Thứ năm 08/10/2026 14:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hiến pháp - Cơ sở pháp lý cơ bản của việc bảo đảm quyền con người

Hiện nay, quyền con người đã được cộng đồng quốc tế, các quốc gia ghi nhận và bảo vệ. Ở nước ta, quyền con người được quan tâm từ rất sớm. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Tiếp theo đó, ở các thời kỳ khác nhau nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Điều này được khẳng định trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Trong hệ thống pháp luật, quyền con người được ghi nhận tại Hiến pháp, đạo luật gốc, đạo luật cao nhất của Nhà nước ta, đây là cơ sở pháp lý cơ bản của việc bảo đảm quyền con người.

1. Hiến pháp là bản khế ước xã hội bảo vệ quyền con người

Hiến pháp là bản khế ước của toàn xã hội ghi nhận tất cả các quyền tự do dân chủ của nhân dân, các quyền cơ bản của con người, ghi nhận quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đó là văn bản quy định về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước với những biện pháp tối ưu, bảo đảm sự hạn chế quyền lực nhà nước trước các nguy cơ lạm quyền. Hiến pháp chính là chuẩn mực, khuôn thước cho mọi hành vi của Nhà nước và công dân. Vì vậy, Hiến pháp có quyền tối thượng trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Quyền con người là nội dung quan trọng trong Hiến pháp. Nếu như không có vấn đề bảo vệ nhân quyền thì có lẽ nhân loại cũng không cần có một bản Hiến pháp cho mỗi quốc gia[1]. GS. Hoàng Văn Hảo cũng cho rằng: “Chính vai trò giá trị của quyền con người, quyền công dân mà trong tư duy chính trị của nhân loại, vấn đề quyền con người, quyền công dân trở thành một nội dung chính của lịch sử lập hiến. Luật về các quyền của Anh sau cách mạng năm 1689, Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, Hiến pháp của tất cả các nước, dù là ở chế độ xã hội nào (tư bản, xã hội chủ nghĩa, các nước đang phát triển) đều có chế định quyền con người, quyền công dân. Đó là nội dung cơ bản nhất của mỗi Hiến pháp, nội dung đó chi phối kết cấu của bản Hiến pháp, chế định quyền công dân thường được đặt lên hàng đầu trong Hiến pháp của nhiều nước”[2].

Quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, đúng như Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ năm 1776 đã khẳng định: Nhân quyền là những quyền tự nhiên, tất yếu và bất khả xâm phạm như quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Tuy nhiên, người ta cho rằng, nhân quyền chỉ được đặt ra khi con người bị tước đoạt mất quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc nên phải đấu tranh giành lấy quyền đó, như cuộc đấu tranh của nô lệ, những người không được coi như con người chống lại chủ nô. Đấy là cuộc đấu tranh vì nhân quyền đầu tiên thời chiếm hữu nô lệ cổ đại. Nhưng phải đến cuộc Cách mạng tư sản thế kỷ 18, quyền con người mới được ghi nhận thành Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp. Điều đó phản ánh khát vọng của loài người sau nhiều thiên niên kỷ bị tước đoạt “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến.

Như vậy, vì nhân quyền nên mới có Hiến pháp - văn bản quy định thể thức thực hiện quyền lực của mỗi quốc gia. Đó là kết quả của quá trình đấu tranh chống chuyên chế và sự lạm quyền để có được sự xác lập, thừa nhận những giá trị làm rào cản chống lại sự lạm quyền từ phía quyền lực công, cũng như từ phía các cá nhân khác đối với con người, tạo nên sự an toàn pháp lý cho con người trong xã hội. Trước đó, chế độ phong kiến và chiếm hữu nô lệ không có nhân quyền và Hiến pháp với nghĩa đầy đủ như hiện nay. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ cần có nhân quyền hay Hiến pháp mà nhân loại cần phải có cả hai thứ[3]. Bởi lẽ, nhân quyền không phải chỉ liệt kê các quyền con người là đủ, mà kèm theo đó là vấn đề bảo đảm cho các quyền ấy được thực hiện. Việc bảo đảm này không thể nào khác hơn là ngăn ngừa sự vi phạm của bất kể chủ thể nào kể cả từ phía Nhà nước và phi nhà nước.

Với ý nghĩa là đạo luật cơ bản của các quốc gia, Hiến pháp là công cụ pháp lý cơ bản để bảo vệ quyền con người. Ngoài nội dung về tổ chức, giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước, Hiến pháp còn khẳng định rõ các quyền và tự do của cá nhân dưới hình thức các quyền con người, quyền công dân. Việc quy định các quyền con người, quyền công dân cũng là cách thức nhằm giới hạn, kiểm soát quyền lực nhà nước, bởi tập hợp các quyền con người, quyền công dân chính là những yêu cầu và nghĩa vụ với các nhà nước về những điều phải đáp ứng và những điều không được làm với người dân của họ[4].

Ngay cả việc quy định lề lối hoạt động của chính quyền, buộc những người cầm quyền phải tuân theo các quy định của Hiến pháp cũng là cách thức nhằm mục đích bảo vệ nhân quyền trước thế lực nắm trong tay quyền lực, nên dễ lạm quyền vi phạm nhân quyền trong một xã hội đang cần thiết phải có sự tồn tại của nhà nước. Tuy nhiên, nếu chỉ được bảo đảm bằng các hình thức tổ chức nhà nước thì thiết nghĩ vấn đề nhân quyền vẫn không được bảo đảm một cách đầy đủ. Vì sự vi phạm nhân quyền không phải từ một phía Nhà nước mà còn từ nhiều chủ thể khác (phi nhà nước) như: Các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế, các cá nhân khác... Như vậy, quyền con người phải được ghi nhận và bảo đảm trước hết bằng điều kiện pháp lý, mà cao nhất là Hiến pháp, là điều kiện tiên quyết cho việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện đầy đủ trong thực tiễn.

Hiến pháp là một bản khế ước xã hội, không chỉ bảo đảm cho quyền của người dân không bị vi phạm mà còn tiến tới tạo điều kiện để người dân có thể tham gia vào công việc của nhà nước. Đó là những bảo đảm pháp lý, hình thành nên nền tảng các cơ hội cho mọi cá nhân có thể được tham gia một cách tự do và bình đẳng vào quá trình hình thành các chính sách của nhà nước. Quyền con người là những quyền của tự nhiên mà tất cả mọi người đều có, nhưng vì đồng thời liên quan đến tất cả quyền lực của Chính phủ, nên chúng được thể hiện trong những nguyên tắc cơ bản của trật tự xã hội và ý đồ chính trị của bất kỳ nhà nước nào theo chế độ thượng tôn pháp quyền. Chính vì mục tiêu này mà quyền lực nhà nước không thể vô hạn, mà phải nằm trong một khuôn khổ nhất định, tức quyền lực nhà nước bị hạn chế[5].

Một nhà nước tốt phải có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của người thiểu số. Vì vậy, một bản Hiến pháp tốt không thể không tính đến quyền lợi của thiểu số. Đó là tính nhân văn của Hiến pháp. Những quy định thể hiện nguyên tắc này trong Hiến pháp sẽ góp phần tạo nên hàng rào không thể vượt qua của bất kể chính sách nào chỉ dựa trên ý chí của đa số, mà không tính đến quyền lợi của thiểu số.

Cũng tương tự, một Nhà nước tốt là một Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ những người yếu trước kẻ mạnh, bảo vệ người nghèo trước kẻ giàu và có nhiều thế lực, Nhà nước phải có những quyết định cẩn trọng và khôn ngoan, tránh sự lợi dụng của bất kể thế lực nào, nhất là đối với những chủ thể quyền lực. Do vậy, một bản Hiến pháp nhân văn là phải bảo đảm cho những quy định này được thực hiện.

Chúng ta biết rằng nhân quyền là vấn đề lớn và luôn có sự thay đổi, phát triển trong tương lai. Vấn đề nhân quyền luôn đi kèm và không thể thiếu được vấn đề bảo vệ nó. Trong mối quan hệ với Luật nhân quyền quốc tế, ngày càng có nhiều Hiến pháp áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế, đặc biệt là các điều ước quốc tế về nhân quyền. Việc công nhận áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế cho phép các chủ thể pháp luật trong nước có thể sử dụng ngay các quy tắc của điều ước quốc tế để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của mình mà không cần phải đợi đến khi có nội luật hóa các quy tắc đó.

Như vậy, đối với Hiến pháp quốc gia, việc ghi nhận rõ ràng và đầy đủ tất cả các quyền con người có thể có, phù hợp với quy định của các điều ước quốc tế về nhân quyền là rất cần thiết, một mặt, để con người cần phải biết mà thụ hưởng và ngăn chặn ngay bất kể chủ thể nào vi phạm những quyền đó, mặt khác, phải ngăn ngừa ngay từ trước sự có thể vi phạm đến quyền con người của một chủ thể quan trọng nhất đó là Nhà nước. Một khi các quyền bị vi phạm cần phải có các biện pháp trừng trị chủ thể vi phạm và các biện pháp khôi phục lại những quyền đó, đồng thời nhấn mạnh nghĩa vụ, trách nhiệm phải bảo vệ nhân quyền từ phía Nhà nước. Điều này chỉ có thể được bảo đảm thực hiện bằng một văn bản có hiệu lực pháp lý tối cao trong hệ thống pháp luật của quốc gia, đó chính là Hiến pháp.

2. Giám sát Hiến pháp, bảo vệ quyền con người

Việc tuyên bố các quyền con người trong Hiến pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người. Khi các quyền đó bị vi phạm, Nhà nước cần có cơ chế để xem xét, xử lý các hành vi vi phạm và phục hồi các quyền con người cho cá nhân, công dân bị vi phạm. Giám sát Hiến pháp là một trong những cơ chế bảo vệ có hiệu quả các quyền hiến định đã được ghi nhận trong Hiến pháp.

Giám sát Hiến pháp là hình thức kiểm tra, kiểm soát quyền lực nhà nước xuất phát từ mục đích bảo vệ các nền tảng hiến định của một quốc gia, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trên cơ sở tinh thần của Hiến pháp, của các đạo luật, xác định được ý định, nội dung và mục đích điều chỉnh của luật để từ đó đưa ra các phán quyết cần thiết. Đây là một hoạt động kiểm tra quan trọng, phức tạp và có sự xung đột với quyền và lợi ích, thậm chí là lợi ích chính trị, nên phải được trao cho một thiết chế của Nhà nước có tính độc lập và đầy đủ thẩm quyền cần thiết như Tòa án Hiến pháp. Xét theo thẩm quyền phán quyết hay hiệu lực của phán quyết, giám sát Hiến pháp có thể chia thành hai mức độ: Giám sát có tính tư vấn và giám sát có tính quyết định. Trong mức độ thứ nhất, sự kiểm tra tính hợp hiến chỉ mang tính chất tư vấn cho các cơ quan hữu quan, làm cơ sở cho việc thực hiện thẩm quyền xử lý của các cơ quan đó, phán quyết không mang tính bắt buộc. Ở mức độ thứ hai, khi được tuyên là vi hiến, văn bản sẽ mất hiệu lực và phán quyết của cơ quan tài phán hiến pháp là chung thẩm. Đây là trường hợp phổ biến nhất[6].

Hiệu quả của việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng cơ chế giám sát Hiến pháp cũng phụ thuộc vào các mô hình tài phán hiến pháp ở từng nước. Ví dụ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng cách giao cho các Tòa án có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của đạo luật được áp dụng cho vụ việc cụ thể mà các bên đang khiếu kiện tại Tòa án. Nghĩa là, các bên trong một vụ việc cụ thể đang được giải quyết tại Tòa án, có quyền đề nghị Tòa án xem xét sự bất hợp hiến của đạo luật đang có hiệu lực vi phạm đến các quyền cơ bản được Hiến pháp bảo vệ. Tòa án nếu thấy khiếu kiện hiến pháp có đủ cơ sở, sẽ dừng vụ việc đang giải quyết để giải quyết vụ việc Hiến pháp. Phán quyết của Tòa án chỉ có giá trị áp dụng đối với các bên trong vụ việc đó, chứ không có thẩm quyền tuyên bố đạo luật đó vô hiệu. Tuy nhiên, đây được coi là hình thức bảo vệ quyền con người, quyền công dân trước những hành vi vi hiến có hiệu quả nhất vì bản thân cá nhân, công dân là những người trực tiếp yêu cầu được bảo vệ các quyền hiến định bị vi phạm trong một vụ việc cụ thể, qua đó, Tòa án sẽ phải xem xét khôi phục lại các quyền bị vi phạm đó. Bên cạnh đó, việc thiết lập một Tòa án Hiến pháp để kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật trước hoặc sau khi đã có hiệu lực theo yêu cầu của các chủ thể quyền lực nhà nước như nguyên thủ quốc gia, thủ tướng, bộ trưởng, nghị sỹ... cũng là một cơ chế giám sát bảo vệ hiến pháp, làm mất hiệu lực đối với các đạo luật vi hiến. Tuy nhiên, mô hình này phụ thuộc vào ý chí của chủ thể quyền lực nhà nước chứ không xuất phát từ yêu cầu bảo vệ của người dân, vì thế, hiệu quả bảo vệ trực tiếp đối với quyền con người sẽ bị hạn chế vì những lợi ích chính trị của nhà cầm quyền.

Trong một số nhà nước như các nhà nước xã hội chủ nghĩa, với quan điểm truyền thống cho rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao, là cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân nên là cơ quan cao nhất có quyền lập hiến và lập pháp, không có cơ quan nào có đủ tư cách để kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật của Quốc hội. Do đó, những Nhà nước này thường không thiết lập một cơ quan tài phán hiến pháp độc lập để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp. Thay vì thiết lập Tòa án Hiến pháp, các Nhà nước này sẽ giao quyền kiểm hiến cho Quốc hội. Quốc hội sẽ thành lập Ủy ban hoặc Hội đồng Hiến pháp giúp Quốc hội thực hiện chức năng kiểm hiến. Quốc hội là cơ quan lập pháp, lại thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các đạo luật đó thì không khác gì “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Nếu có một đạo luật nào đó vi hiến, Quốc hội cũng sẽ làm cho nó hợp hiến bằng cách giải thích pháp luật thay vì sửa đổi, hay bãi bỏ chúng. Điều đó là một bất cập. Một thực tế hiển nhiên cho thấy, không phải đạo luật nào do Quốc hội làm ra đều thể hiện ý chí hay lợi ích của các tầng lớp dân cư. Và không phải đại biểu Quốc hội nào cũng đã làm tròn trách nhiệm đại diện của mình trước cử tri, đại diện cho lợi ích của họ. Việc thành lập một cơ quan tài phán hiến pháp độc lập hoặc giao quyền kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp cho các Tòa án vẫn là một giải pháp tối ưu cho việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

3. Bảo đảm quyền con người - Tư tưởng chủ đạo của Hiến pháp năm 2013

Quyền con người, quyền công dân là những nội dung trọng tâm của Hiến pháp năm 2013. Kế thừa những quy định về quyền con người, quyền công dân được quy định trong các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 bổ sung một số quyền mới, đồng thời quy định rõ hơn nội hàm của các quyền, phản ánh xu hướng hội nhập và phát triển của Việt Nam. Theo đó, có 05 điều chứa đựng 05 quyền hoàn toàn mới so với Hiến pháp năm 1992, đồng thời 29 điều khác đều được bổ sung, sửa đổi. Các quyền mới trong Hiếp pháp năm 2013 là quyền sống (Điều 19), quyền tiếp cận thông tin (Điều 25), quyền an sinh - xã hội (Điều 34), quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa (Điều 41) và quyền về môi trường (quyền được sống trong môi trường trong lành) (Điều 43).

Liên quan đến quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc là những quyền vốn có từ khi con người sinh ra, Hiến pháp năm 2013 đặc biệt nhấn mạnh những nguyên tắc nền tảng bảo đảm quyền con người như: Quyền về an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm và quyền xét xử công bằng của những người tham gia tố tụng, bao gồm các bảo đảm tố tụng cho quyền được đối xử bình đẳng trước pháp luật và trước Tòa án, quyền được suy đoán vô tội, quyền không phải đưa ra các chứng cứ buộc tội mình, quyền im lặng, quyền được xét xử kịp thời, công bằng, công khai, quyền được bào chữa... Có thể khẳng định, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt của Hiến pháp năm 2013. Đó không chỉ là những quy định về các quyền hay nguyên tắc bảo đảm quyền con người mà bảo vệ quyền con người còn là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn xã hội, trước hết là của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cá nhân... Từ Đảng Cộng sản đến các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh đều phải “phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân”, đồng thời phải “chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” (Điều 4, Điều 9, Điều 10 Hiến pháp năm 2013). Hiến pháp năm 2013 quy định “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến” (Điều 69) thay vì Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến như trước đây, điều đó cho thấy nhân dân Việt Nam mới là chủ thể “xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp”. Hiến pháp chính là ý chí của toàn dân, là bản khế ước bảo đảm các quyền của người dân, từ những quyền tự nhiên, cơ bản, vốn có của người dân như quyền sống, quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc... cho đến những quyền được tham gia một cách bình đẳng và công bằng vào việc quản lý và điều hành đất nước, cơ hội được phát triển và được bảo đảm sống trong môi trường an toàn. Đối với hành pháp và tư pháp, Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ có nghĩa vụ “bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân” (khoản 6 Điều 96) và lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp phân định rõ: “Tòa án thực hiện quyền tư pháp”, đồng thời sứ mệnh hàng đầu đặt ra cho Tòa án là nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, sau đó mới đến bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (khoản 3 Điều 102). Tương tự như vậy, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân... (khoản 3 Điều 107). Đối với các cá nhân, “cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân”, đồng thời phải chống “mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” (Điều 8).

Hiến pháp đã khẳng định việc tôn trọng các quyền và tự do của mỗi người phải đặt trong mối quan hệ với việc tôn trọng quyền và tự do của người khác. Montesquieu đã khẳng định rằng, việc thực hiện tự do của người này không thể là sự ảnh hưởng, sự xâm hại đến tự do của người khác, mà tự do phải trong khuôn khổ của pháp luật, trong sự cho phép của xã hội và của trật tự khế ước xã hội. Hiến pháp năm 2013 đặc biệt nhấn mạnh đến nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người với tư cách là thành viên của xã hội và tư cách là công dân của một Nhà nước phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Điều này vô cùng quan trọng và ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay khi mà xu hướng tuyệt đối hóa nhấn mạnh đến quyền mà quên đi nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của cá nhân đối với người khác, với cộng đồng và xã hội. Đây cũng là những giá trị nền tảng của văn hóa truyền thống cũng như các nguyên tắc và hướng dẫn của cộng đồng quốc tế, nhất là của Liên Hợp Quốc về việc khuyến khích trách nhiệm, bổn phận của mỗi người đối với tôn trọng quyền của người khác. Mặc dù trong lịch sử lập hiến Việt Nam chưa bao giờ thiết lập cơ chế tài phán Hiến pháp để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp và các quyền hiến định của con người, tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 cũng đã nhấn mạnh đến thiết chế để thực hiện quyền con người hiệu quả, đó là việc quy định để ngỏ cho việc hình thành thiết chế độc lập giúp bảo vệ hiệu quả các nguyên tắc nền tảng của Hiến pháp cũng như của quyền con người. Khoản 2 Điều 119 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”.

Với tư cách là đạo luật có hiệu lực pháp lý tối cao của mỗi quốc gia, Hiến pháp ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh đời sống chính trị của mỗi Nhà nước. Theo từng thời kỳ, vai trò của Hiến pháp luôn có sự thay đổi. Nhưng cho dù có sự thay đổi như thế nào thì Hiến pháp vẫn luôn giữ chức năng cổ điển vốn có của nó là giới hạn quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp chính là bản khế ước xã hội giữa Nhà nước và người dân trong việc bảo đảm nhân quyền.

ThS. Chu Thị Ngọc
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. GS. TS. Nguyễn Đăng Dung, Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr. 113.

[2]. GS. Hoàng Văn Hảo, Hiến pháp Việt Nam và vấn đề quyền con người, quyền công dân. Bài đăng trong Hiến pháp, pháp luật và quyền con người - Kinh nghiệm Việt Nam và Thụy Điển, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Viện Raoul Wallenberg về Quyền con người và Luật nhân đạo - Đại học Lund - Thụy Điển, H. 2001, tr. 148.

[3]. GS. TS. Nguyễn Đăng Dung, Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr. 113.

[4]. PGS. TS. Vũ Công Giao, Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp trên thế giới và Hiến pháp Việt Nam: Sơ bộ phân tích so sánh. Bài đăng trong Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, tập 2, Nxb. Hồng Đức, H. 2012, tr. 33.

[5]. GS. TS. Nguyễn Đăng Dung, Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr. 120.

[6]. GS.TSKH. Đào Trí Úc, Giáo trình Nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, tr. 121 - 122.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: