Chủ nhật 25/10/2026 04:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hạn mức trả bảo hiểm tiền gửi - Kinh nghiệm quốc tế và áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trên cơ sở khuyến nghị từ các nguyên tắc trong Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) và Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI), bài viết này đã phân tích thực trạng các quy định về hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị.


Abstract: On the basis of recommendations from the principles in Core Principles for effective deposit insurance systems of Basel Committee on Banking Supervision and International Association of Deposit Insurers, this paper analyzes the real situation of legal provisions with respect to deposit insurance limit in Vietnam and makes some recommendations.

Hạn mức trả bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG phải chi trả, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại một tổ chức tham gia BHTG khi mà tổ chức tham gia BHTG đó bị chấm dứt hoạt động và bị mất khả năng thanh toán. Chi trả BHTG là cách thức cuối cùng khi mà mọi biện pháp nhằm khôi phục cho tổ chức tham gia BHTG hoạt động bình thường không còn tác dụng. Chi trả tiền bảo hiểm là sự bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền. Việc chi trả kịp thời, thuận lợi sẽ tạo được niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tổ chức tín dụng ngân hàng.

1. Nguyên tắc xác định hạn mức bảo hiểm tiền gửi
Tháng 6/2009, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS)[1] và Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI)[2] đã xây dựng Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả và đây được xem là những nguyên tắc cơ bản mà các tổ chức BHTG trên thế giới sử dụng để đánh giá chất lượng hoạt động của BHTG. Theo Nguyên tắc thứ tám - Phạm vi bảo hiểm trong Bộ nguyên tắc này (được sửa đổi tháng 11/2014) có khuyến nghị về hạn mức BHTG như sau: “Các nhà hoạch định chính sách phải xác định rõ ràng hạn mức và phạm vi bảo hiểm tiền gửi. Phạm vi nên có giới hạn, đáng tin cậy và bảo hiểm cho phần lớn người gửi tiền nhưng phải đảm bảo có một giá trị tiền gửi đáng kể tuân theo kỷ luật thị trường. Phạm vi BHTG cần phù hợp với mục tiêu chính sách công và các đặc điểm thiết kế có liên quan của hệ thống BHTG. Hạn mức và phạm vi bảo hiểm có giới hạn và được thiết kế sao cho đáng tin cậy, để giảm thiểu rủi ro rút tiền hàng loạt và không được làm xói mòn kỷ luật thị trường. Hạn mức và phạm vi bảo hiểm tiền gửi được thiết lập sao cho phần lớn người gửi tiền ở các ngân hàng được bảo vệ đầy đủ nhưng phải đảm bảo có một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi không được bảo vệ. Trong trường hợp một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi được bảo vệ, phải giảm thiểu rủi ro đạo đức bằng quy định điều tiết và giám sát chặt chẽ, cũng như bằng các đặc điểm thiết kế khác của hệ thống BHTG”.

Như vậy, theo nguyên tắc này, các tổ chức BHTG của mỗi quốc gia trên thế giới cần phải đưa ra một hạn mức phù hợp để bảo vệ phần lớn người gửi tiền tại các ngân hàng có thể bị chấm dứt hoạt động hoặc bị mất khả năng thanh toán, nhưng vẫn phải đảm bảo có một số lượng lớn tiền gửi tuân theo kỷ luật thị trường. Tuy nhiên, tùy theo đặc thù về tình hình kinh tế của mỗi quốc gia sẽ có những yếu tố làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn hạn mức BHTG như nguồn quỹ của tổ chức BHTG, mối quan hệ giữa môi trường kinh tế và hệ thống ngân hàng, có nhiều tổ chức BHTG cùng hoạt động tại một quốc gia… Ví dụ, nếu nguồn quỹ của tổ chức BHTG hạn hẹp, cần phải giảm hạn mức BHTG, tuy nhiên, việc giảm hạn mức BHTG có thể dẫn đến nguy cơ về việc người gửi tiền sẽ rút tiền hàng loạt khi xảy ngân hàng xảy ra biến động. Vì thế, tại khoản 5 của Nguyên tắc thứ tám cũng khuyến nghị: “Hạn mức và phạm vi bảo hiểm được đánh giá lại một cách định kỳ (chẳng hạn ít nhất 05 năm một lần) để đảm bảo có thể đáp ứng các mục tiêu chính sách công của hệ thống BHTG”.

Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI) đã có hướng dẫn cụ thể về cách thức thiết lập hạn mức BHTG như sau:

Thứ nhất, hạn mức trả tiền bảo hiểm phải được thiết lập phù hợp với các mục tiêu chính sách, theo đó, phần lớn người gửi tiền tại các ngân hàng có nguy cơ bị xử lý được bảo vệ toàn bộ, trong khi phần lớn giá trị các khoản tiền gửi có xu hướng tuân theo kỷ luật thị trường. Với việc sử dụng dữ liệu về số lượng người gửi tiền được bảo hiểm và tỷ lệ tổng giá trị tiền gửi được bảo hiểm theo các hạn mức bảo hiểm khác nhau (tất cả các khoản tiền gửi/người gửi tiền đủ điều kiện được bảo hiểm), các cơ quan có thẩm quyền có thể thiết lập hạn mức bảo hiểm để bảo vệ nhiều người gửi tiền nhất có thể, trong khi để lại một lượng lớn giá trị tiền gửi không được bảo hiểm. Hạn mức bảo hiểm mục tiêu có thể dao động khoảng 90% - 95% tổng số người gửi tiền.

Thứ hai, cần phải xác định tỷ lệ tiền gửi có nguy cơ rủi ro cao. Các phương pháp xác định có thể mang tính kỹ thuật (chẳng hạn như giá trị chịu rủi ro hoặc xác suất đổ vỡ ngân hàng) hoặc trực tiếp hơn (như bảo hiểm được một số lượng nào đó các ngân hàng có quy mô nhỏ và vừa).

Thứ ba, sau khi xác định số tiền tối đa của các khoản tiền gửi có nguy cơ rủi ro, cần phải xác định cơ chế cấp vốn để chi trả. Các cơ quan có thẩm quyền có thể phát triển cơ chế cấp vốn để đảm bảo nguồn chi trả sẵn có. Hầu hết các cấu trúc xây dựng quỹ bao gồm sự kết hợp giữa cơ chế cấp vốn trước, cấp vốn sau và cấp vốn dự phòng khẩn cấp. Theo cơ chế cấp vốn trước, quy mô phù hợp của quỹ và các mức phí cần thiết để xây dựng quỹ theo thời gian phải được xác định. Theo cơ chế cấp vốn sau, việc xây dựng quỹ đảm bảo cần có tính thanh khoản. Tất cả các cơ chế cấp vốn cần phải tính đến các kế hoạch cấp vốn dự phòng khẩn cấp.

2. Hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và một số kiến nghị
Để thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, ngân hàng; góp phần duy trì và nâng cao niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng, các tổ chức BHTG trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều rất quan tâm đến chính sách về điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG. Điều 24 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2013 của Việt Nam có quy định: “1. Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. 2. Thủ tướng Chính phủ quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ”. Trên thực tế, hạn mức BHTG cũng đã nhiều lần được điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế cũng như sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi thì số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Tuy nhiên, ngày 24/8/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi, theo đó, đã điều chỉnh tăng số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền (một cá nhân hoặc người đại diện hợp pháp) tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Gần đây nhất, ngày 15/6/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg về hạn mức trả tiền bảo hiểm và đã tiếp tục tăng số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). Việc điều chỉnh này rất cần thiết để nhằm phát huy hiệu quả chính sách của BHTG và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Trong giai đoạn kinh tế Việt Nam hiện nay, việc Chính phủ điều chỉnh hạn mức trả tiền bảo hiểm từ 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng là tương đối hợp lý. Đây được xem như một cam kết của Chính phủ trong thúc đẩy việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.

Tuy nhiên, hạn mức trả tiền bảo hiểm vẫn cần tiếp tục được xem xét và xây dựng một lộ trình thích hợp hơn để có thể điều chỉnh tương xứng các khuyến nghị của IADI và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Một là, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây, hạn mức trả tiền bảo hiểm này chưa thể bảo vệ được đa số người gửi tiền tiết kiệm, vì khi tổ chức tín dụng tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản thì người gửi tiền chỉ được chi trả tối đa là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) là con số tương đối thấp so với thu nhập bình quân đầu người ở nước ta hiện nay – khoảng 2.385 USD, tương đương 53.500.000 đồng (năm mươi ba triệu, năm trăm ngàn đồng)[3]. Nếu căn cứ vào các nguyên tắc được khuyến nghị bởi IADI, thì hạn mức này cũng chưa được đảm bảo. Theo IADI, việc tính toán hạn mức trả tiền bảo hiểm phải tuân theo hai mục tiêu cơ bản là không quá thấp để khuyến khích người gửi tiền vào các tổ chức tín dụng và không quá cao để kiểm soát rủi ro đạo đức.

Các căn cứ để IADI tính hạn mức trả tiền bảo hiểm là: (i) GDP bình quân đầu người và các yếu tố liên quan như lạm phát, tỷ giá, niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính; (ii) Tỷ lệ phần trăm người gửi tiền được bảo vệ toàn bộ tính trên tổng số người gửi tiền; (iii) Tỷ lệ phần trăm giá trị tiền gửi được bảo vệ toàn bộ trên tổng số giá trị tiền gửi được bảo hiểm; (iv) Mức độ rủi ro của hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính. IADI khuyến nghị hạn mức BHTG nên bảo vệ toàn bộ được 90% - 95% số người gửi tiền; đồng thời tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người đạt từ 2,5 đến 5 lần. Tuy nhiên, so với GDP bình quân ở Việt Nam hiện nay là 53.500.000 đồng thì tỷ lệ này mới nằm ở mức 1,4 lần.

Hai là, hiện nay Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vẫn đang áp dụng chính sách thu phí BHTG đồng hạng (0,15% trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm) đối với tất cả các ngân hàng mà không dựa trên cơ sở mức độ rủi ro của mỗi ngân hàng. Việc thu phí đồng hạng có đặc điểm dễ quản lý, dễ tính phí và thu phí. Tuy nhiên, điều này dẫn đến tình trạng người gửi tiền khó có sự phân biệt được ngân hàng nào hoạt động tốt hơn, rủi ro thấp hơn và cũng giảm bớt sự khuyến khích đối với các ngân hàng tham gia BHTG cũng cố và nâng cao hoạt động của mình.

Ba là, Điều 27 của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2013 quy định: “Số tiền gửi của người được bảo hiểm tiền gửi bao gồm tiền gốc và tiền lãi vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm sẽ được giải quyết trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật”. Theo đó, khi ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền hoặc bị phá sản, thì ngoài khoản chi trả bảo hiểm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, người gửi tiền sẽ nhận được tiền từ hoạt động thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng đó khi bị phá sản. Các tài sản của ngân hàng đó sẽ được ưu tiên tiến hành chi trả cho chủ nợ là các khoản vay đặc biệt đầu tiên, thứ hai là người gửi tiền, thứ ba là các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng, thứ tư là đối tượng được xét duyệt chi trả là người sở hữu trái phiếu ngân hàng, thứ năm là các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ và thứ sáu là các cổ đông của ngân hàng đó[4]. Tuy nhiên, việc tiến hành phá sản và thanh lý tài sản của một tổ chức tín dụng sẽ mất một khoảng thời gian rất dài và khoản tiền gửi người gửi tiền nhận được sớm nhất vẫn là khoản mà Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chi trả.

Trên cơ sở đó, để hạn chế tối đa rủi ro cho người gửi tiền, chúng ta có thể áp dụng một số giải pháp sau đây:

- Cần phải có cơ chế đánh giá về hạn mức trả tiền bảo hiểm ít nhất là 05 năm một lần theo khuyến nghị của IADI kể từ ngày được điều chỉnh theo luật định nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của người gửi tiền và góp phần xây dựng hệ thống ngân hàng ổn định, lành mạnh.

- Cần xem xét và tuân thủ theo Nguyên tắc thứ tám với các tiêu chí cơ bản về hạn mức trong Bộ Nguyên tắc cơ bản phát triển mô hình BHTG hiệu quả của IADI.

- Cần phải nâng cao năng lực tài chính của tổ chức BHTG, thông qua việc xem xét tăng phí bảo hiểm tiền gửi.

- Cần phải xem xét để chuyển đổi qua phương pháp tính phí BHTG theo mức độ rủi ro. Vì với mức độ tăng trưởng tiền gửi được bảo hiểm như hiện nay thì quỹ vốn của tổ chức BHTG khó có thể đáp ứng được việc xử lý khi ngân hàng đổ vỡ. Bên cạnh đó, sau một thời gian hoạt động, tổ chức BHTG đã tích lũy đủ nguồn lực, kinh nghiệm để có khả năng đánh giá, xếp hạng, phân loại tổ chức tham gia BHTG một cách phù hợp. Việc thu phí BHTG theo mức độ rủi ro sẽ nâng cao động lực quản trị rủi ro, đảm bảo sự công bằng cho các tổ chức tham gia BHTG, góp phần nâng cao sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng.

ThS. Nguyễn Đăng Quân

Tài liệu tham khảo:
1. Basel Committee on Banking Supervision.
2. International Association of Deposit Insurers.
3. Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2017, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
4. Điều 11 Thông tư số 24/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: