Thứ bảy 10/10/2026 05:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hành vi xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

Tóm tắt: Ở Việt Nam hiện nay, thực trạng xâm phạm quyền tác giả xảy ra khá phổ biến, rộng khắp các lĩnh vực: Báo chí, xuất bản, âm nhạc, phát thanh truyền hình, biểu diễn, trên mạng internet…

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số và internet đã mang đến những tiện ích mới cho người sử dụng nhưng cũng mở ra các lối đi khác cho nạn xâm phạm bản quyền ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã có những quy định điều chỉnh về hành vi xâm phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định này trong việc xác định và xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Qua việc phân tích các quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, bài viết chỉ ra những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và được hợp nhất năm 2013) quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả, trong đó có thể chia thành ba nhóm hành vi xâm phạm: (i) Các hành vi xâm phạm các quyền nhân thân; (ii) Các hành vi xâm phạm quyền tài sản; (iii) Các hành vi xâm phạm đến các biện pháp bảo vệ quyền tác giả. Để hướng dẫn các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu, Điều 5 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, được sửa đổi, bổ sung theo quy định của Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 quy định các căn cứ chung để xác định hành vi xâm phạm quyền sở hứu trí tuệ nói chung, xâm phạm quyền tác giả nói riêng, bao gồm:

Thứ nhất, đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền tác giả.

Theo khoản 7 Điều 3 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP, “đối tượng bị xem xét” là đối tượng bị nghi ngờ và bị xem xét nhằm đưa ra kết luận đó có phải là đối tượng xâm phạm hay không. Như vậy, đối tượng bị xem xét của hành vi xâm phạm quyền tác giả là tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đang được bảo hộ quyền tác giả. Quyền tác giả được bảo hộ tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đã được đăng ký hay chưa đăng ký[1]. Theo Điều 6 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP, việc xác định đối tượng được bảo hộ được thực hiện bằng cách xem xét các tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ phát sinh, xác lập quyền theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ. Đối với quyền tác giả không đăng ký bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền (Cục Bản quyền tác giả), thì quyền này được xác định trên cơ sở bản gốc tác phẩm và các tài liệu liên quan (nếu có). Nếu bản gốc tác phẩm và các tài liệu liên quan không còn tồn tại, quyền tác giả được xem là có thực dựa trên cơ sở các thông tin về tác giả được thể hiện thông thường trên các bản sao được công bố hợp pháp. Đối với quyền tác giả đã được đăng ký bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền, thì việc xác định đối tượng được bảo hộ dựa vào Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả và các tài liệu kèm theo. Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, các quyền nhân thân thuộc quyền tác giả (trừ quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ vô thời hạn; Quyền công bố và các quyền tài sản thuộc quyền tác giả được bảo hộ có thời hạn, nên hành vi chỉ bị coi là xâm phạm quyền tác giả khi tác phẩm đang trong thời hạn bảo hộ. Nếu tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ thì thuộc về công chúng, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân như quyền đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn đối với tác phẩm[2]. Một điểm cần lưu ý thêm là “đối tượng bị xem xét” không phải là các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả theo Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ như: Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin; văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.

Khoản 1 Điều 7 Nghị định 105/2006/NĐ- CP (đã được sửa đổi, bổ sung), yếu tố xâm phạm quyền tác giả có thể thuộc một trong các dạng sau đây:

a) Bản sao tác phẩm được tạo ra một cách trái phép;

b) Tác phẩm phái sinh được tạo ra một cách trái phép;

c) Tác phẩm giả mạo tên, chữ ký của tác giả, mạo danh hoặc chiếm đoạt quyền tác giả;

d) Phần tác phẩm bị trích đoạn, sao chép, lắp ghép trái phép;

đ) Sản phẩm có gắn thiết bị kỹ thuật bảo vệ quyền tác giả bị vô hiệu hoá trái phép.

Quy định trên chỉ đề cập tới yếu tố xâm phạm quyền nhân thân của tác giả là: “Tác phẩm giả mạo tên, chữ ký của tác giả, mạo danh hoặc chiếm đoạt quyền tác giả”. Đối chiếu với Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ, bên cạnh những hành vi như “chiếm đoạt quyền tác giả” (khoản 1 Điều 28); Mạo danh tác giả (khoản 2 Điều 28), điều luật còn đề cập tới các hành vi xâm phạm quyền nhân thân khác như: Công bố tác phẩm mà không được phép của tác giả (khoản 3); Công bố tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó (khoản 4); Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả (khoản 5). Thiếu sót của Nghị định 105/2006/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) có thể dẫn đến khó khăn trong thực tế khi xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với những hành vi này.

Bên cạnh đó, pháp luật sở hữu trí tuệ cũng chưa phân biệt rõ hành vi chiếm đoạt quyền tác giả với trường hợp mạo danh tác giả. Theo chúng tôi, hành vi mạo danh tác giả là là hành vi đưa tên người không phải là tác giả lên bản sao tác phẩm, làm cho công chúng hiểu nhầm người đó là tác giả thực hiện một phần hay toàn bộ tác phẩm. Hành vi này thường do những chủ thể không phải là tác giả thực hiện như lấy toàn bộ hay một phần tác phẩm của người khác rồi đề tên mình vào vị trí của tác giả. Hành vi mạo danh đơn thuần chỉ xâm phạm quyền nhân thân của tác giả tại khoản 2 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ. Ngoài việc mạo danh đối với toàn bộ nội dung tác phẩm, trường hợp khá phổ biến trên thực tế là việc trích dẫn một đoạn tác phẩm mà không nêu rõ nguồn gốc trích dẫn, người thực hiện hành vi xâm phạm này đã tự nhận “đoạn tác phẩm” đó là của mình. Theo chúng tôi, hành vi này cũng là mạo danh tác giả. Còn hành vi chiếm đoạt quyền tác giả, do pháp luật không có sự giải thích cụ thể nên có nhiều quan điểm khác nhau. Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ quyền tác giả” do Nhà xuất bản Thế giới và Cục bản quyền tác giả phối hợp xuất bản, “chiếm đoạt quyền sử dụng tác phẩm” được hiểu là sao chép tác phẩm mà không có sự đồng ý của chủ thể quyền[3]. Chúng tôi không nhất trí với quan điểm này khi đánh đồng hành vi “sao chép tác phẩm” và “chiếm đoạt quyền tác giả”, vì việc sao chép tác phẩm đã được quy định là một hành vi độc lập. Theo chúng tôi, “chiếm đoạt quyền tác giả” là lấy toàn bộ nội dung tác phẩm của người khác. Tuy nhiên khác với hành vi mạo danh chỉ xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả và có thể mạo danh đối với toàn bộ hoặc một phần tác phẩm, hành vi chiếm đoạt quyền tác giả được hiểu là việc biến tác phẩm của người khác thành tác phẩm của mình để được hưởng các lợi ích từ quyền tác giả. Theo cách hiểu này thì hành vi “chiếm đoạt quyền tác giả” là hành vi khai thác các quyền tác giả đối với tác phẩm mà không được phép.

Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả: Đây là hành vi vi phạm diễn ra khá phổ biến trong các hoạt động sử dụng tác phẩm như: Xuất bản, biểu diễn, sản xuất bản ghi âm, ghi hình... Theo quy định tại khoản 5 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi chỉ coi là hành vi xâm phạm nếu việc “sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm” “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”. Theo quy định này thì việc sửa chữa, cắt xén không gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả, thậm chí làm cho tác phẩm hay hơn thì không bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, việc sửa chữa, cắt xén có làm phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả không là rất khó xác định và không có tiêu chí để đánh giá. Thực tế, người cắt xén, sửa chữa tác phẩm có thể cho là việc làm của họ khiến cho tác phẩm hay hơn, nhưng ngược lại, tác giả lại phản đối và cho rằng việc sửa chữa đó làm ảnh hưởng xấu đến tác phẩm cũng như danh dự, uy tín của tác giả. Quy định của Luật Sở hữu trí tuệ cũng không thống nhất với hướng dẫn tại khoản 3 Điều 22 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, theo đó, quyền bảo vệ sự toàn vẹn đối với tác phẩm là “việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận với tác giả”. Theo tinh thần của quy định này, bất cứ việc sửa chữa, cắt xén tác phẩm nào mà không có sự đồng ý của tác giả thì đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Chúng tôi tán thành quan điểm thể hiện trong khoản 3 Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ-CP vì tác phẩm là “đứa con tinh thần của tác giả”, là một thể thống nhất thể hiện nội dung, tư tưởng, ý đồ nghệ thuật của tác giả. Việc sửa chữa, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào có thể làm ảnh hưởng đến giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm, làm sai lệch, thậm chí bóp méo tư tưởng, chủ đề mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm của họ. Vì vậy, không có chủ thể nào khác ngoài tác giả có quyền thay đổi nội dung của tác phẩm kể cả trong trường hợp việc thay đổi nhằm làm tăng giá trị nghệ thuật, giá trị thực tiễn của tác phẩm, trừ trường hợp được tác giả cho phép. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số ngoại lệ của quyền này: (i) Trường hợp trích dẫn hợp lý tác phẩm vì mục đích giảng dạy, nghiên cứu không bị coi là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm; (ii) Trường hợp sau khi tác phẩm được công bố, những người khác làm tác phẩm phái sinh, có những thay đổi, sáng tạo mới về nội dung, hình thức thể hiện hay truyền đạt so với tác phẩm ban đầu cũng không bị coi làm xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cần phải có sự thống nhất giữa quy định của Luật SHTT và văn bản hướng dẫn về việc xác định hành vi xâm phạm đến tính toàn vẹn của tác phẩm, để việc áp dụng được rõ ràng, chính xác, tranh gây ra nhiều tranh chấp về vấn đề này.

Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), yếu tố xâm phạm quyền tài sản của tác giả bao gồm các dạng: Bản sao tác phẩm được tạo ra một cách trái phép; tác phẩm phái sinh được tạo ra một cách trái phép; phần tác phẩm bị trích đoạn, sao chép, lắp ghép trái phép.

“Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả” là một trong những hành vi xâm phạm quyền tài sản phổ biến nhất. Khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ giải thích về hành vi sao chép “là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử”. Nếu như trước đây, sao chép tác phẩm thường được hiểu là việc làm các bản sao dưới các hình thức vật chất hữu hình như văn bản, băng, đĩa... thì quy định này đã mở rộng phạm vi quyền sao chép đến cả các hình thức điện tử. Quy định này hoàn toàn phù hợp với khái niệm sao chép trong Điều 9 Công ước Berne “tác giả được hưởng độc quyền cho phép sao chép tác phẩm dưới bất kỳ phương tiện hay hình thức nào” cũng như hai Hiệp ước Internet của WIPO. Theo khoản 5 Điều 1 Nghị định 85/2011/NĐ-CP, quyền sao chép thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả hoặc người khác được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép thực hiện. Tác giả chỉ có quyền sao chép tác phẩm khi tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả hoặc người được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép thực hiện.

Để xác định một bản sao hoặc tác phẩm có phải là yếu tố xâm phạm quyền tác giả hay không, cần so sánh bản sao đó với bản gốc tác phẩm hoặc tác phẩm gốc. Bản sao tác phẩm bị coi là yếu tố xâm phạm trong các trường hợp: Bản sao là bản sao chép một phần hoặc toàn bộ tác phẩm của người khác; Tác phẩm (phần tác phẩm) là một phần hoặc toàn bộ tác phẩm của người khác; Tác phẩm, phần tác phẩm có nhân vật, hình tượng, cách thể hiện tính cách nhân vật, hình tượng, tình tiết của tác phẩm đang được bảo hộ của người khác.

Quyền sao chép là một trong những quyền tài sản quan trọng nhất của chủ sở hữu quyền tác giả và cũng là quyền thường bị xâm phạm nhiều nhất trong môi trường truyền thống (tác phẩm in, bản ghi âm, ghi hình) cũng như trong môi trường Internet. Quyền sao chép theo đúng nghĩa của nó là việc làm bản sao tác phẩm ở bất kỳ hình thức vật chất nào, không phụ thuộc vào việc hành vi đó được thực hiện ở đâu, khi nào; những bảo sao sẽ được đưa ra công chúng hay không. Bên cạnh đó hành vi sao chép không đòi hỏi phải có một số lượng bản sao nhất định để đáp ứng được nhu cầu hợp lý của công chúng. Việc xác định hành vi xâm phạm quyền sao chép trong môi trường Internet liên quan đến việc xác định các bản sao tạm thời có được pháp luật quyền tác giả bảo hộ hay không? Ví dụ, việc lưu giữ tự động của máy tính khi mở một website có chứa văn bản có gọi là bản sao không? Việc lưu giữ này chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn (chỉ lúc người sử dụng mở website đó mà không copy về máy mình những thông tin có trên website). Nếu coi là một “bản sao dưới hình thức điện tử” thì khi đọc truyện trực tuyến, xem phim trực tuyến hay khi mở bất cứ một văn bản nào trên Internet cũng phải xin phép tác giả là vô lý, điều này cũng sẽ dẫn đến sự hủy diệt của Internet. Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 23 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, “sao chép tác phẩm là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử”. Theo hướng dẫn này thì bản sao tạm thời tác phẩm cũng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền sao chép. Tuy nhiên, Nghị định số 85/2011/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP đã bỏ quy định về bản sao tạm thời tác phẩm, theo đó, “Quyền sao chép tác phẩm… việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử”. Với quy định mới này, “bản sao tạm thời” không thuộc độc quyền sao chép của chủ sở hữu quyền tác giả, nên hành vi tạo ra bản sao tạm thời không bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Chỉ khi nào chủ thể copy (ghi chép) dữ liệu điện tử về máy tính của mình thì mới coi là bản sao điện tử.

Pháp luật Sở hữu trí tuệ chỉ đặt ra một số ngoại lệ đối với quyền sao chép (Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ) như tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy của cá nhân hay sao chép một bản để lưu trữ trong thư viện (việc sao chép này cũng không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tạo hình, chương trình máy tính). Như vậy, hành vi sao chép ngoài những trường hợp nêu trên dù thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào (có thể là bản in, sao chép lên băng đĩa, thông qua các phương tiện kỹ thuật số, ghi chép vào dữ liệu máy tính...), thực hiện ở đâu, các bản sao có được phát hành đến công chúng hay không... đều có thể bị xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, trên môi trường Internet, việc sao chép và lưu trữ tác phẩm được tiến hành một cách dễ dàng, nhanh chóng với số lượng rất lớn các bản sao. Vì vậy, thực tế khó có thể kiểm soát được số lượng tác phẩm được sao chép gắn với mục đích giảng dạy, nghiên cứu khoa học cũng như việc lưu trữ bản sao kỹ thuật số của thư viện. Đây là một thách thức lớn trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm.

Khoản 7 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ” là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Theo quy định của Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền làm tác phẩm phái sinh thuộc độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả. Do đó, khi người khác tạo ra tác phẩm phái sinh trên cơ sở tác phẩm gốc như: Dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn... tác phẩm thì phải xin phép (nếu tác phẩm chưa được công bố), trả tiền nhuận bút, thù lao... cho chủ sở hữu tác phẩm gốc.

Nghị định số 105/2006/NĐ-CP chỉ đề cập đến hai hành vi xâm phạm quyền tác giả kể trên. Trong khi đó, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ còn quy định về các hành vi xâm phạm quyền tài sản của tác giả, bao gồm các hành vi: Phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả (khoản 3), và phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó (khoản 4); Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác (khoản 8); Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả (khoản 9); Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả (khoản 10); Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả (khoản 11); Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả (khoản 16).

Hành vi phân phối tác phẩm được hiểu là việc thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm. Tương tự như quyền sao chép, khái niệm quyền phân phối cũng được mở rộng để phù hợp với sự phát triển của môi trường kỹ thuật số. Phân phối tác phẩm có thể thực hiện bằng bất kỳ hình thức hay phương tiện kỹ thuật nào, ví dụ việc bán bản sao tác phẩm có thể được thực hiện trên Internet...

Theo khoản 3 Điều 23 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, quyền phân phối tác phẩm thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả hoặc người được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép thực hiện. Nếu tác giả (hoặc các đồng tác giả) đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả thì phải được sự cho phép của tác giả (hoặc các đồng tác giả) đó. Do đó, muốn phân phối tác phẩm thì phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, bất kể là tác phẩm đó có đồng tác giả hay không. Như vậy, quy định trên là không phù hợp, cần bỏ quy định về hành vi phân phối tác phẩm mà không được phép của đồng tác giả đó tại khoản 4, và sửa lại khoản 3 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ như sau:“3. … phân phối tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả”.

Khoản 3 Điều 28 Luật Sỡ hữu trí tuệ bao gồm hai hành vi: Công bố và phân phối tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả. Quy định như vậy chưa thực sự hợp lý, bởi lẽ hai hành vi trên xâm phạm đến các quyền khác nhau thuộc quyền tác giả, cụ thể là hành vi công bố tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi xâm phạm quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm - quyền nhân thân của tác giả tại khoản 3 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ; trong khi đó hành vi phân phối tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi xâm phạm quyền phân phối tác phẩm - quyền tài sản của tác giả tại điểm d khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Vì vậy, theo chúng tôi, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ nên quy định theo hướng tách riêng hai hành vi trên.

Với sự thay đổi nhanh chóng trong cách thức thể hiện tác phẩm, trong thời đại hiện nay, các phương tiện truyền tải tác phẩm cũng ngày càng phong phú, đa dạng hơn, cho phép việc chuyển tải tác phẩm đến công chúng với phạm vi không bị hạn chế trong thời gian nhanh chất, chất lượng tốt nhất. Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ ghi nhận: “Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác” là một trong các độc quyền thuộc quyền tác giả. Chủ sở hữu quyền tác giả có độc quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện nào mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn. Đây cũng là quy định thể hiện sự tiếp cận mới của pháp luật Việt Nam đối với việc bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên kỹ thuật số, khi mà Internet trở thành một phương tiện truyển tải tác phẩm phổ biến với những đặc thù: Truyền đạt tác phẩm không bị hạn chế về phạm vi lãnh thổ; công chúng có thể tiếp cận tại bất kỳ đâu, bất kỳ thời điểm nào do họ lựa chọn.

Có thể nhận thấy yếu tố xâm phạm trong nhiều trường hợp như: Biểu diễn tác phẩm trước công chúng; nhân bản; xuất bản, phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng các phương tiện kỹ thuật; cho thuê tác phẩm... chưa được pháp luật quy định cụ thể. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung yếu tố xâm phạm đối với các hành vi này là: “Tác phẩm bị sử dụng mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ”.

Liên quan đến hành vi xâm phạm đến các biện pháp bảo vệ quyền tác giả, điểm đ khoản 1 Điều 7 Nghị định 105/2006/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét là: “Sản phẩm có gắn thiết bị kỹ thuật bảo vệ quyền tác giả bị vô hiệu hóa trái phép”. Hành vi xâm phạm quyền ở đây là hành vi làm vô hiệu hóa các thiết bị kỹ thuật để bảo vệ quyền tác giả. Tuy nhiên, khoản 14 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ khi quy định về các hành vi xâm phạm còn quy định việc: “Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình” cũng là hành vi xâm phạm. Theo quy định này thì hành vi xâm phạm quyền tác giả không chỉ là những hành vi tác động trực tiếp để làm vô hiệu hóa các thiết bị bảo vệ quyền tác giả, mà còn bao gồm những hành vi làm tiền đề cho hành vi xâm phạm kể trên như sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê những thiết bị này cũng là hành vi xâm phạm. Quy định này hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 18.68 Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) khi TPP yêu cầu các thành viên có các biện pháp chế tài pháp lý hiệu quả (bao gồm cả các biện pháp xử lý hình sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại) đối với những chủ thể có hành vi: (i) Làm vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ mà chủ thể quyền sử dụng để kiểm soát việc truy cập tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm của họ; (ii) Sản xuất, nhập khẩu, phân phối, chào bán, cho thuê, cung cấp thiết bị, sản phẩm, linh kiện… để vô hiệu hóa các biện pháp bảo vệ của chủ thể quyền.

Khoản 13 Điều 28 quy định hành vi “cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm” là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Các chủ thể quyền có thể áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền tác giả bằng cách đưa các thông tin quản lý quyền gắn với bản gốc, bản sao tác phẩm; hoặc đưa thông tin quản lý quyền xuất hiện cùng với việc truyền đạt tác phẩm tới công chúng nhằm xác định tác phẩm, tác giả của tác phẩm, chủ sở hữu quyền, thông tin về thời hạn, điều kiện sử dụng tác phẩm và mọi số liệu hoặc mã, ký hiệu thể hiện thông tin đó để bảo vệ quyền tác giả. Đồng thời các chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp công nghệ để bảo vệ các thông tin quản lý quyền, ngăn chặn các hành vi tiếp cận tác phẩm, khai thác bất hợp pháp quyền sở hữu của mình theo quy định của pháp luật. Các thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm có thể là: mã nguồn của các chương trình, các mã chống sao chép, các mã cho phép số lần sử dụng hay thời hạn sử dụng đĩa CD, VCD chứa tác phẩm…Điều 18.69 của Hiệp định TPP quy định hành vi gỡ bỏ hoặc làm thay đổi thông tin quản lý quyền…trên tác phẩm hành vi xâm phạm quyền tác giả. Như vậy, việc bảo hộ quyền tác giả đã được mở rộng, không chỉ giới hạn ở hành vi xâm phạm quyền mà thậm chí đối với những hành vi xâm phạm công nghệ bảo vệ tác phẩm, hoặc xâm phạm vào các thông tin quản lí quyền.

Thứ ba, người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền tác giả và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26 Luật Sở hữu trí tuệ.

Chủ thể của quyền tác giả có thể là chính tác giả (đồng tác giả), hoặc chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền tác giả. Theo Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ, pháp luật cho phép tổ chức, cá nhân được sử dụng các tác phẩm đang được bảo hộ trong những trường hợp giới hạn mà không phải xin phép, trả nhuận bút, thù lao, với những điều kiện phù hợp như: việc sử dụng không nhằm mục đích thương mại (như: sao chép tác phẩm để nghiên cứu khoa học, giảng dạy; trích dẫn để bình luận, minh họa...); không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm; không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ cho phép tổ chức phát sóng được sử dụng các tác phẩm (trừ tác phẩm điện ảnh) đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Thứ tư, hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.

Hành vi xem xét bị coi là xảy ra tại Việt Nam khi hành vi đó được bắt đầu thực hiện tại Việt Nam, kết thúc tại Việt Nam hoặc hành vi bắt đầu và kết thúc ở nước ngoài, nhưng có một giai đoạn được thực hiện tại Việt Nam. Hành vi xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam. Hành vi này có thể hiểu là hành vi xảy ra trên mạng internet nhắm vào các trang web phổ biến mà phần lớn người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam thường hay truy cập.

Có thể thấy rằng cho đến thời điểm hiện nay, chúng ta đã có những văn bản điều chỉnh hành vi xâm phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, các quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả vẫn còn thiếu hệ thống, chưa thực sự đầy đủ, đồng bộ. Vẫn còn những quy định chưa phù hợp, đặc biệt với sự phát triển của internet và bảo vệ quyền tác giả trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam thì một trong những yêu cầu quan trọng là xây dựng hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ, đồng bộ, có tính hệ thống cao để người dân dễ hiểu và dễ thực hiện, các chủ thể có thẩm quyền dễ áp dụng vào thực tế.

ThS. Nguyễn Huy Hoàng

TAND Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh


[1] Xem khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ.

[2] Xem Điều 43 Luật Sở hứu trí tuệ.

[3] Từ điển thuật ngữ quyền tác giả, quyền liên quan, NXB. Thế giới và Cục bản quyền tác giả, 2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: