Thứ bảy 16/05/2026 21:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý một số quy định của Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi)

Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5. Dự kiến dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) sẽ được thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV. Bài viết góp ý một số quy định, nhằm góp phần hoàn thiện dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi).


1. Về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân

Điều 13 dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) (Dự thảo) được xây dựng trên cơ sở gộp Điều 31 và Điều 32 của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, theo đó quy định: “1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và pháp luật có liên quan. 2. Việc cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mình được thực hiện theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và các quy định của pháp luật có liên quan”. Do điều luật của Dự thảo được xây dựng trên cơ sở gộp các điều luật của pháp luật hiện hành, nên rất có thể quy định chỉ được ghép về mặt cơ học mà những nhà xây dựng Dự thảo chưa nghiên cứu kỹ quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Do đó, tác giả cho rằng, quy định này của Dự thảo chưa phù hợp với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và có phần thừa, không cần thiết phải quy định trong Dự thảo tránh phức tạp, rườm rà. Bởi vì, theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì quyền tiếp cận thông tin, trong đó có quyền yêu cầu cung cấp thông tin chỉ dành cho công dân (Điều 4), chứ không dành cho cả cơ quan, tổ chức, đơn vị như Dự thảo quy định. Cũng theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì trách nhiệm cung cấp thông tin chỉ quy định cho cơ quan nhà nước, còn tổ chức, đơn vị không có trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 9). Mặt khác, điểm k khoản 1 Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định: Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan và của đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân; nội quy, quy chế do cơ quan nhà nước ban hành phải được công khai rộng rãi. Như vậy, thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan là loại thông tin phải được công khai rộng rãi trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử[1], các hình thức khác và công dân được quyền tự do tiếp cận. Khi mà thông tin đã được công khai rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng, thiết nghĩ, công dân không cần dùng quyền yêu cầu và có thể công dân cũng ngại yêu cầu do có tâm lý chung khi tiếp xúc với cơ quan nhà nước. Mặt khác, Điều 8 của Dự thảo đã quy định nguyên tắc công khai, minh bạch là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Theo đó yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai, minh bạch thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, đơn vị ngoài việc công khai, minh bạch thông tin về tổ chức, hoạt động của mình còn phải công khai thủ tục hành chính có liên quan (khoản 2 Điều 9 Dự thảo). Quy định đó đã bao quát quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân. Do đó, theo tác giả, việc quy định một điều luật về quyền yêu cầu cung cấp thông tin đối với loại thông tin đã được công khai rộng rãi là có phần thừa, “phí” một điều luật.

2. Về quy định tặng quà và nhận quà tặng

Khoản 1 Điều 22 Dự thảo quy định: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức không được nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình”. Có lẽ xuất phát từ các nguyên nhân cơ bản như: Lợi dụng tình trạng văn hóa về tặng quà, cảm ơn để biếu xén, đưa hối lộ vì động cơ vụ lợi vẫn còn phổ biến. Các quy định về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng chưa chặt chẽ, không khả thi, ranh giới giữa quà tặng và tài sản hối lộ chưa được làm rõ, quy định trình tự báo cáo, nộp lại quà, nhất là quà bằng hiện vật phức tạp, khó thực hiện; pháp luật chưa có phương án xử lý đối với quà tặng là những lợi ích phi vật chất[2]… nên Dự thảo nghiêm cấm việc nhận quà dưới mọi hình thức đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức. Quy định này làm chúng ta nhớ lại một quy định của ngành giao thông “đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn sẽ bị phạt”. Chất lượng mũ bảo hiểm đạt chuẩn hay không đạt chuẩn là trách nhiệm thuộc cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này, chứ người dân không thể có đủ điều kiện để xác định mũ bảo hiểu phải như thế nào mới đạt chuẩn. Khi cơ quan quản lý nhà nước không đưa ra được những biện pháp cụ thể, hiệu quả để kiểm soát chất lượng mũ bảo hiểu trên thực tế mà lại đi kiểm soát quyền của người dân là không phù hợp trong Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trở lại quy định trên, quà ở đây có thể là dạng vật chất hoặc phi vật chất. Đó là quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và Hiến pháp năm 2013 hiến định quyền tài sản đó. Quyền tài sản là một trong những quyền dân sự cơ bản của con người. Quyền tài sản bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản[3]. Trong đó, quyền sở hữu tài sản thể hiện ở việc chủ sở hữu được thực hiện các quyền năng của mình trực tiếp trên đối tượng của quyền sở hữu, hưởng dụng và định đoạt đối tượng của quyền sở hữu hoàn toàn theo ý chí của mình (một cách tuyệt đối nhất)[4]. Như vậy, chủ sở hữu tài sản có toàn quyền định đoạt tài sản của mình theo bất cứ cách nào, trong đó kể cả được tặng tài sản cho chủ thể khác (tất nhiên là không trái với quy định của luật). Ở đây, quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng[5]. Như vậy, về mặt văn bản luật thì quy định ở Dự thảo đã thỏa mãn. Tuy nhiên, về lý do thì chưa thuyết phục được. Quy định ở đây chỉ tác động lên số ít đối tượng trong xã hội chứ không mang tính quốc gia, cộng đồng, xã hội. Mặt khác, tại Kết luận số 103-KL/TW, ngày 29/9/2014, của Bộ Chính trị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã chỉ rõ: “Thể chế hóa quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được xác lập trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước”. Do vậy, pháp luật bảo vệ quyền tài sản của chủ sở hữu, cho phép chủ sở hữu định đoạt tài sản của mình bên cạnh việc chủ sở hữu phải minh bạch các nghĩa vụ và trách nhiệm của mình liên quan đến quyền tài sản trong thủ tục hành chính nhà nước. Có nghĩa là, thủ tục hành chính nhà nước công khai, minh bạch là một cách để bảo đảm quyền tài sản của chủ sở hữu được sử dụng đúng luật. Mặt khác, hiện nay không tách bạch được quà tặng thông thường với quà tặng có liên quan đến nhiệm vụ, công vụ của người nhận quà[6]. Chúng ta rất khó xác định việc tặng quà, nhận quà liên quan đến công việc mình giải quyết (có thể xác định được phạm vi quản lý của mình dựa vào tiêu chí lãnh thổ, phân công, phân cấp hoặc ủy quyền thực hiện công việc…). Bởi vì, nguyên tắc tổ chức và hoạt động trong bộ máy nhà nước hay trong bất kỳ tổ chức, đơn vị, cá nhân đều có dáng dấp của việc phân công, phối hợp, kiểm soát thực hiện. Đã là phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thì mọi công việc đều có liên quan với nhau. Do đó, tác giả không đồng ý với quy định của Dự thảo. Dự thảo nên cho phép nhận quà và bổ sung nghĩa vụ kê khai quà tặng nhận được khi có yêu cầu kê khai tài sản. Các cơ quan quản lý nhà nước nên đặt ra những quy định cụ thể để công khai, minh bạch về việc nhận quà, tặng quà, chứ không phải nghiêm cấm quyền của chủ sở hữu tài sản để tạo thuận lợi cho bản thân trong phòng, chống tham nhũng. Như vậy là vi phạm quyền tài sản của chủ sở hữu tài sản do Hiến pháp quy định.

3. Về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập

Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, Việt Nam không có một cơ quan chuyên trách để quản lý thống nhất các bản kê khai, chịu trách nhiệm tiếp nhận các phản ánh về những nghi ngờ về tài sản, chủ động tiến hành theo dõi, xác minh khi thấy có những biến động đáng ngờ về tài sản tham nhũng của cán bộ, công chức[7]. Chính vì thế, điểm mới, tiến bộ của Dự thảo đã xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức và đưa ra 02 phương án về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập. Điểm chung của 02 phương án này là sử dụng những cơ quan hiện có trong bộ máy nhà nước để kiểm soát tài sản, thu nhập. Điều này góp phần không phát sinh thêm cơ quan, đơn vị, làm giảm gánh nặng về biên chế, ngân sách nhà nước. Ở phương án 02 lại quy định nhiều đầu mối có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập, như thế là dàn trải, không chuyên nghiệp và dễ dẫn đến lạm quyền, tham nhũng. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan đã được quy định tại văn bản pháp luật khác, trở nên “thừa”, không cần thiết, vì trùng lặp, không thể hiện được đặc thù của cơ quan chuyên trách chống tham nhũng[8]. Do đó, tác giả đồng ý với phương án 01 là giao thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập cho Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ và Thanh tra tỉnh. Đây là những cơ quan thanh tra nhà nước theo quy định của pháp luật[9]. Bản thân các cơ quan thanh tra này cũng đã có những nghiệp vụ nhất định trong công tác phòng, chống tham nhũng được quy định bởi nhiệm vụ, quyền hạn của mình[10]. Phương án này có ưu điểm là tập trung được đầu mối, đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, nguồn nhân lực với đội ngũ cán bộ chuyên trách, được đào tạo để đáp ứng nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, như đã nói đây là những cơ quan hiện có, nội bộ, cơ quan hành chính nên nặng về quản lý nhà nước. Mặt khác, tất cả các luật về tổ chức cơ quan trong bộ máy nhà nước đều chưa có quy định kiểm soát quyền lực nhà nước do bản thân tổ chức mình thực hiện[11]. Các cơ quan trên chưa phải là một thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nội bộ. Kiểm soát tài sản, thu nhập cũng là một biện pháp để kiểm soát quyền lực. Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập chính là cơ quan kiểm soát quyền lực. Do đó, để kiểm soát tài sản, thu nhập, kiểm soát quyền lực hiệu quả thì cần phải cải tổ lại bộ máy Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh. Tác giả đồng ý với phương án cải tổ lại bộ máy Thanh tra Chính phủ của GS.TS. Trần Ngọc Đường, đó là, Thanh tra Chính phủ là cơ quan giúp Thủ tướng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước trong nội bộ, độc lập với Chính phủ, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, chịu sự giám sát của Quốc hội[12]. Tương tự Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh cũng cải cách theo định hướng như vậy.

4. Về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập

Đây là điểm mới, tiến bộ của Dự thảo so với Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành. Điều 37 của Dự thảo đã giới hạn, chỉ rõ phạm vi đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập. Tác giả tán thành với quy định của Dự thảo về đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, nhất là đối với nhóm đối tượng là cán bộ, công chức thuộc đối tượng phải kê khai lần đầu. Quy định này phù hợp với chủ trương của Đảng là: “Thực hiện nghiêm quy định về kê khai, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý”[13]. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay thì các công chức tham nhũng thường che giấu tài sản, thu nhập dưới tên người thân quen. Do vậy, việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ cũng cần tính đến việc minh bạch tài sản của những người thân thích khác, ngoài vợ hoặc chồng và con chưa thành niên[14]. Bởi nếu không minh bạch tài sản của những người thân thích khác thì việc kiểm soát tài sản, thu nhập sẽ giống như kiểm soát nước trong “bình thông nhau” và tài sản, thu nhập bất hợp pháp có thể được cán bộ, công chức chuyển dịch sang những đối tượng này để trốn tránh sự kiểm soát của pháp luật[15]. Do đó, tác giả đề xuất phải kê khai tài sản, thu nhập thêm những người sau đây đối với người có chức vụ, quyền hạn: Con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu, anh chồng, chị chồng, em chồng, anh vợ, chị vợ, em vợ. Điều này cũng phù hợp với quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn quy định tại Điều 20 của Dự thảo. Quy định đó cũng phù hợp với các văn bản pháp luật liên quan như: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (khoản 5 Điều 21), Luật Công chứng năm 2014 (điểm c khoản 1 Điều 7), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (khoản 19 Điều 3), Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (khoản 7 Điều 2)… Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế, thực tiễn ở các quốc gia thì các thành viên chính phủ và những công chức giữ chức vụ cao cấp trở lên chịu sự kiểm soát tài sản, thu nhập chặt chẽ[16] mới áp dụng thêm đối tượng kê khai tài sản, thu nhập như đã nêu ở trên và chỉ áp dụng khi có cơ sở nghi ngờ được dùng để che giấu tài sản tham nhũng[17].

Dự thảo nhận được rất nhiều sự quan tâm của dư luận xã hội, các tầng lớp nhân dân. Do đó, trong quá trình xây dựng Dự thảo, những chủ thể có thẩm quyền cần nghiêm túc, cầu thị lắng nghe ý kiến góp ý của nhân dân để hoàn thiện, nâng cao chất lượng các quy định, điều, khoản của Luật. Bên cạnh đó, các chủ thể có thẩm quyền phải thường xuyên phản hồi thông tin, làm rõ thông tin, giải thích thông tin liên quan đến Dự thảo để mọi tầng lớp nhân dân được hiểu, có niềm tin vào chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Dương Văn Quý

Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột



[1]. Điều 19 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[2]. Vũ Công Giao - Đỗ Thu Huyền, Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (344), 2016, tr. 83.

[3]. PGS.TS. Nguyễn Vũ Hoàng, Vấn đề thể chế hóa quyền tài sản trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2017/46090/Van-de-the-che-hoa-quyen-tai-san-trong-hoan-thien-the.aspx, truy cập ngày 05/7/2018.

[4]. Bùi Thị Thanh Hằng - Nguyễn Anh Thư, Một số nội dung đáng lưu ý của Phần thứ hai “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 (340), 2016, tr.7.

[5]. Điều 2 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr. 56.

[7]. ThS. Đỗ Thu Huyền, Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi: các quan điểm khác nhau và đề xuất lựa chọn, http://www.nclp.org.vn/ ban_ve_du_an_luat/quy-111inh-ve-kiem-soat-tai-san-thu-nhap-cua-can-bo-cong-chuc-trong-luat-phong-chong-tham-nhung-sua-111oi-cac-quan-111iem-khac-nhau-va-111e-xuat-lua-chon, truy cập ngày 05/7/2018.

[8]. Nguyễn Quốc Văn - Vũ Công Giao, Những vấn đề đặt ra sau 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 18 (322), 2016, tr. 35.

[9]. Điều 4 Luật Thanh tra năm 2010.

[10]. Điều 5 Luật Thanh tra năm 2010.

[11]. Trần Ngọc Đường, Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), 2017, tr. 7.

[12]. Trần Ngọc Đường, Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), 2017, tr. 9.

[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2016, tr. 307.

[14]. Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr. 64.

[15]. ThS. Đỗ Thu Huyền, Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi: các quan điểm khác nhau và đề xuất lựa chọn, http://www.nclp.org.vn/ ban_ve_du_an_luat/quy-111inh-ve-kiem-soat-tai-san-thu-nhap-cua-can-bo-cong-chuc-trong-luat-phong-chong-tham-nhung-sua-111oi-cac-quan-111iem-khac-nhau-va-111e-xuat-lua-chon, truy cập ngày 05/7/2018.

[16]. Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr. 57, 64.

[17]. Vũ Công Giao - Đỗ Thu Huyền, Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (344), 2016, tr. 83 - 84.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: