Do đó, cần quy định rõ trong Luật các lĩnh vực không phân cấp, phân quyền cho địa phương; đồng thời cụ thể hóa hơn trong Luật tổ chức các nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong các lĩnh vực này.

Dự thảo Luật cũng chưa thể hiện được trong số các lĩnh vực, theo tinh thần mới của Hiến pháp về chính quyền địa phương (khoản 2 Điều 112) sẽ có lĩnh vực chỉ do trung ương (Chính phủ, các Bộ) quản lý, là lĩnh vực cần tập trung quyền lực và thuộc quyền hạn riêng của trung ương mà không phân quyền hay phân cấp (theo thông lệ ở các nhà nước đơn nhất hay nhà nước liên bang đều do trung ương quản lý như lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao, tôn giáo, tư pháp...). Đối với những lĩnh vực này, việc giao cho chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ với tính chất ủy nhiệm, ủy quyền nhưng trung ương vẫn phải chịu trách nhiệm chính về các lĩnh vực đó để tránh đùn đẩy trách nhiệm trung ương và địa phương. Trong những trường hợp này khi có những vấn đề sai phạm xảy ra thì Bộ trưởng mới phải chịu trách nhiệm.

Vấn đề phân cấp, phân quyền, ủy quyền là vấn đề hết sức quan trọng khi xây dựng Luật tổ chức Chính phủ cũng như Luật tổ chức chính quyền địa phương và các luật chuyên ngành. Do đó, cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để bảo đảm vai trò tư lệnh ngành, không chỉ trong các lĩnh vực mà trung ương độc quyền phụ trách mà để bảo đảm sự quản lý thống nhất, thông suốt của nền hành chính, bảo đảm vai trò quản lý thống nhất của Chính phủ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, thì Dự thảo cần làm rõ vai trò của Bộ trưởng với tư cách là “tư lệnh ngành” trong các lĩnh vực được giao phụ trách theo quy định tại khoản 4 Điều 95 Hiến pháp năm 2013 “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ”.

Nguyễn Quỳnh Liên – Chu Thị Thái Hà

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: