Thứ sáu 23/10/2026 16:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý một số quy định của Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi)

Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5. Dự kiến dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) sẽ được thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV. Bài viết góp ý một số quy định, nhằm góp phần hoàn thiện dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi).


1. Về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân

Điều 13 dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) (Dự thảo) được xây dựng trên cơ sở gộp Điều 31 và Điều 32 của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, theo đó quy định: “1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và pháp luật có liên quan. 2. Việc cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mình được thực hiện theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và các quy định của pháp luật có liên quan”. Do điều luật của Dự thảo được xây dựng trên cơ sở gộp các điều luật của pháp luật hiện hành, nên rất có thể quy định chỉ được ghép về mặt cơ học mà những nhà xây dựng Dự thảo chưa nghiên cứu kỹ quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Do đó, tác giả cho rằng, quy định này của Dự thảo chưa phù hợp với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và có phần thừa, không cần thiết phải quy định trong Dự thảo tránh phức tạp, rườm rà. Bởi vì, theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì quyền tiếp cận thông tin, trong đó có quyền yêu cầu cung cấp thông tin chỉ dành cho công dân (Điều 4), chứ không dành cho cả cơ quan, tổ chức, đơn vị như Dự thảo quy định. Cũng theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì trách nhiệm cung cấp thông tin chỉ quy định cho cơ quan nhà nước, còn tổ chức, đơn vị không có trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 9). Mặt khác, điểm k khoản 1 Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định: Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan và của đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân; nội quy, quy chế do cơ quan nhà nước ban hành phải được công khai rộng rãi. Như vậy, thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan là loại thông tin phải được công khai rộng rãi trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử[1], các hình thức khác và công dân được quyền tự do tiếp cận. Khi mà thông tin đã được công khai rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng, thiết nghĩ, công dân không cần dùng quyền yêu cầu và có thể công dân cũng ngại yêu cầu do có tâm lý chung khi tiếp xúc với cơ quan nhà nước. Mặt khác, Điều 8 của Dự thảo đã quy định nguyên tắc công khai, minh bạch là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Theo đó yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai, minh bạch thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, đơn vị ngoài việc công khai, minh bạch thông tin về tổ chức, hoạt động của mình còn phải công khai thủ tục hành chính có liên quan (khoản 2 Điều 9 Dự thảo). Quy định đó đã bao quát quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân. Do đó, theo tác giả, việc quy định một điều luật về quyền yêu cầu cung cấp thông tin đối với loại thông tin đã được công khai rộng rãi là có phần thừa, “phí” một điều luật.

2. Về quy định tặng quà và nhận quà tặng

Khoản 1 Điều 22 Dự thảo quy định: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức không được nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình”. Có lẽ xuất phát từ các nguyên nhân cơ bản như: Lợi dụng tình trạng văn hóa về tặng quà, cảm ơn để biếu xén, đưa hối lộ vì động cơ vụ lợi vẫn còn phổ biến. Các quy định về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng chưa chặt chẽ, không khả thi, ranh giới giữa quà tặng và tài sản hối lộ chưa được làm rõ, quy định trình tự báo cáo, nộp lại quà, nhất là quà bằng hiện vật phức tạp, khó thực hiện; pháp luật chưa có phương án xử lý đối với quà tặng là những lợi ích phi vật chất[2]… nên Dự thảo nghiêm cấm việc nhận quà dưới mọi hình thức đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức. Quy định này làm chúng ta nhớ lại một quy định của ngành giao thông “đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn sẽ bị phạt”. Chất lượng mũ bảo hiểm đạt chuẩn hay không đạt chuẩn là trách nhiệm thuộc cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này, chứ người dân không thể có đủ điều kiện để xác định mũ bảo hiểu phải như thế nào mới đạt chuẩn. Khi cơ quan quản lý nhà nước không đưa ra được những biện pháp cụ thể, hiệu quả để kiểm soát chất lượng mũ bảo hiểu trên thực tế mà lại đi kiểm soát quyền của người dân là không phù hợp trong Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trở lại quy định trên, quà ở đây có thể là dạng vật chất hoặc phi vật chất. Đó là quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và Hiến pháp năm 2013 hiến định quyền tài sản đó. Quyền tài sản là một trong những quyền dân sự cơ bản của con người. Quyền tài sản bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản[3]. Trong đó, quyền sở hữu tài sản thể hiện ở việc chủ sở hữu được thực hiện các quyền năng của mình trực tiếp trên đối tượng của quyền sở hữu, hưởng dụng và định đoạt đối tượng của quyền sở hữu hoàn toàn theo ý chí của mình (một cách tuyệt đối nhất)[4]. Như vậy, chủ sở hữu tài sản có toàn quyền định đoạt tài sản của mình theo bất cứ cách nào, trong đó kể cả được tặng tài sản cho chủ thể khác (tất nhiên là không trái với quy định của luật). Ở đây, quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng[5]. Như vậy, về mặt văn bản luật thì quy định ở Dự thảo đã thỏa mãn. Tuy nhiên, về lý do thì chưa thuyết phục được. Quy định ở đây chỉ tác động lên số ít đối tượng trong xã hội chứ không mang tính quốc gia, cộng đồng, xã hội. Mặt khác, tại Kết luận số 103-KL/TW, ngày 29/9/2014, của Bộ Chính trị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã chỉ rõ: “Thể chế hóa quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được xác lập trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước”. Do vậy, pháp luật bảo vệ quyền tài sản của chủ sở hữu, cho phép chủ sở hữu định đoạt tài sản của mình bên cạnh việc chủ sở hữu phải minh bạch các nghĩa vụ và trách nhiệm của mình liên quan đến quyền tài sản trong thủ tục hành chính nhà nước. Có nghĩa là, thủ tục hành chính nhà nước công khai, minh bạch là một cách để bảo đảm quyền tài sản của chủ sở hữu được sử dụng đúng luật. Mặt khác, hiện nay không tách bạch được quà tặng thông thường với quà tặng có liên quan đến nhiệm vụ, công vụ của người nhận quà[6]. Chúng ta rất khó xác định việc tặng quà, nhận quà liên quan đến công việc mình giải quyết (có thể xác định được phạm vi quản lý của mình dựa vào tiêu chí lãnh thổ, phân công, phân cấp hoặc ủy quyền thực hiện công việc…). Bởi vì, nguyên tắc tổ chức và hoạt động trong bộ máy nhà nước hay trong bất kỳ tổ chức, đơn vị, cá nhân đều có dáng dấp của việc phân công, phối hợp, kiểm soát thực hiện. Đã là phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thì mọi công việc đều có liên quan với nhau. Do đó, tác giả không đồng ý với quy định của Dự thảo. Dự thảo nên cho phép nhận quà và bổ sung nghĩa vụ kê khai quà tặng nhận được khi có yêu cầu kê khai tài sản. Các cơ quan quản lý nhà nước nên đặt ra những quy định cụ thể để công khai, minh bạch về việc nhận quà, tặng quà, chứ không phải nghiêm cấm quyền của chủ sở hữu tài sản để tạo thuận lợi cho bản thân trong phòng, chống tham nhũng. Như vậy là vi phạm quyền tài sản của chủ sở hữu tài sản do Hiến pháp quy định.

3. Về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập

Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, Việt Nam không có một cơ quan chuyên trách để quản lý thống nhất các bản kê khai, chịu trách nhiệm tiếp nhận các phản ánh về những nghi ngờ về tài sản, chủ động tiến hành theo dõi, xác minh khi thấy có những biến động đáng ngờ về tài sản tham nhũng của cán bộ, công chức[7]. Chính vì thế, điểm mới, tiến bộ của Dự thảo đã xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức và đưa ra 02 phương án về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập. Điểm chung của 02 phương án này là sử dụng những cơ quan hiện có trong bộ máy nhà nước để kiểm soát tài sản, thu nhập. Điều này góp phần không phát sinh thêm cơ quan, đơn vị, làm giảm gánh nặng về biên chế, ngân sách nhà nước. Ở phương án 02 lại quy định nhiều đầu mối có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập, như thế là dàn trải, không chuyên nghiệp và dễ dẫn đến lạm quyền, tham nhũng. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan đã được quy định tại văn bản pháp luật khác, trở nên “thừa”, không cần thiết, vì trùng lặp, không thể hiện được đặc thù của cơ quan chuyên trách chống tham nhũng[8]. Do đó, tác giả đồng ý với phương án 01 là giao thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập cho Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ và Thanh tra tỉnh. Đây là những cơ quan thanh tra nhà nước theo quy định của pháp luật[9]. Bản thân các cơ quan thanh tra này cũng đã có những nghiệp vụ nhất định trong công tác phòng, chống tham nhũng được quy định bởi nhiệm vụ, quyền hạn của mình[10]. Phương án này có ưu điểm là tập trung được đầu mối, đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, nguồn nhân lực với đội ngũ cán bộ chuyên trách, được đào tạo để đáp ứng nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, như đã nói đây là những cơ quan hiện có, nội bộ, cơ quan hành chính nên nặng về quản lý nhà nước. Mặt khác, tất cả các luật về tổ chức cơ quan trong bộ máy nhà nước đều chưa có quy định kiểm soát quyền lực nhà nước do bản thân tổ chức mình thực hiện[11]. Các cơ quan trên chưa phải là một thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nội bộ. Kiểm soát tài sản, thu nhập cũng là một biện pháp để kiểm soát quyền lực. Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập chính là cơ quan kiểm soát quyền lực. Do đó, để kiểm soát tài sản, thu nhập, kiểm soát quyền lực hiệu quả thì cần phải cải tổ lại bộ máy Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh. Tác giả đồng ý với phương án cải tổ lại bộ máy Thanh tra Chính phủ của GS.TS. Trần Ngọc Đường, đó là, Thanh tra Chính phủ là cơ quan giúp Thủ tướng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước trong nội bộ, độc lập với Chính phủ, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, chịu sự giám sát của Quốc hội[12]. Tương tự Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh cũng cải cách theo định hướng như vậy.

4. Về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập

Đây là điểm mới, tiến bộ của Dự thảo so với Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành. Điều 37 của Dự thảo đã giới hạn, chỉ rõ phạm vi đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập. Tác giả tán thành với quy định của Dự thảo về đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, nhất là đối với nhóm đối tượng là cán bộ, công chức thuộc đối tượng phải kê khai lần đầu. Quy định này phù hợp với chủ trương của Đảng là: “Thực hiện nghiêm quy định về kê khai, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý”[13]. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay thì các công chức tham nhũng thường che giấu tài sản, thu nhập dưới tên người thân quen. Do vậy, việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ cũng cần tính đến việc minh bạch tài sản của những người thân thích khác, ngoài vợ hoặc chồng và con chưa thành niên[14]. Bởi nếu không minh bạch tài sản của những người thân thích khác thì việc kiểm soát tài sản, thu nhập sẽ giống như kiểm soát nước trong “bình thông nhau” và tài sản, thu nhập bất hợp pháp có thể được cán bộ, công chức chuyển dịch sang những đối tượng này để trốn tránh sự kiểm soát của pháp luật[15]. Do đó, tác giả đề xuất phải kê khai tài sản, thu nhập thêm những người sau đây đối với người có chức vụ, quyền hạn: Con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu, anh chồng, chị chồng, em chồng, anh vợ, chị vợ, em vợ. Điều này cũng phù hợp với quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn quy định tại Điều 20 của Dự thảo. Quy định đó cũng phù hợp với các văn bản pháp luật liên quan như: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (khoản 5 Điều 21), Luật Công chứng năm 2014 (điểm c khoản 1 Điều 7), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (khoản 19 Điều 3), Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (khoản 7 Điều 2)… Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế, thực tiễn ở các quốc gia thì các thành viên chính phủ và những công chức giữ chức vụ cao cấp trở lên chịu sự kiểm soát tài sản, thu nhập chặt chẽ[16] mới áp dụng thêm đối tượng kê khai tài sản, thu nhập như đã nêu ở trên và chỉ áp dụng khi có cơ sở nghi ngờ được dùng để che giấu tài sản tham nhũng[17].

Dự thảo nhận được rất nhiều sự quan tâm của dư luận xã hội, các tầng lớp nhân dân. Do đó, trong quá trình xây dựng Dự thảo, những chủ thể có thẩm quyền cần nghiêm túc, cầu thị lắng nghe ý kiến góp ý của nhân dân để hoàn thiện, nâng cao chất lượng các quy định, điều, khoản của Luật. Bên cạnh đó, các chủ thể có thẩm quyền phải thường xuyên phản hồi thông tin, làm rõ thông tin, giải thích thông tin liên quan đến Dự thảo để mọi tầng lớp nhân dân được hiểu, có niềm tin vào chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Dương Văn Quý

Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột



[1]. Điều 19 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[2]. Vũ Công Giao - Đỗ Thu Huyền, Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (344), 2016, tr. 83.

[3]. PGS.TS. Nguyễn Vũ Hoàng, Vấn đề thể chế hóa quyền tài sản trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2017/46090/Van-de-the-che-hoa-quyen-tai-san-trong-hoan-thien-the.aspx, truy cập ngày 05/7/2018.

[4]. Bùi Thị Thanh Hằng - Nguyễn Anh Thư, Một số nội dung đáng lưu ý của Phần thứ hai “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 (340), 2016, tr.7.

[5]. Điều 2 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr. 56.

[7]. ThS. Đỗ Thu Huyền, Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi: các quan điểm khác nhau và đề xuất lựa chọn, http://www.nclp.org.vn/ ban_ve_du_an_luat/quy-111inh-ve-kiem-soat-tai-san-thu-nhap-cua-can-bo-cong-chuc-trong-luat-phong-chong-tham-nhung-sua-111oi-cac-quan-111iem-khac-nhau-va-111e-xuat-lua-chon, truy cập ngày 05/7/2018.

[8]. Nguyễn Quốc Văn - Vũ Công Giao, Những vấn đề đặt ra sau 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 18 (322), 2016, tr. 35.

[9]. Điều 4 Luật Thanh tra năm 2010.

[10]. Điều 5 Luật Thanh tra năm 2010.

[11]. Trần Ngọc Đường, Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), 2017, tr. 7.

[12]. Trần Ngọc Đường, Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), 2017, tr. 9.

[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2016, tr. 307.

[14]. Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr. 64.

[15]. ThS. Đỗ Thu Huyền, Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi: các quan điểm khác nhau và đề xuất lựa chọn, http://www.nclp.org.vn/ ban_ve_du_an_luat/quy-111inh-ve-kiem-soat-tai-san-thu-nhap-cua-can-bo-cong-chuc-trong-luat-phong-chong-tham-nhung-sua-111oi-cac-quan-111iem-khac-nhau-va-111e-xuat-lua-chon, truy cập ngày 05/7/2018.

[16]. Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr. 57, 64.

[17]. Vũ Công Giao - Đỗ Thu Huyền, Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (344), 2016, tr. 83 - 84.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: