Thứ sáu 13/03/2026 22:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý một số quy định của Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi)

Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5. Dự kiến dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) sẽ được thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV. Bài viết góp ý một số quy định, nhằm góp phần hoàn thiện dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi).


1. Về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân

Điều 13 dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) (Dự thảo) được xây dựng trên cơ sở gộp Điều 31 và Điều 32 của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, theo đó quy định: “1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và pháp luật có liên quan. 2. Việc cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mình được thực hiện theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và các quy định của pháp luật có liên quan”. Do điều luật của Dự thảo được xây dựng trên cơ sở gộp các điều luật của pháp luật hiện hành, nên rất có thể quy định chỉ được ghép về mặt cơ học mà những nhà xây dựng Dự thảo chưa nghiên cứu kỹ quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Do đó, tác giả cho rằng, quy định này của Dự thảo chưa phù hợp với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và có phần thừa, không cần thiết phải quy định trong Dự thảo tránh phức tạp, rườm rà. Bởi vì, theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì quyền tiếp cận thông tin, trong đó có quyền yêu cầu cung cấp thông tin chỉ dành cho công dân (Điều 4), chứ không dành cho cả cơ quan, tổ chức, đơn vị như Dự thảo quy định. Cũng theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì trách nhiệm cung cấp thông tin chỉ quy định cho cơ quan nhà nước, còn tổ chức, đơn vị không có trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 9). Mặt khác, điểm k khoản 1 Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định: Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan và của đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân; nội quy, quy chế do cơ quan nhà nước ban hành phải được công khai rộng rãi. Như vậy, thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan là loại thông tin phải được công khai rộng rãi trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử[1], các hình thức khác và công dân được quyền tự do tiếp cận. Khi mà thông tin đã được công khai rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng, thiết nghĩ, công dân không cần dùng quyền yêu cầu và có thể công dân cũng ngại yêu cầu do có tâm lý chung khi tiếp xúc với cơ quan nhà nước. Mặt khác, Điều 8 của Dự thảo đã quy định nguyên tắc công khai, minh bạch là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Theo đó yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai, minh bạch thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, đơn vị ngoài việc công khai, minh bạch thông tin về tổ chức, hoạt động của mình còn phải công khai thủ tục hành chính có liên quan (khoản 2 Điều 9 Dự thảo). Quy định đó đã bao quát quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân. Do đó, theo tác giả, việc quy định một điều luật về quyền yêu cầu cung cấp thông tin đối với loại thông tin đã được công khai rộng rãi là có phần thừa, “phí” một điều luật.

2. Về quy định tặng quà và nhận quà tặng

Khoản 1 Điều 22 Dự thảo quy định: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức không được nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình”. Có lẽ xuất phát từ các nguyên nhân cơ bản như: Lợi dụng tình trạng văn hóa về tặng quà, cảm ơn để biếu xén, đưa hối lộ vì động cơ vụ lợi vẫn còn phổ biến. Các quy định về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng chưa chặt chẽ, không khả thi, ranh giới giữa quà tặng và tài sản hối lộ chưa được làm rõ, quy định trình tự báo cáo, nộp lại quà, nhất là quà bằng hiện vật phức tạp, khó thực hiện; pháp luật chưa có phương án xử lý đối với quà tặng là những lợi ích phi vật chất[2]… nên Dự thảo nghiêm cấm việc nhận quà dưới mọi hình thức đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức. Quy định này làm chúng ta nhớ lại một quy định của ngành giao thông “đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn sẽ bị phạt”. Chất lượng mũ bảo hiểm đạt chuẩn hay không đạt chuẩn là trách nhiệm thuộc cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này, chứ người dân không thể có đủ điều kiện để xác định mũ bảo hiểu phải như thế nào mới đạt chuẩn. Khi cơ quan quản lý nhà nước không đưa ra được những biện pháp cụ thể, hiệu quả để kiểm soát chất lượng mũ bảo hiểu trên thực tế mà lại đi kiểm soát quyền của người dân là không phù hợp trong Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trở lại quy định trên, quà ở đây có thể là dạng vật chất hoặc phi vật chất. Đó là quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và Hiến pháp năm 2013 hiến định quyền tài sản đó. Quyền tài sản là một trong những quyền dân sự cơ bản của con người. Quyền tài sản bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản[3]. Trong đó, quyền sở hữu tài sản thể hiện ở việc chủ sở hữu được thực hiện các quyền năng của mình trực tiếp trên đối tượng của quyền sở hữu, hưởng dụng và định đoạt đối tượng của quyền sở hữu hoàn toàn theo ý chí của mình (một cách tuyệt đối nhất)[4]. Như vậy, chủ sở hữu tài sản có toàn quyền định đoạt tài sản của mình theo bất cứ cách nào, trong đó kể cả được tặng tài sản cho chủ thể khác (tất nhiên là không trái với quy định của luật). Ở đây, quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng[5]. Như vậy, về mặt văn bản luật thì quy định ở Dự thảo đã thỏa mãn. Tuy nhiên, về lý do thì chưa thuyết phục được. Quy định ở đây chỉ tác động lên số ít đối tượng trong xã hội chứ không mang tính quốc gia, cộng đồng, xã hội. Mặt khác, tại Kết luận số 103-KL/TW, ngày 29/9/2014, của Bộ Chính trị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã chỉ rõ: “Thể chế hóa quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được xác lập trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước”. Do vậy, pháp luật bảo vệ quyền tài sản của chủ sở hữu, cho phép chủ sở hữu định đoạt tài sản của mình bên cạnh việc chủ sở hữu phải minh bạch các nghĩa vụ và trách nhiệm của mình liên quan đến quyền tài sản trong thủ tục hành chính nhà nước. Có nghĩa là, thủ tục hành chính nhà nước công khai, minh bạch là một cách để bảo đảm quyền tài sản của chủ sở hữu được sử dụng đúng luật. Mặt khác, hiện nay không tách bạch được quà tặng thông thường với quà tặng có liên quan đến nhiệm vụ, công vụ của người nhận quà[6]. Chúng ta rất khó xác định việc tặng quà, nhận quà liên quan đến công việc mình giải quyết (có thể xác định được phạm vi quản lý của mình dựa vào tiêu chí lãnh thổ, phân công, phân cấp hoặc ủy quyền thực hiện công việc…). Bởi vì, nguyên tắc tổ chức và hoạt động trong bộ máy nhà nước hay trong bất kỳ tổ chức, đơn vị, cá nhân đều có dáng dấp của việc phân công, phối hợp, kiểm soát thực hiện. Đã là phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thì mọi công việc đều có liên quan với nhau. Do đó, tác giả không đồng ý với quy định của Dự thảo. Dự thảo nên cho phép nhận quà và bổ sung nghĩa vụ kê khai quà tặng nhận được khi có yêu cầu kê khai tài sản. Các cơ quan quản lý nhà nước nên đặt ra những quy định cụ thể để công khai, minh bạch về việc nhận quà, tặng quà, chứ không phải nghiêm cấm quyền của chủ sở hữu tài sản để tạo thuận lợi cho bản thân trong phòng, chống tham nhũng. Như vậy là vi phạm quyền tài sản của chủ sở hữu tài sản do Hiến pháp quy định.

3. Về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập

Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, Việt Nam không có một cơ quan chuyên trách để quản lý thống nhất các bản kê khai, chịu trách nhiệm tiếp nhận các phản ánh về những nghi ngờ về tài sản, chủ động tiến hành theo dõi, xác minh khi thấy có những biến động đáng ngờ về tài sản tham nhũng của cán bộ, công chức[7]. Chính vì thế, điểm mới, tiến bộ của Dự thảo đã xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức và đưa ra 02 phương án về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập. Điểm chung của 02 phương án này là sử dụng những cơ quan hiện có trong bộ máy nhà nước để kiểm soát tài sản, thu nhập. Điều này góp phần không phát sinh thêm cơ quan, đơn vị, làm giảm gánh nặng về biên chế, ngân sách nhà nước. Ở phương án 02 lại quy định nhiều đầu mối có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập, như thế là dàn trải, không chuyên nghiệp và dễ dẫn đến lạm quyền, tham nhũng. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan đã được quy định tại văn bản pháp luật khác, trở nên “thừa”, không cần thiết, vì trùng lặp, không thể hiện được đặc thù của cơ quan chuyên trách chống tham nhũng[8]. Do đó, tác giả đồng ý với phương án 01 là giao thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập cho Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ và Thanh tra tỉnh. Đây là những cơ quan thanh tra nhà nước theo quy định của pháp luật[9]. Bản thân các cơ quan thanh tra này cũng đã có những nghiệp vụ nhất định trong công tác phòng, chống tham nhũng được quy định bởi nhiệm vụ, quyền hạn của mình[10]. Phương án này có ưu điểm là tập trung được đầu mối, đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, nguồn nhân lực với đội ngũ cán bộ chuyên trách, được đào tạo để đáp ứng nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, như đã nói đây là những cơ quan hiện có, nội bộ, cơ quan hành chính nên nặng về quản lý nhà nước. Mặt khác, tất cả các luật về tổ chức cơ quan trong bộ máy nhà nước đều chưa có quy định kiểm soát quyền lực nhà nước do bản thân tổ chức mình thực hiện[11]. Các cơ quan trên chưa phải là một thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nội bộ. Kiểm soát tài sản, thu nhập cũng là một biện pháp để kiểm soát quyền lực. Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập chính là cơ quan kiểm soát quyền lực. Do đó, để kiểm soát tài sản, thu nhập, kiểm soát quyền lực hiệu quả thì cần phải cải tổ lại bộ máy Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh. Tác giả đồng ý với phương án cải tổ lại bộ máy Thanh tra Chính phủ của GS.TS. Trần Ngọc Đường, đó là, Thanh tra Chính phủ là cơ quan giúp Thủ tướng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước trong nội bộ, độc lập với Chính phủ, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, chịu sự giám sát của Quốc hội[12]. Tương tự Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh cũng cải cách theo định hướng như vậy.

4. Về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập

Đây là điểm mới, tiến bộ của Dự thảo so với Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành. Điều 37 của Dự thảo đã giới hạn, chỉ rõ phạm vi đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập. Tác giả tán thành với quy định của Dự thảo về đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, nhất là đối với nhóm đối tượng là cán bộ, công chức thuộc đối tượng phải kê khai lần đầu. Quy định này phù hợp với chủ trương của Đảng là: “Thực hiện nghiêm quy định về kê khai, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý”[13]. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay thì các công chức tham nhũng thường che giấu tài sản, thu nhập dưới tên người thân quen. Do vậy, việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ cũng cần tính đến việc minh bạch tài sản của những người thân thích khác, ngoài vợ hoặc chồng và con chưa thành niên[14]. Bởi nếu không minh bạch tài sản của những người thân thích khác thì việc kiểm soát tài sản, thu nhập sẽ giống như kiểm soát nước trong “bình thông nhau” và tài sản, thu nhập bất hợp pháp có thể được cán bộ, công chức chuyển dịch sang những đối tượng này để trốn tránh sự kiểm soát của pháp luật[15]. Do đó, tác giả đề xuất phải kê khai tài sản, thu nhập thêm những người sau đây đối với người có chức vụ, quyền hạn: Con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu, anh chồng, chị chồng, em chồng, anh vợ, chị vợ, em vợ. Điều này cũng phù hợp với quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn quy định tại Điều 20 của Dự thảo. Quy định đó cũng phù hợp với các văn bản pháp luật liên quan như: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (khoản 5 Điều 21), Luật Công chứng năm 2014 (điểm c khoản 1 Điều 7), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (khoản 19 Điều 3), Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (khoản 7 Điều 2)… Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế, thực tiễn ở các quốc gia thì các thành viên chính phủ và những công chức giữ chức vụ cao cấp trở lên chịu sự kiểm soát tài sản, thu nhập chặt chẽ[16] mới áp dụng thêm đối tượng kê khai tài sản, thu nhập như đã nêu ở trên và chỉ áp dụng khi có cơ sở nghi ngờ được dùng để che giấu tài sản tham nhũng[17].

Dự thảo nhận được rất nhiều sự quan tâm của dư luận xã hội, các tầng lớp nhân dân. Do đó, trong quá trình xây dựng Dự thảo, những chủ thể có thẩm quyền cần nghiêm túc, cầu thị lắng nghe ý kiến góp ý của nhân dân để hoàn thiện, nâng cao chất lượng các quy định, điều, khoản của Luật. Bên cạnh đó, các chủ thể có thẩm quyền phải thường xuyên phản hồi thông tin, làm rõ thông tin, giải thích thông tin liên quan đến Dự thảo để mọi tầng lớp nhân dân được hiểu, có niềm tin vào chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Dương Văn Quý

Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột



[1]. Điều 19 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[2]. Vũ Công Giao - Đỗ Thu Huyền, Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (344), 2016, tr. 83.

[3]. PGS.TS. Nguyễn Vũ Hoàng, Vấn đề thể chế hóa quyền tài sản trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2017/46090/Van-de-the-che-hoa-quyen-tai-san-trong-hoan-thien-the.aspx, truy cập ngày 05/7/2018.

[4]. Bùi Thị Thanh Hằng - Nguyễn Anh Thư, Một số nội dung đáng lưu ý của Phần thứ hai “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 (340), 2016, tr.7.

[5]. Điều 2 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr. 56.

[7]. ThS. Đỗ Thu Huyền, Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi: các quan điểm khác nhau và đề xuất lựa chọn, http://www.nclp.org.vn/ ban_ve_du_an_luat/quy-111inh-ve-kiem-soat-tai-san-thu-nhap-cua-can-bo-cong-chuc-trong-luat-phong-chong-tham-nhung-sua-111oi-cac-quan-111iem-khac-nhau-va-111e-xuat-lua-chon, truy cập ngày 05/7/2018.

[8]. Nguyễn Quốc Văn - Vũ Công Giao, Những vấn đề đặt ra sau 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 18 (322), 2016, tr. 35.

[9]. Điều 4 Luật Thanh tra năm 2010.

[10]. Điều 5 Luật Thanh tra năm 2010.

[11]. Trần Ngọc Đường, Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), 2017, tr. 7.

[12]. Trần Ngọc Đường, Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), 2017, tr. 9.

[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2016, tr. 307.

[14]. Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr. 64.

[15]. ThS. Đỗ Thu Huyền, Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi: các quan điểm khác nhau và đề xuất lựa chọn, http://www.nclp.org.vn/ ban_ve_du_an_luat/quy-111inh-ve-kiem-soat-tai-san-thu-nhap-cua-can-bo-cong-chuc-trong-luat-phong-chong-tham-nhung-sua-111oi-cac-quan-111iem-khac-nhau-va-111e-xuat-lua-chon, truy cập ngày 05/7/2018.

[16]. Hoàng Nam Hải, Bất cập trong quy định và thực hiện việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (299), 2015, tr. 57, 64.

[17]. Vũ Công Giao - Đỗ Thu Huyền, Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (344), 2016, tr. 83 - 84.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: