Thứ bảy 27/06/2026 13:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hạn mức trả bảo hiểm tiền gửi - Kinh nghiệm quốc tế và áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trên cơ sở khuyến nghị từ các nguyên tắc trong Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) và Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI), bài viết này đã phân tích thực trạng các quy định về hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị.


Abstract: On the basis of recommendations from the principles in Core Principles for effective deposit insurance systems of Basel Committee on Banking Supervision and International Association of Deposit Insurers, this paper analyzes the real situation of legal provisions with respect to deposit insurance limit in Vietnam and makes some recommendations.

Hạn mức trả bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG phải chi trả, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại một tổ chức tham gia BHTG khi mà tổ chức tham gia BHTG đó bị chấm dứt hoạt động và bị mất khả năng thanh toán. Chi trả BHTG là cách thức cuối cùng khi mà mọi biện pháp nhằm khôi phục cho tổ chức tham gia BHTG hoạt động bình thường không còn tác dụng. Chi trả tiền bảo hiểm là sự bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền. Việc chi trả kịp thời, thuận lợi sẽ tạo được niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tổ chức tín dụng ngân hàng.

1. Nguyên tắc xác định hạn mức bảo hiểm tiền gửi
Tháng 6/2009, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS)[1] và Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI)[2] đã xây dựng Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả và đây được xem là những nguyên tắc cơ bản mà các tổ chức BHTG trên thế giới sử dụng để đánh giá chất lượng hoạt động của BHTG. Theo Nguyên tắc thứ tám - Phạm vi bảo hiểm trong Bộ nguyên tắc này (được sửa đổi tháng 11/2014) có khuyến nghị về hạn mức BHTG như sau: “Các nhà hoạch định chính sách phải xác định rõ ràng hạn mức và phạm vi bảo hiểm tiền gửi. Phạm vi nên có giới hạn, đáng tin cậy và bảo hiểm cho phần lớn người gửi tiền nhưng phải đảm bảo có một giá trị tiền gửi đáng kể tuân theo kỷ luật thị trường. Phạm vi BHTG cần phù hợp với mục tiêu chính sách công và các đặc điểm thiết kế có liên quan của hệ thống BHTG. Hạn mức và phạm vi bảo hiểm có giới hạn và được thiết kế sao cho đáng tin cậy, để giảm thiểu rủi ro rút tiền hàng loạt và không được làm xói mòn kỷ luật thị trường. Hạn mức và phạm vi bảo hiểm tiền gửi được thiết lập sao cho phần lớn người gửi tiền ở các ngân hàng được bảo vệ đầy đủ nhưng phải đảm bảo có một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi không được bảo vệ. Trong trường hợp một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi được bảo vệ, phải giảm thiểu rủi ro đạo đức bằng quy định điều tiết và giám sát chặt chẽ, cũng như bằng các đặc điểm thiết kế khác của hệ thống BHTG”.

Như vậy, theo nguyên tắc này, các tổ chức BHTG của mỗi quốc gia trên thế giới cần phải đưa ra một hạn mức phù hợp để bảo vệ phần lớn người gửi tiền tại các ngân hàng có thể bị chấm dứt hoạt động hoặc bị mất khả năng thanh toán, nhưng vẫn phải đảm bảo có một số lượng lớn tiền gửi tuân theo kỷ luật thị trường. Tuy nhiên, tùy theo đặc thù về tình hình kinh tế của mỗi quốc gia sẽ có những yếu tố làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn hạn mức BHTG như nguồn quỹ của tổ chức BHTG, mối quan hệ giữa môi trường kinh tế và hệ thống ngân hàng, có nhiều tổ chức BHTG cùng hoạt động tại một quốc gia… Ví dụ, nếu nguồn quỹ của tổ chức BHTG hạn hẹp, cần phải giảm hạn mức BHTG, tuy nhiên, việc giảm hạn mức BHTG có thể dẫn đến nguy cơ về việc người gửi tiền sẽ rút tiền hàng loạt khi xảy ngân hàng xảy ra biến động. Vì thế, tại khoản 5 của Nguyên tắc thứ tám cũng khuyến nghị: “Hạn mức và phạm vi bảo hiểm được đánh giá lại một cách định kỳ (chẳng hạn ít nhất 05 năm một lần) để đảm bảo có thể đáp ứng các mục tiêu chính sách công của hệ thống BHTG”.

Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI) đã có hướng dẫn cụ thể về cách thức thiết lập hạn mức BHTG như sau:

Thứ nhất, hạn mức trả tiền bảo hiểm phải được thiết lập phù hợp với các mục tiêu chính sách, theo đó, phần lớn người gửi tiền tại các ngân hàng có nguy cơ bị xử lý được bảo vệ toàn bộ, trong khi phần lớn giá trị các khoản tiền gửi có xu hướng tuân theo kỷ luật thị trường. Với việc sử dụng dữ liệu về số lượng người gửi tiền được bảo hiểm và tỷ lệ tổng giá trị tiền gửi được bảo hiểm theo các hạn mức bảo hiểm khác nhau (tất cả các khoản tiền gửi/người gửi tiền đủ điều kiện được bảo hiểm), các cơ quan có thẩm quyền có thể thiết lập hạn mức bảo hiểm để bảo vệ nhiều người gửi tiền nhất có thể, trong khi để lại một lượng lớn giá trị tiền gửi không được bảo hiểm. Hạn mức bảo hiểm mục tiêu có thể dao động khoảng 90% - 95% tổng số người gửi tiền.

Thứ hai, cần phải xác định tỷ lệ tiền gửi có nguy cơ rủi ro cao. Các phương pháp xác định có thể mang tính kỹ thuật (chẳng hạn như giá trị chịu rủi ro hoặc xác suất đổ vỡ ngân hàng) hoặc trực tiếp hơn (như bảo hiểm được một số lượng nào đó các ngân hàng có quy mô nhỏ và vừa).

Thứ ba, sau khi xác định số tiền tối đa của các khoản tiền gửi có nguy cơ rủi ro, cần phải xác định cơ chế cấp vốn để chi trả. Các cơ quan có thẩm quyền có thể phát triển cơ chế cấp vốn để đảm bảo nguồn chi trả sẵn có. Hầu hết các cấu trúc xây dựng quỹ bao gồm sự kết hợp giữa cơ chế cấp vốn trước, cấp vốn sau và cấp vốn dự phòng khẩn cấp. Theo cơ chế cấp vốn trước, quy mô phù hợp của quỹ và các mức phí cần thiết để xây dựng quỹ theo thời gian phải được xác định. Theo cơ chế cấp vốn sau, việc xây dựng quỹ đảm bảo cần có tính thanh khoản. Tất cả các cơ chế cấp vốn cần phải tính đến các kế hoạch cấp vốn dự phòng khẩn cấp.

2. Hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và một số kiến nghị
Để thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, ngân hàng; góp phần duy trì và nâng cao niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng, các tổ chức BHTG trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều rất quan tâm đến chính sách về điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG. Điều 24 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2013 của Việt Nam có quy định: “1. Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. 2. Thủ tướng Chính phủ quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ”. Trên thực tế, hạn mức BHTG cũng đã nhiều lần được điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế cũng như sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi thì số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Tuy nhiên, ngày 24/8/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi, theo đó, đã điều chỉnh tăng số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền (một cá nhân hoặc người đại diện hợp pháp) tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Gần đây nhất, ngày 15/6/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg về hạn mức trả tiền bảo hiểm và đã tiếp tục tăng số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). Việc điều chỉnh này rất cần thiết để nhằm phát huy hiệu quả chính sách của BHTG và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Trong giai đoạn kinh tế Việt Nam hiện nay, việc Chính phủ điều chỉnh hạn mức trả tiền bảo hiểm từ 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng là tương đối hợp lý. Đây được xem như một cam kết của Chính phủ trong thúc đẩy việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.

Tuy nhiên, hạn mức trả tiền bảo hiểm vẫn cần tiếp tục được xem xét và xây dựng một lộ trình thích hợp hơn để có thể điều chỉnh tương xứng các khuyến nghị của IADI và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Một là, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây, hạn mức trả tiền bảo hiểm này chưa thể bảo vệ được đa số người gửi tiền tiết kiệm, vì khi tổ chức tín dụng tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản thì người gửi tiền chỉ được chi trả tối đa là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) là con số tương đối thấp so với thu nhập bình quân đầu người ở nước ta hiện nay – khoảng 2.385 USD, tương đương 53.500.000 đồng (năm mươi ba triệu, năm trăm ngàn đồng)[3]. Nếu căn cứ vào các nguyên tắc được khuyến nghị bởi IADI, thì hạn mức này cũng chưa được đảm bảo. Theo IADI, việc tính toán hạn mức trả tiền bảo hiểm phải tuân theo hai mục tiêu cơ bản là không quá thấp để khuyến khích người gửi tiền vào các tổ chức tín dụng và không quá cao để kiểm soát rủi ro đạo đức.

Các căn cứ để IADI tính hạn mức trả tiền bảo hiểm là: (i) GDP bình quân đầu người và các yếu tố liên quan như lạm phát, tỷ giá, niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính; (ii) Tỷ lệ phần trăm người gửi tiền được bảo vệ toàn bộ tính trên tổng số người gửi tiền; (iii) Tỷ lệ phần trăm giá trị tiền gửi được bảo vệ toàn bộ trên tổng số giá trị tiền gửi được bảo hiểm; (iv) Mức độ rủi ro của hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính. IADI khuyến nghị hạn mức BHTG nên bảo vệ toàn bộ được 90% - 95% số người gửi tiền; đồng thời tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người đạt từ 2,5 đến 5 lần. Tuy nhiên, so với GDP bình quân ở Việt Nam hiện nay là 53.500.000 đồng thì tỷ lệ này mới nằm ở mức 1,4 lần.

Hai là, hiện nay Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vẫn đang áp dụng chính sách thu phí BHTG đồng hạng (0,15% trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm) đối với tất cả các ngân hàng mà không dựa trên cơ sở mức độ rủi ro của mỗi ngân hàng. Việc thu phí đồng hạng có đặc điểm dễ quản lý, dễ tính phí và thu phí. Tuy nhiên, điều này dẫn đến tình trạng người gửi tiền khó có sự phân biệt được ngân hàng nào hoạt động tốt hơn, rủi ro thấp hơn và cũng giảm bớt sự khuyến khích đối với các ngân hàng tham gia BHTG cũng cố và nâng cao hoạt động của mình.

Ba là, Điều 27 của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2013 quy định: “Số tiền gửi của người được bảo hiểm tiền gửi bao gồm tiền gốc và tiền lãi vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm sẽ được giải quyết trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật”. Theo đó, khi ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền hoặc bị phá sản, thì ngoài khoản chi trả bảo hiểm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, người gửi tiền sẽ nhận được tiền từ hoạt động thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng đó khi bị phá sản. Các tài sản của ngân hàng đó sẽ được ưu tiên tiến hành chi trả cho chủ nợ là các khoản vay đặc biệt đầu tiên, thứ hai là người gửi tiền, thứ ba là các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng, thứ tư là đối tượng được xét duyệt chi trả là người sở hữu trái phiếu ngân hàng, thứ năm là các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ và thứ sáu là các cổ đông của ngân hàng đó[4]. Tuy nhiên, việc tiến hành phá sản và thanh lý tài sản của một tổ chức tín dụng sẽ mất một khoảng thời gian rất dài và khoản tiền gửi người gửi tiền nhận được sớm nhất vẫn là khoản mà Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chi trả.

Trên cơ sở đó, để hạn chế tối đa rủi ro cho người gửi tiền, chúng ta có thể áp dụng một số giải pháp sau đây:

- Cần phải có cơ chế đánh giá về hạn mức trả tiền bảo hiểm ít nhất là 05 năm một lần theo khuyến nghị của IADI kể từ ngày được điều chỉnh theo luật định nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của người gửi tiền và góp phần xây dựng hệ thống ngân hàng ổn định, lành mạnh.

- Cần xem xét và tuân thủ theo Nguyên tắc thứ tám với các tiêu chí cơ bản về hạn mức trong Bộ Nguyên tắc cơ bản phát triển mô hình BHTG hiệu quả của IADI.

- Cần phải nâng cao năng lực tài chính của tổ chức BHTG, thông qua việc xem xét tăng phí bảo hiểm tiền gửi.

- Cần phải xem xét để chuyển đổi qua phương pháp tính phí BHTG theo mức độ rủi ro. Vì với mức độ tăng trưởng tiền gửi được bảo hiểm như hiện nay thì quỹ vốn của tổ chức BHTG khó có thể đáp ứng được việc xử lý khi ngân hàng đổ vỡ. Bên cạnh đó, sau một thời gian hoạt động, tổ chức BHTG đã tích lũy đủ nguồn lực, kinh nghiệm để có khả năng đánh giá, xếp hạng, phân loại tổ chức tham gia BHTG một cách phù hợp. Việc thu phí BHTG theo mức độ rủi ro sẽ nâng cao động lực quản trị rủi ro, đảm bảo sự công bằng cho các tổ chức tham gia BHTG, góp phần nâng cao sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng.

ThS. Nguyễn Đăng Quân

Tài liệu tham khảo:
1. Basel Committee on Banking Supervision.
2. International Association of Deposit Insurers.
3. Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2017, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
4. Điều 11 Thông tư số 24/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: