Thứ năm 08/10/2026 14:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý Dự thảo Luật Trưng cầu ý dân

Phát huy vai trò của nhân dân, quyền lực của nhân dân, phát huy dân chủ và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó vấn đề dân chủ trực tiếp, thực hiện cơ chế dân chủ trực tiếp nói chung là những nội dung xuyên suốt, nhất quán trong đường lối của Đảng ta. Trưng cầu ý dân là một trong những hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng nhất. Đó là quyền của công dân trực tiếp biểu quyết quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Trong lịch sử nhân loại, trưng cầu ý dân là một phạm trù được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của dân chủ và văn hóa dân chủ. Nhiều nước trên thế giới đã sử dụng hình thức trưng cầu ý dân như một giải pháp hữu hiệu để thực hành dân chủ bảo đảm để người dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội[1]. Trưng cầu ý dân được thừa nhận rộng rãi như một giá trị tiến bộ của dân chủ trực tiếp trong đời sống xã hội. Nhằm góp phần hoàn thiện dự thảo Luật Trưng cầu ý dân[2], chúng tôi xin góp ý về một số vấn đề lớn, mang tính chính sách của dự thảo Luật Trưng cầu ý dân như sau:

1. Về mục tiêu ban hành Luật Trưng cầu ý dân

Nội dung của một dự án luật, các quy định cụ thể và cách thiết kế từng điều khoản của dự án Luật và kể cả các chính sách lớn, nhỏ của dự án Luật phụ thuộc rất nhiều vào việc chúng ta xác định mục tiêu, quan điểm ban hành Luật như thế nào. Đặt trong bối cảnh trong nước, bối cảnh quốc tế và trong điều kiện hệ thống pháp luật hiện nay, chúng tôi cho rằng, cần xác định rõ mục tiêu ban hành Luật lần này là nhằm tạo khuôn khổ pháp lý minh bạch và điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia sâu, quyết định trực tiếp, làm tăng tính chính danh đối với những vấn đề liên quan đến chủ quyền và sự phát triển bền vững của quốc gia trong quá trình hội nhập toàn diện với khu vực và quốc tế; đẩy mạnh dân chủ hóa đời sống xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, nội luật hóa điều ước quốc tế về quyền dân sự - chính trị của con người mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với xu thế chung của các quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại[3].

Luật Trưng cầu ý dân được ban hành nhằm cụ thể hóa các điều kiện, trình tự bảo đảm thực hiện quyền biểu quyết của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Vấn đề đặt ra là pháp luật có cần làm rõ và giới hạn những chủ thể nào, công dân nào có đủ điều kiện tham gia biểu quyết khi có trưng cầu ý dân? Xuất phát từ nhận thức quyền biểu quyết trưng cầu ý dân là quyền dân chủ trực tiếp cao nhất của công dân, để cụ thể hóa đầy đủ hơn tinh thần bảo vệ quyền cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013, chúng tôi cho rằng, không nên quá thu hẹp diện những người bị hạn chế thực hiện quyền trưng cầu ý dân mặc dù sẽ phải tăng thêm chi phí thi hành Luật. Việc mở rộng sự tham gia của người dân vào quy trình ra quyết định/quy trình trưng cầu ý dân sẽ góp phần tạo dựng bầu không khí dân chủ, đồng thuận trong xã hội, nâng cao trách nhiệm công dân về thực thi quyền dân chủ trực tiếp thông qua trưng cầu ý dân về những vấn đề hệ trọng của đất nước; gắn kết hơn giữa Nhà nước và công dân, ngay cả đối với những người đang bị tước tự do có thời hạn; giúp họ tăng cường ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng và nhất là tăng nhận thức của công dân về quyền con người[4].

2. Về phạm vi vấn đề được Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân

Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân (khoản 15 Điều 70) và tại khoản 4 Điều 120 có quy định “việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định”. Điều này không đồng nghĩa với việc thẩm quyền của Quốc hội chỉ có thể quyết định trưng cầu ý dân về Hiến pháp. Việc xác định vấn đề nào phải đưa ra trưng cầu ý dân là đặc biệt quan trọng, liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền dân chủ trực tiếp của người dân trong tham gia vào các công việc của Nhà nước. Tuy nhiên, để xác định cụ thể những vấn đề nào phải đưa ra trưng cầu ý dân còn tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước tại mỗi thời điểm nhất định.

Chúng tôi cho rằng, dự thảo Luật Trưng cầu ý dân chỉ nên quy định khái quát, có tính nguyên tắc những vấn đề Quốc hội có thể quyết định đưa ra trưng cầu ý dân, vấn đề cụ thể sẽ do Quốc hội lựa chọn quyết định. Tuy nhiên, cần lưu ý là phạm vi vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân, trước hết phải là vấn đề quan trọng của đất nước và vấn đề phải thuộc thẩm quyền của Quốc hội (do Hiến pháp năm 2013 chưa quy định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân quyết định trưng cầu ý dân) và trong quá trình Quốc hội thực hiện chức năng “quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69 Hiến pháp năm 2013) và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Quốc hội quy định tại Điều 70 Hiến pháp năm 2013.

Dự thảo Luật có thể quy định khái quát phạm vi vấn đề có thể trưng cầu ý dân trong khuôn khổ thẩm quyền của Quốc hội, mà không gò bó vào một vấn đề cụ thể hoặc quy định có tính chất bắt buộc Quốc hội phải tổ chức trưng cầu ý dân về những vấn đề gì nhằm tạo điều kiện để các cơ quan, chủ thể liên quan có thể cân nhắc kỹ các tình huống khi nào cần trưng cầu ý dân, từ đó bảo đảm các lợi ích chính trị, kinh tế và bảo đảm ổn định trật tự, an toàn xã hội. Cách quy định này khá phụ thuộc vào ý chí và quyền tự quyết của chủ thể đề xuất, chủ thể quyết định và ở một phương diện nào đó, quyền biểu quyết của nhân dân khi Nhà nước trưng cầu ý dân vẫn bị lệ thuộc cơ bản vào Nhà nước, bộ máy nhà nước (chủ thể đề xuất, chủ thể quyết định trưng cầu ý dân).

Nếu quy định cụ thể các vấn đề trưng cầu ý dân trong Luật Trưng cầu ý dân sẽ thuận lợi cho cơ quan đề nghị trưng cầu ý dân, có thể kiểm soát chính Quốc hội, đòi hỏi Quốc hội cũng phải “tuân thủ luật” mà không tùy nghi trong quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, nếu theo cách này thì việc áp dụng trưng cầu ý dân trở lên cứng nhắc, thường xuyên và đôi khi là không cần thiết, nhất là việc tổ chức trưng cầu ý dân là rất tốn kém.

Do đó, dự thảo Luật có thể quy định khái quát nhưng cũng cần đủ cụ thể và bám sát vào các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, như: Vấn đề quan trọng về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế đặc biệt quan trọng; các chính sách lớn của các luật quan trọng hoặc các đạo luật đặc biệt quan trọng. Luật không nên xác định phạm vi vấn đề quá chung chung, sẽ gây lúng túng cho việc thực hiện. Luật cũng cần phải có tiêu chí cụ thể như: những vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân phải là vấn đề quốc gia đại sự, không nên trưng cầu ý dân những vấn đề mang tính khu vực, cục bộ.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu quy định các vấn đề không được đề nghị trưng cầu ý dân. Cần quy định trong các hoàn cảnh (tình huống) đe dọa an ninh quốc gia, sức khỏe cộng đồng, cụ thể là khi tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh được công bố thì không được đề nghị trưng cầu ý dân và không tổ chức trưng cầu ý dân.

3. Về phạm vi địa bàn trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ trực tiếp cao nhất để người dân thể hiện quyền làm chủ của mình, quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương. Việc xác định phạm vi trưng cầu ý dân ở quy mô nào toàn quốc hay địa phương phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vấn đề trưng cầu ý dân, điều kiện địa lý, truyền thống chính trị, văn hóa… Đối với các vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân ở một số địa phương hoặc vùng lãnh thổ nhất định thì hiện nay pháp luật đã và sẽ tiếp tục bổ sung các quy định để bảo đảm có sự tham gia ý kiến của người dân trực tiếp chịu tác động (ví dụ như việc cần lấy ý kiến của nhân dân địa phương trong trường hợp nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính…). Tính chất và giá trị pháp lý của các hình thức lấy ý kiến nhân dân theo nhóm đối tượng hay địa bàn này khác so với trưng cầu ý dân thực hiện trên quy mô toàn quốc. Vấn đề đặt ra là luật có nên quy định phạm vi trưng cầu ý dân trên toàn quốc hay cần tiến hành ở phạm vi địa phương? Thực tiễn cho thấy có những vấn đề hệ trọng của quốc gia do Quốc hội quyết định nhưng chủ yếu ảnh hưởng đến lợi ích của một bộ phận dân cư hay tác động trực tiếp đến một hoặc một số địa phương nhất định (như xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở một địa phương, việc trao những thẩm quyền đặc biệt cho chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, ở biên giới, hải đảo…).

Chúng tôi cho rằng, quyền quyết định trưng cầu chỉ thuộc về Quốc hội, phù hợp với quy định của Hiến pháp, phạm vi không chỉ ở toàn quốc mà có thể linh hoạt theo từng vấn đề, bảo đảm tăng cường dân chủ, tôn trọng quyền quyết định của nhân dân địa phương đối với vấn đề của địa phương. Cách làm này sẽ là bước chuyển tiếp để sau này áp dụng mở rộng việc trưng cầu ý dân không chỉ tổ chức ở phạm vi toàn quốc mà cả phạm vi địa phương, khi điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước cho phép sẽ nâng cao một bước nữa về dân chủ (về mặt pháp lý thì Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội mới chỉ quy định Quốc hội là là cơ quan duy nhất có quyền quyết định việc trưng cầu ý dân).

4. Về giá trị pháp lý của kết quả trưng cầu ý dân

Kết quả cuộc trưng cầu ý dân có giá trị quyết định; kết quả cuộc trưng cầu ý dân phải đảm bảo số lượng cử tri nhất định theo công thức “quá bán kép”, tức là cuộc trưng cầu ý dân hợp lệ phải được quá nửa tổng số cử tri có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu và phương án trưng cầu ý dân được quá nửa số phiếu hợp lệ tán thành được công bố để thi hành. Như vậy, cần quy định rõ: Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp thì cuộc trưng cầu ý dân hợp lệ phải được quá hai phần ba tổng số cử tri có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu và phương án được quá hai phần ba số phiếu hợp lệ tán thành được công bố để thi hành.

Đồng thời, Quốc hội phải ra nghị quyết xác nhận kết quả trưng cầu ý dân do Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố. Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất để Quốc hội xem xét thảo luận và ra nghị quyết công nhận kết quả trưng cầu ý dân và có hiệu lực từ ngày nào sẽ thể hiện ở nghị quyết của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố kết quả trưng cầu ý dân chậm nhất mười lăm ngày kể từ ngày bỏ phiếu trưng cầu ý dân. Kết quả trưng cầu ý dân có giá trị quyết định đối với vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân và có hiệu lực kể từ ngày công bố. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố kết quả trưng cầu ý dân tức là đã bảo đảm tính khách quan, hợp pháp của hoạt động này. Mặt khác, vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân đã được người dân lựa chọn, quyết định theo ý chí của họ nên cơ quan nhà nước phải tôn trọng và thực hiện. Do vậy, Quốc hội không cần thiết phải ra nghị quyết xác nhận kết quả trưng cầu ý dân.

Kết quả của trưng cầu ý dân gắn liền với quy trình, thủ tục và các vấn đề được trưng cầu. Đối với các vấn đề chính sách không nằm trong một văn bản/một đạo luật cụ thể thì sau khi có kết quả, các đạo luật sẽ phải sửa theo ý chí của nhân dân (ví dụ có bỏ án tử hình trong Bộ luật Hình sự hay không); đối với việc trưng cầu ý dân về một đạo luật thì chính nhân dân là người quyết định về đạo luật đó mà không phải là thủ tục tham khảo ý kiến nhân dân như tổ chức lấy ý kiến về dự thảo luật. Riêng đối với quy trình sửa đổi Hiến pháp thì có 01 thủ tục đặc biệt quy định của tại Điều 120 của Hiến pháp năm 2013 đó là: Hiến pháp khi đạt 2/3 đại biểu Quốc hội thông qua thì có hiệu lực, nhưng trong trường hợp phải trưng cầu ý dân (do Quốc hội quyết định) thì sẽ theo đa số ý kiến của nhân dân mà không phải đưa trở lại Quốc hội nữa.

Giá trị pháp lý của việc lấy ý kiến nhân dân và trưng cầu ý dân là khác nhau; khi nhân dân đã biểu quyết đa số rồi thì đó là quyết định không có cơ quan nào có quyền phủ quyết. Khi cuộc trưng cầu đó tiến hành đúng pháp luật, đã hợp pháp, hợp hiến rồi thì người dân là người quyết định cuối cùng, không có cơ quan nào có quyền thay đổi quyết định đó. Như vậy, để bảo đảm giá trị pháp lý của kết quả trưng cầu ý dân, chúng tôi cho rằng cần bảo đảm:

Một là, kết quả trưng cầu ý dân cần tuân thủ nguyên tắc “quá bán kép” và không có sự phân biệt giữa trưng cầu ý dân về Hiến pháp và trưng cầu ý dân về các vấn đề khác. Đây cũng là xu thế chung trong Luật trưng cầu ý dân của các nước trên thế giới;

Hai là, giá trị quyết định của kết quả trưng cầu ý dân đối với vấn đề đưa ra trưng cầu phải được quy định rõ theo hướng: Kết quả trưng cầu ý dân có giá trị quyết định đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu ý dân;

Ba là, về thời điểm trưng cầu ý dân trong quy trình sửa đổi, bổ sung Hiến pháp theo quy định tại khoản 4 Điều 120 Hiến pháp; đối với các vấn đề khác Quốc hội sẽ quyết định thời điểm trưng cầu ý dân trước hay sau khi Quốc hội thông qua, nhưng dù ở giai đoạn nào thì kết quả trưng cầu ý dân vẫn có giá trị quyết định.

5. Về cung cấp và công khai thông tin trong quá trình trưng cầu ý dân

Nhà nước cần minh bạch với công dân ngay cả khi tổ chức trưng cầu ý dân, xác định rõ thông tin gì phải được tiếp cận, cơ quan nào phải cung cấp thông tin; thủ tục nào, hình thức nào có thể công khai thông tin để mọi công dân đều thụ hưởng được quyền dân chủ trực tiếp của mình, nhất là trong điều kiện chỉ rất ít khi mới có thể tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân và đối với vấn đề liên quan đến vận mệnh của đất nước hoặc trọng đại khác. Dự thảo Luật cần quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp đầy đủ thông tin cho người dân để bảo đảm sự lựa chọn, quyết định của họ là sáng suốt khi biểu quyết trưng cầu ý dân; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về công bố, công khai thông tin trong quá trình trưng cầu ý dân. Dự thảo Luật cũng cần quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân phải tăng cường việc tuyên truyền, vận động, giáo dục; tăng cường nhận thức của người dân trong quá trình trưng cầu; quy định về các loại thông tin phải công khai, hình thức công khai thông tin và các quy định khác nhằm bảo đảm người dân nắm được đầy đủ thông tin trong quá trình ra quyết định/biểu quyết trưng cầu ý dân.

Dự thảo Luật cần khắc phục điều kiện dân trí còn chưa đồng đều, về sự thiếu quan tâm đến đời sống chính trị của nhiều tầng lớp dân cư hiện nay; khắc phục được tình trạng quan liêu của công chức và thiếu sự tin tưởng vào lựa chọn của nhân dân. Luật chỉ có hiệu quả nếu các thông tin được cung cấp đầy đủ về vấn đề và các phương án được đưa ra trưng cầu ý dân; các ưu, nhược điểm (mặt tích cực, tiêu cực) hay tác động của từng phương án trên các phương diện kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, pháp luật, đối ngoại, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân... và các vấn đề khác; các nguồn tài liệu có thể tham khảo thêm và chỉ rõ nơi có thể tham khảo tài liệu liên quan (ví dụ: Đối với các dự án luật thì phải có hồ sơ dự án đăng tải trên trang thông tin điện tử).

Nội dung thông tin cần tuyên truyền, vận động cũng rất quan trọng. Do đó, dự án luật cần quy định một cách đồng bộ, thống nhất, có quy định về hình thức, trách nhiệm của các cơ quan công khai thông tin cùng với quy định về nội dung thông tin phải công khai thì phương án mới đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời cũng đạt được mục tiêu giải quyết vấn đề bất cập. Việc cung cấp đầy đủ thông tin cho người dân trong quá trình ra quyết định/biểu quyết đối với vấn đề được trưng cầu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm tính chính xác của quyết định, tính hiệu quả của việc tổ chức trưng cầu ý dân, đồng thời bảo đảm tính khả thi của Luật này. Do đó, dự thảo Luật cần quy định sao cho bảo đảm người dân được thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác về các thông tin liên quan đến vấn đề/phương án được đưa ra trưng cầu ý dân và cần quy định về trách nhiệm công khai thông tin, các loại thông tin được công khai và thời điểm công khai thông tin có liên quan đến vấn đề trưng cầu ý dân.

6. Về trình tự, thủ tục trưng cầu ý dân

Để bảo đảm sự chặt chẽ, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, chúng tôi cho rằng, nếu xác định các vấn đề được đề nghị trưng cầu ý dân thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội như Dự thảo thì ngoài trình tự, thủ tục trưng cầu ý dân theo quy định của Luật này, còn có các trình tự, thủ tục để xây dựng các văn bản có chứa đựng các vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân đang được pháp luật quy định (ví dụ: Trình tự, thủ tục sửa đổi Hiến pháp; xây dựng luật; phê chuẩn điều ước quốc tế... được thực hiện theo quy định của Hiến pháp, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế…). Do đó, để tránh sự xung đột pháp luật, đề nghị xử lý ngay tại Luật này theo hướng, bên cạnh quy định chung một trình tự, thủ tục về trưng cầu ý dân, cần bổ sung quy định có tính nguyên tắc về việc tuân thủ các văn bản pháp luật liên quan nhằm bảo đảm có sự kết nối giữa hai quy trình: (i) Chuẩn bị vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân và (ii) tiến hành trưng cầu ý dân. Việc quy định như vậy cũng nhằm bảo đảm tính minh bạch của pháp luật, tránh hiểu nhầm việc thực hiện thủ tục này có thể thay thế các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng các văn bản được đưa ra trưng cầu ý dân, cụ thể:

- Kết quả tổ chức trưng cầu ý dân được Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất (Điều 18 dự thảo) và trên phương tiện thông tin đại chúng và đăng trên Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 52 Dự thảo Luật). Điều 10 dự thảo Luật quy định: Sau khi công bố thì kết quả trưng cầu ý dân có hiệu lực. Như vậy, các quy định trên dẫn đến không thống nhất trong cách hiểu về thời điểm có hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân: sau khi công bố với Quốc hội hay công bố trên phương tiện thông tin đại chúng, đăng trên Công báo.

- Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày luật, pháp lệnh, nghị quyết được thông qua (Điều 57). Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành (Điều 78). Như vậy, quy định về chủ thể công bố, thời điểm công bố, giá trị của việc công bố đối với các vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân và văn bản chứa đựng vấn đề trưng cầu ý dân dưới hình thức luật, pháp lệnh là chưa thống nhất do chưa có sự kết nối với nhau.

- Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì luật, nghị quyết của Quốc hội có thể được xem xét, thông qua tại một kỳ họp hoặc hai kỳ họp của Quốc hội, trong khi thời gian tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân ít nhất là hai kỳ họp của Quốc hội (kể từ khi Quốc hội thông qua nghị quyết về trưng cầu ý dân đến khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố kết quả tổ chức trưng cầu ý dân với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất), do đó, nếu không có sự kết nối với quy trình xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội với quy trình trưng cầu ý dân thì sẽ dẫn đến có thể kéo dài trình tự, thủ tục xây dựng luật, nghị quyết hoặc dẫn đến lúng túng trong quá trình tổ chức trưng cầu ý dân.

Chu Thị Thái Hà

Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính


[1] Cho đến nay đã có 167/214 (78%) quốc gia và vùng lãnh thổ đã có luật hoặc các quy định pháp luật về trưng cầu ý dân (trích Dự thảo Tờ trình Quốc hội, Hội Luật gia Việt Nam).

[2] Hội Luật gia Việt Nam chủ trì soạn thảo và dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9, thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII.

[3] Xem, Báo cáo đánh giá tác động của Hội Luật gia Việt Nam

[4] Xem, Báo cáo đánh giá tác động của Hội Luật gia Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: