Thứ năm 22/01/2026 18:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hạn mức trả bảo hiểm tiền gửi - Kinh nghiệm quốc tế và áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trên cơ sở khuyến nghị từ các nguyên tắc trong Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) và Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI), bài viết này đã phân tích thực trạng các quy định về hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị.


Abstract: On the basis of recommendations from the principles in Core Principles for effective deposit insurance systems of Basel Committee on Banking Supervision and International Association of Deposit Insurers, this paper analyzes the real situation of legal provisions with respect to deposit insurance limit in Vietnam and makes some recommendations.

Hạn mức trả bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG phải chi trả, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại một tổ chức tham gia BHTG khi mà tổ chức tham gia BHTG đó bị chấm dứt hoạt động và bị mất khả năng thanh toán. Chi trả BHTG là cách thức cuối cùng khi mà mọi biện pháp nhằm khôi phục cho tổ chức tham gia BHTG hoạt động bình thường không còn tác dụng. Chi trả tiền bảo hiểm là sự bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền. Việc chi trả kịp thời, thuận lợi sẽ tạo được niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tổ chức tín dụng ngân hàng.

1. Nguyên tắc xác định hạn mức bảo hiểm tiền gửi
Tháng 6/2009, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS)[1] và Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI)[2] đã xây dựng Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả và đây được xem là những nguyên tắc cơ bản mà các tổ chức BHTG trên thế giới sử dụng để đánh giá chất lượng hoạt động của BHTG. Theo Nguyên tắc thứ tám - Phạm vi bảo hiểm trong Bộ nguyên tắc này (được sửa đổi tháng 11/2014) có khuyến nghị về hạn mức BHTG như sau: “Các nhà hoạch định chính sách phải xác định rõ ràng hạn mức và phạm vi bảo hiểm tiền gửi. Phạm vi nên có giới hạn, đáng tin cậy và bảo hiểm cho phần lớn người gửi tiền nhưng phải đảm bảo có một giá trị tiền gửi đáng kể tuân theo kỷ luật thị trường. Phạm vi BHTG cần phù hợp với mục tiêu chính sách công và các đặc điểm thiết kế có liên quan của hệ thống BHTG. Hạn mức và phạm vi bảo hiểm có giới hạn và được thiết kế sao cho đáng tin cậy, để giảm thiểu rủi ro rút tiền hàng loạt và không được làm xói mòn kỷ luật thị trường. Hạn mức và phạm vi bảo hiểm tiền gửi được thiết lập sao cho phần lớn người gửi tiền ở các ngân hàng được bảo vệ đầy đủ nhưng phải đảm bảo có một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi không được bảo vệ. Trong trường hợp một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi được bảo vệ, phải giảm thiểu rủi ro đạo đức bằng quy định điều tiết và giám sát chặt chẽ, cũng như bằng các đặc điểm thiết kế khác của hệ thống BHTG”.

Như vậy, theo nguyên tắc này, các tổ chức BHTG của mỗi quốc gia trên thế giới cần phải đưa ra một hạn mức phù hợp để bảo vệ phần lớn người gửi tiền tại các ngân hàng có thể bị chấm dứt hoạt động hoặc bị mất khả năng thanh toán, nhưng vẫn phải đảm bảo có một số lượng lớn tiền gửi tuân theo kỷ luật thị trường. Tuy nhiên, tùy theo đặc thù về tình hình kinh tế của mỗi quốc gia sẽ có những yếu tố làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn hạn mức BHTG như nguồn quỹ của tổ chức BHTG, mối quan hệ giữa môi trường kinh tế và hệ thống ngân hàng, có nhiều tổ chức BHTG cùng hoạt động tại một quốc gia… Ví dụ, nếu nguồn quỹ của tổ chức BHTG hạn hẹp, cần phải giảm hạn mức BHTG, tuy nhiên, việc giảm hạn mức BHTG có thể dẫn đến nguy cơ về việc người gửi tiền sẽ rút tiền hàng loạt khi xảy ngân hàng xảy ra biến động. Vì thế, tại khoản 5 của Nguyên tắc thứ tám cũng khuyến nghị: “Hạn mức và phạm vi bảo hiểm được đánh giá lại một cách định kỳ (chẳng hạn ít nhất 05 năm một lần) để đảm bảo có thể đáp ứng các mục tiêu chính sách công của hệ thống BHTG”.

Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI) đã có hướng dẫn cụ thể về cách thức thiết lập hạn mức BHTG như sau:

Thứ nhất, hạn mức trả tiền bảo hiểm phải được thiết lập phù hợp với các mục tiêu chính sách, theo đó, phần lớn người gửi tiền tại các ngân hàng có nguy cơ bị xử lý được bảo vệ toàn bộ, trong khi phần lớn giá trị các khoản tiền gửi có xu hướng tuân theo kỷ luật thị trường. Với việc sử dụng dữ liệu về số lượng người gửi tiền được bảo hiểm và tỷ lệ tổng giá trị tiền gửi được bảo hiểm theo các hạn mức bảo hiểm khác nhau (tất cả các khoản tiền gửi/người gửi tiền đủ điều kiện được bảo hiểm), các cơ quan có thẩm quyền có thể thiết lập hạn mức bảo hiểm để bảo vệ nhiều người gửi tiền nhất có thể, trong khi để lại một lượng lớn giá trị tiền gửi không được bảo hiểm. Hạn mức bảo hiểm mục tiêu có thể dao động khoảng 90% - 95% tổng số người gửi tiền.

Thứ hai, cần phải xác định tỷ lệ tiền gửi có nguy cơ rủi ro cao. Các phương pháp xác định có thể mang tính kỹ thuật (chẳng hạn như giá trị chịu rủi ro hoặc xác suất đổ vỡ ngân hàng) hoặc trực tiếp hơn (như bảo hiểm được một số lượng nào đó các ngân hàng có quy mô nhỏ và vừa).

Thứ ba, sau khi xác định số tiền tối đa của các khoản tiền gửi có nguy cơ rủi ro, cần phải xác định cơ chế cấp vốn để chi trả. Các cơ quan có thẩm quyền có thể phát triển cơ chế cấp vốn để đảm bảo nguồn chi trả sẵn có. Hầu hết các cấu trúc xây dựng quỹ bao gồm sự kết hợp giữa cơ chế cấp vốn trước, cấp vốn sau và cấp vốn dự phòng khẩn cấp. Theo cơ chế cấp vốn trước, quy mô phù hợp của quỹ và các mức phí cần thiết để xây dựng quỹ theo thời gian phải được xác định. Theo cơ chế cấp vốn sau, việc xây dựng quỹ đảm bảo cần có tính thanh khoản. Tất cả các cơ chế cấp vốn cần phải tính đến các kế hoạch cấp vốn dự phòng khẩn cấp.

2. Hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và một số kiến nghị
Để thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, ngân hàng; góp phần duy trì và nâng cao niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng, các tổ chức BHTG trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều rất quan tâm đến chính sách về điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG. Điều 24 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2013 của Việt Nam có quy định: “1. Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. 2. Thủ tướng Chính phủ quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ”. Trên thực tế, hạn mức BHTG cũng đã nhiều lần được điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế cũng như sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi thì số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Tuy nhiên, ngày 24/8/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi, theo đó, đã điều chỉnh tăng số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền (một cá nhân hoặc người đại diện hợp pháp) tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Gần đây nhất, ngày 15/6/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg về hạn mức trả tiền bảo hiểm và đã tiếp tục tăng số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). Việc điều chỉnh này rất cần thiết để nhằm phát huy hiệu quả chính sách của BHTG và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Trong giai đoạn kinh tế Việt Nam hiện nay, việc Chính phủ điều chỉnh hạn mức trả tiền bảo hiểm từ 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng là tương đối hợp lý. Đây được xem như một cam kết của Chính phủ trong thúc đẩy việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.

Tuy nhiên, hạn mức trả tiền bảo hiểm vẫn cần tiếp tục được xem xét và xây dựng một lộ trình thích hợp hơn để có thể điều chỉnh tương xứng các khuyến nghị của IADI và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Một là, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây, hạn mức trả tiền bảo hiểm này chưa thể bảo vệ được đa số người gửi tiền tiết kiệm, vì khi tổ chức tín dụng tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản thì người gửi tiền chỉ được chi trả tối đa là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) là con số tương đối thấp so với thu nhập bình quân đầu người ở nước ta hiện nay – khoảng 2.385 USD, tương đương 53.500.000 đồng (năm mươi ba triệu, năm trăm ngàn đồng)[3]. Nếu căn cứ vào các nguyên tắc được khuyến nghị bởi IADI, thì hạn mức này cũng chưa được đảm bảo. Theo IADI, việc tính toán hạn mức trả tiền bảo hiểm phải tuân theo hai mục tiêu cơ bản là không quá thấp để khuyến khích người gửi tiền vào các tổ chức tín dụng và không quá cao để kiểm soát rủi ro đạo đức.

Các căn cứ để IADI tính hạn mức trả tiền bảo hiểm là: (i) GDP bình quân đầu người và các yếu tố liên quan như lạm phát, tỷ giá, niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính; (ii) Tỷ lệ phần trăm người gửi tiền được bảo vệ toàn bộ tính trên tổng số người gửi tiền; (iii) Tỷ lệ phần trăm giá trị tiền gửi được bảo vệ toàn bộ trên tổng số giá trị tiền gửi được bảo hiểm; (iv) Mức độ rủi ro của hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính. IADI khuyến nghị hạn mức BHTG nên bảo vệ toàn bộ được 90% - 95% số người gửi tiền; đồng thời tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người đạt từ 2,5 đến 5 lần. Tuy nhiên, so với GDP bình quân ở Việt Nam hiện nay là 53.500.000 đồng thì tỷ lệ này mới nằm ở mức 1,4 lần.

Hai là, hiện nay Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vẫn đang áp dụng chính sách thu phí BHTG đồng hạng (0,15% trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm) đối với tất cả các ngân hàng mà không dựa trên cơ sở mức độ rủi ro của mỗi ngân hàng. Việc thu phí đồng hạng có đặc điểm dễ quản lý, dễ tính phí và thu phí. Tuy nhiên, điều này dẫn đến tình trạng người gửi tiền khó có sự phân biệt được ngân hàng nào hoạt động tốt hơn, rủi ro thấp hơn và cũng giảm bớt sự khuyến khích đối với các ngân hàng tham gia BHTG cũng cố và nâng cao hoạt động của mình.

Ba là, Điều 27 của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2013 quy định: “Số tiền gửi của người được bảo hiểm tiền gửi bao gồm tiền gốc và tiền lãi vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm sẽ được giải quyết trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật”. Theo đó, khi ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền hoặc bị phá sản, thì ngoài khoản chi trả bảo hiểm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, người gửi tiền sẽ nhận được tiền từ hoạt động thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng đó khi bị phá sản. Các tài sản của ngân hàng đó sẽ được ưu tiên tiến hành chi trả cho chủ nợ là các khoản vay đặc biệt đầu tiên, thứ hai là người gửi tiền, thứ ba là các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng, thứ tư là đối tượng được xét duyệt chi trả là người sở hữu trái phiếu ngân hàng, thứ năm là các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ và thứ sáu là các cổ đông của ngân hàng đó[4]. Tuy nhiên, việc tiến hành phá sản và thanh lý tài sản của một tổ chức tín dụng sẽ mất một khoảng thời gian rất dài và khoản tiền gửi người gửi tiền nhận được sớm nhất vẫn là khoản mà Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chi trả.

Trên cơ sở đó, để hạn chế tối đa rủi ro cho người gửi tiền, chúng ta có thể áp dụng một số giải pháp sau đây:

- Cần phải có cơ chế đánh giá về hạn mức trả tiền bảo hiểm ít nhất là 05 năm một lần theo khuyến nghị của IADI kể từ ngày được điều chỉnh theo luật định nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của người gửi tiền và góp phần xây dựng hệ thống ngân hàng ổn định, lành mạnh.

- Cần xem xét và tuân thủ theo Nguyên tắc thứ tám với các tiêu chí cơ bản về hạn mức trong Bộ Nguyên tắc cơ bản phát triển mô hình BHTG hiệu quả của IADI.

- Cần phải nâng cao năng lực tài chính của tổ chức BHTG, thông qua việc xem xét tăng phí bảo hiểm tiền gửi.

- Cần phải xem xét để chuyển đổi qua phương pháp tính phí BHTG theo mức độ rủi ro. Vì với mức độ tăng trưởng tiền gửi được bảo hiểm như hiện nay thì quỹ vốn của tổ chức BHTG khó có thể đáp ứng được việc xử lý khi ngân hàng đổ vỡ. Bên cạnh đó, sau một thời gian hoạt động, tổ chức BHTG đã tích lũy đủ nguồn lực, kinh nghiệm để có khả năng đánh giá, xếp hạng, phân loại tổ chức tham gia BHTG một cách phù hợp. Việc thu phí BHTG theo mức độ rủi ro sẽ nâng cao động lực quản trị rủi ro, đảm bảo sự công bằng cho các tổ chức tham gia BHTG, góp phần nâng cao sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng.

ThS. Nguyễn Đăng Quân

Tài liệu tham khảo:
1. Basel Committee on Banking Supervision.
2. International Association of Deposit Insurers.
3. Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2017, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
4. Điều 11 Thông tư số 24/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: