Thứ tư 18/03/2026 03:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hạn mức trả bảo hiểm tiền gửi - Kinh nghiệm quốc tế và áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trên cơ sở khuyến nghị từ các nguyên tắc trong Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) và Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI), bài viết này đã phân tích thực trạng các quy định về hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị.


Abstract: On the basis of recommendations from the principles in Core Principles for effective deposit insurance systems of Basel Committee on Banking Supervision and International Association of Deposit Insurers, this paper analyzes the real situation of legal provisions with respect to deposit insurance limit in Vietnam and makes some recommendations.

Hạn mức trả bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG phải chi trả, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại một tổ chức tham gia BHTG khi mà tổ chức tham gia BHTG đó bị chấm dứt hoạt động và bị mất khả năng thanh toán. Chi trả BHTG là cách thức cuối cùng khi mà mọi biện pháp nhằm khôi phục cho tổ chức tham gia BHTG hoạt động bình thường không còn tác dụng. Chi trả tiền bảo hiểm là sự bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền. Việc chi trả kịp thời, thuận lợi sẽ tạo được niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tổ chức tín dụng ngân hàng.

1. Nguyên tắc xác định hạn mức bảo hiểm tiền gửi
Tháng 6/2009, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS)[1] và Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI)[2] đã xây dựng Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả và đây được xem là những nguyên tắc cơ bản mà các tổ chức BHTG trên thế giới sử dụng để đánh giá chất lượng hoạt động của BHTG. Theo Nguyên tắc thứ tám - Phạm vi bảo hiểm trong Bộ nguyên tắc này (được sửa đổi tháng 11/2014) có khuyến nghị về hạn mức BHTG như sau: “Các nhà hoạch định chính sách phải xác định rõ ràng hạn mức và phạm vi bảo hiểm tiền gửi. Phạm vi nên có giới hạn, đáng tin cậy và bảo hiểm cho phần lớn người gửi tiền nhưng phải đảm bảo có một giá trị tiền gửi đáng kể tuân theo kỷ luật thị trường. Phạm vi BHTG cần phù hợp với mục tiêu chính sách công và các đặc điểm thiết kế có liên quan của hệ thống BHTG. Hạn mức và phạm vi bảo hiểm có giới hạn và được thiết kế sao cho đáng tin cậy, để giảm thiểu rủi ro rút tiền hàng loạt và không được làm xói mòn kỷ luật thị trường. Hạn mức và phạm vi bảo hiểm tiền gửi được thiết lập sao cho phần lớn người gửi tiền ở các ngân hàng được bảo vệ đầy đủ nhưng phải đảm bảo có một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi không được bảo vệ. Trong trường hợp một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi được bảo vệ, phải giảm thiểu rủi ro đạo đức bằng quy định điều tiết và giám sát chặt chẽ, cũng như bằng các đặc điểm thiết kế khác của hệ thống BHTG”.

Như vậy, theo nguyên tắc này, các tổ chức BHTG của mỗi quốc gia trên thế giới cần phải đưa ra một hạn mức phù hợp để bảo vệ phần lớn người gửi tiền tại các ngân hàng có thể bị chấm dứt hoạt động hoặc bị mất khả năng thanh toán, nhưng vẫn phải đảm bảo có một số lượng lớn tiền gửi tuân theo kỷ luật thị trường. Tuy nhiên, tùy theo đặc thù về tình hình kinh tế của mỗi quốc gia sẽ có những yếu tố làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn hạn mức BHTG như nguồn quỹ của tổ chức BHTG, mối quan hệ giữa môi trường kinh tế và hệ thống ngân hàng, có nhiều tổ chức BHTG cùng hoạt động tại một quốc gia… Ví dụ, nếu nguồn quỹ của tổ chức BHTG hạn hẹp, cần phải giảm hạn mức BHTG, tuy nhiên, việc giảm hạn mức BHTG có thể dẫn đến nguy cơ về việc người gửi tiền sẽ rút tiền hàng loạt khi xảy ngân hàng xảy ra biến động. Vì thế, tại khoản 5 của Nguyên tắc thứ tám cũng khuyến nghị: “Hạn mức và phạm vi bảo hiểm được đánh giá lại một cách định kỳ (chẳng hạn ít nhất 05 năm một lần) để đảm bảo có thể đáp ứng các mục tiêu chính sách công của hệ thống BHTG”.

Hiệp hội Bảo hiểm Tiền gửi Quốc tế (IADI) đã có hướng dẫn cụ thể về cách thức thiết lập hạn mức BHTG như sau:

Thứ nhất, hạn mức trả tiền bảo hiểm phải được thiết lập phù hợp với các mục tiêu chính sách, theo đó, phần lớn người gửi tiền tại các ngân hàng có nguy cơ bị xử lý được bảo vệ toàn bộ, trong khi phần lớn giá trị các khoản tiền gửi có xu hướng tuân theo kỷ luật thị trường. Với việc sử dụng dữ liệu về số lượng người gửi tiền được bảo hiểm và tỷ lệ tổng giá trị tiền gửi được bảo hiểm theo các hạn mức bảo hiểm khác nhau (tất cả các khoản tiền gửi/người gửi tiền đủ điều kiện được bảo hiểm), các cơ quan có thẩm quyền có thể thiết lập hạn mức bảo hiểm để bảo vệ nhiều người gửi tiền nhất có thể, trong khi để lại một lượng lớn giá trị tiền gửi không được bảo hiểm. Hạn mức bảo hiểm mục tiêu có thể dao động khoảng 90% - 95% tổng số người gửi tiền.

Thứ hai, cần phải xác định tỷ lệ tiền gửi có nguy cơ rủi ro cao. Các phương pháp xác định có thể mang tính kỹ thuật (chẳng hạn như giá trị chịu rủi ro hoặc xác suất đổ vỡ ngân hàng) hoặc trực tiếp hơn (như bảo hiểm được một số lượng nào đó các ngân hàng có quy mô nhỏ và vừa).

Thứ ba, sau khi xác định số tiền tối đa của các khoản tiền gửi có nguy cơ rủi ro, cần phải xác định cơ chế cấp vốn để chi trả. Các cơ quan có thẩm quyền có thể phát triển cơ chế cấp vốn để đảm bảo nguồn chi trả sẵn có. Hầu hết các cấu trúc xây dựng quỹ bao gồm sự kết hợp giữa cơ chế cấp vốn trước, cấp vốn sau và cấp vốn dự phòng khẩn cấp. Theo cơ chế cấp vốn trước, quy mô phù hợp của quỹ và các mức phí cần thiết để xây dựng quỹ theo thời gian phải được xác định. Theo cơ chế cấp vốn sau, việc xây dựng quỹ đảm bảo cần có tính thanh khoản. Tất cả các cơ chế cấp vốn cần phải tính đến các kế hoạch cấp vốn dự phòng khẩn cấp.

2. Hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và một số kiến nghị
Để thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, ngân hàng; góp phần duy trì và nâng cao niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng, các tổ chức BHTG trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều rất quan tâm đến chính sách về điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG. Điều 24 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2013 của Việt Nam có quy định: “1. Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. 2. Thủ tướng Chính phủ quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ”. Trên thực tế, hạn mức BHTG cũng đã nhiều lần được điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế cũng như sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi thì số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Tuy nhiên, ngày 24/8/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi, theo đó, đã điều chỉnh tăng số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền (một cá nhân hoặc người đại diện hợp pháp) tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Gần đây nhất, ngày 15/6/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg về hạn mức trả tiền bảo hiểm và đã tiếp tục tăng số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). Việc điều chỉnh này rất cần thiết để nhằm phát huy hiệu quả chính sách của BHTG và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Trong giai đoạn kinh tế Việt Nam hiện nay, việc Chính phủ điều chỉnh hạn mức trả tiền bảo hiểm từ 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng là tương đối hợp lý. Đây được xem như một cam kết của Chính phủ trong thúc đẩy việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.

Tuy nhiên, hạn mức trả tiền bảo hiểm vẫn cần tiếp tục được xem xét và xây dựng một lộ trình thích hợp hơn để có thể điều chỉnh tương xứng các khuyến nghị của IADI và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Một là, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây, hạn mức trả tiền bảo hiểm này chưa thể bảo vệ được đa số người gửi tiền tiết kiệm, vì khi tổ chức tín dụng tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản thì người gửi tiền chỉ được chi trả tối đa là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) là con số tương đối thấp so với thu nhập bình quân đầu người ở nước ta hiện nay – khoảng 2.385 USD, tương đương 53.500.000 đồng (năm mươi ba triệu, năm trăm ngàn đồng)[3]. Nếu căn cứ vào các nguyên tắc được khuyến nghị bởi IADI, thì hạn mức này cũng chưa được đảm bảo. Theo IADI, việc tính toán hạn mức trả tiền bảo hiểm phải tuân theo hai mục tiêu cơ bản là không quá thấp để khuyến khích người gửi tiền vào các tổ chức tín dụng và không quá cao để kiểm soát rủi ro đạo đức.

Các căn cứ để IADI tính hạn mức trả tiền bảo hiểm là: (i) GDP bình quân đầu người và các yếu tố liên quan như lạm phát, tỷ giá, niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính; (ii) Tỷ lệ phần trăm người gửi tiền được bảo vệ toàn bộ tính trên tổng số người gửi tiền; (iii) Tỷ lệ phần trăm giá trị tiền gửi được bảo vệ toàn bộ trên tổng số giá trị tiền gửi được bảo hiểm; (iv) Mức độ rủi ro của hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính. IADI khuyến nghị hạn mức BHTG nên bảo vệ toàn bộ được 90% - 95% số người gửi tiền; đồng thời tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người đạt từ 2,5 đến 5 lần. Tuy nhiên, so với GDP bình quân ở Việt Nam hiện nay là 53.500.000 đồng thì tỷ lệ này mới nằm ở mức 1,4 lần.

Hai là, hiện nay Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vẫn đang áp dụng chính sách thu phí BHTG đồng hạng (0,15% trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm) đối với tất cả các ngân hàng mà không dựa trên cơ sở mức độ rủi ro của mỗi ngân hàng. Việc thu phí đồng hạng có đặc điểm dễ quản lý, dễ tính phí và thu phí. Tuy nhiên, điều này dẫn đến tình trạng người gửi tiền khó có sự phân biệt được ngân hàng nào hoạt động tốt hơn, rủi ro thấp hơn và cũng giảm bớt sự khuyến khích đối với các ngân hàng tham gia BHTG cũng cố và nâng cao hoạt động của mình.

Ba là, Điều 27 của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2013 quy định: “Số tiền gửi của người được bảo hiểm tiền gửi bao gồm tiền gốc và tiền lãi vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm sẽ được giải quyết trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật”. Theo đó, khi ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền hoặc bị phá sản, thì ngoài khoản chi trả bảo hiểm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, người gửi tiền sẽ nhận được tiền từ hoạt động thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng đó khi bị phá sản. Các tài sản của ngân hàng đó sẽ được ưu tiên tiến hành chi trả cho chủ nợ là các khoản vay đặc biệt đầu tiên, thứ hai là người gửi tiền, thứ ba là các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng, thứ tư là đối tượng được xét duyệt chi trả là người sở hữu trái phiếu ngân hàng, thứ năm là các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ và thứ sáu là các cổ đông của ngân hàng đó[4]. Tuy nhiên, việc tiến hành phá sản và thanh lý tài sản của một tổ chức tín dụng sẽ mất một khoảng thời gian rất dài và khoản tiền gửi người gửi tiền nhận được sớm nhất vẫn là khoản mà Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chi trả.

Trên cơ sở đó, để hạn chế tối đa rủi ro cho người gửi tiền, chúng ta có thể áp dụng một số giải pháp sau đây:

- Cần phải có cơ chế đánh giá về hạn mức trả tiền bảo hiểm ít nhất là 05 năm một lần theo khuyến nghị của IADI kể từ ngày được điều chỉnh theo luật định nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của người gửi tiền và góp phần xây dựng hệ thống ngân hàng ổn định, lành mạnh.

- Cần xem xét và tuân thủ theo Nguyên tắc thứ tám với các tiêu chí cơ bản về hạn mức trong Bộ Nguyên tắc cơ bản phát triển mô hình BHTG hiệu quả của IADI.

- Cần phải nâng cao năng lực tài chính của tổ chức BHTG, thông qua việc xem xét tăng phí bảo hiểm tiền gửi.

- Cần phải xem xét để chuyển đổi qua phương pháp tính phí BHTG theo mức độ rủi ro. Vì với mức độ tăng trưởng tiền gửi được bảo hiểm như hiện nay thì quỹ vốn của tổ chức BHTG khó có thể đáp ứng được việc xử lý khi ngân hàng đổ vỡ. Bên cạnh đó, sau một thời gian hoạt động, tổ chức BHTG đã tích lũy đủ nguồn lực, kinh nghiệm để có khả năng đánh giá, xếp hạng, phân loại tổ chức tham gia BHTG một cách phù hợp. Việc thu phí BHTG theo mức độ rủi ro sẽ nâng cao động lực quản trị rủi ro, đảm bảo sự công bằng cho các tổ chức tham gia BHTG, góp phần nâng cao sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng.

ThS. Nguyễn Đăng Quân

Tài liệu tham khảo:
1. Basel Committee on Banking Supervision.
2. International Association of Deposit Insurers.
3. Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2017, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
4. Điều 11 Thông tư số 24/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: