Thứ tư 18/03/2026 11:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các biện pháp cưỡng chế trong dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự

Biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là cách thức thực hiện tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo những trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi

Biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là cách thức thực hiện tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo những trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi. Do đó, các biện pháp cưỡng chế đóng vai trò hết sức quan trọng để ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn bị can, bị cáo gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc để bảo đảm thi hành án, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Việc lạm dụng, áp dụng sai các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm các quyền tự do cá nhân của con người ; xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định cụ thể, tương đối hoàn chỉnh từ quyền của người bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc căn cứ áp dụng (hoặc thay đổi), trình tự thủ tục, thẩm quyền nhằm ngăn chặn những hành vi trái pháp luật từ phía cơ quan có thẩm quyền (nếu có), thể hiện ở một số điểm sau:

- Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế phải xuất phát từ những yêu cầu thực tế của quá trình giải quyết vụ án hình sự[1] và tuân theo những nguyên tắc nhất định trong tố tụng hình sự để bảo vệ quyền tự do công dân như: Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân[2], bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân[3], bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân[4], không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật[5]

- Biện pháp cưỡng chế mang tính lựa chọn, chỉ áp dụng trong những trường hợp cần thiết, dựa trên những căn cứ luật định. Tính lựa chọn ở đây được hiểu là khi tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự cụ thể, những người có thẩm quyền phải xem xét cẩn thận về việc có nên áp dụng hay không áp dụng biện pháp cưỡng chế[6]. Ngoài ra, đối với các biện pháp cưỡng chế đã được áp dụng, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của từng biện pháp cưỡng chế đó để kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi khi xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa[7].

- Căn cứ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong từng biện pháp và có các trường hợp áp dụng cụ thể, để khắc phục sự tùy tiện khi các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật trong thực tiễn, góp phần bảo đảm quyền con người (quyền tự do công dân) như: Căn cứ áp dụng chung đối với nhóm các biện pháp ngăn chặn là “để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án”[8]; Đối với nhóm biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo cho việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thì biện pháp áp giải bị can được tiến hành trong trường hợp bị can buộc phải có mặt theo giấy triệu tập nhưng “vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc có biểu hiện trốn tránh thì điều tra viên có thể ra quyết định áp giải”[9] hoặc người làm chứng có thể bị áp giải nếu “người làm chứng đã được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát triệu tập nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc họ vắng mặt gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố”[10].

- Các biện pháp cưỡng chế chỉ được áp dụng đối với một số đối tượng nhất định. Đây chính là cơ chế để bảo đảm quyền con người, quyền tự do của cá nhân. Theo quy định, biện pháp cưỡng chế được áp dụng cho các đối tượng là: Bị can, bị cáo, người bị bắt trong các trường hợp khẩn cấp, quả tang, truy nã, người làm chứng nếu không chấp hành yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng mà không có lý do chính đáng.

- Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế được quy định chặt chẽ từ khi ra quyết định cho đến khi tiến hành. Tất cả các biện pháp cưỡng chế khi thực hiện đều phải có Lệnh[11], Quyết định[12], Quyết định phê chuẩn[13] của cơ quan có thẩm quyền, trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang, bắt đối tượng truy nã. Tuy nhiên, sau khi bắt, cơ quan có thẩm quyền phải báo cáo với Viện kiểm sát cùng cấp để ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn việc bắt đó. Mọi hành vi tố tụng trong quá trình tiến hành thực hiện biện pháp cưỡng chế phải được lập biên bản và có người chứng kiến cùng ký vào biên bản[14]. Ngoài ra, pháp luật tố tụng hình sự còn quy định cụ thể các hình thức khi tiến hành thực hiện các biện pháp cưỡng chế như: Người thực hiện Lệnh phải đọc Lệnh của người có thẩm quyền, giải thích về quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế[15], thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương biết việc cơ quan chức năng đã áp dụng biện pháp cưỡng chế nào[16], cho đối tượng nào.

- Thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được quy định cụ thể cho từng chức danh tư pháp để bảo đảm cơ chế thực hiện, tránh tình trạng lạm quyền gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp; thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử. Riêng đối với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, trừ một số trường hợp đặc biệt bắt người phạm tội quả tang, bắt người truy nã. Nhưng sau khi bắt người phải gửi toàn bộ tài liệu có liên quan đến việc bắt để Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn, nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt. Ngoài ra, còn có một số chủ thể đặc biệt tuy không có chức danh tư pháp nhưng vẫn có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong điều kiện, hoàn cảnh đặc biệt gồm: Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế là bắt khẩn cấp[17].

- Các quy định của biện pháp cưỡng chế không mang tính trừng phạt mà còn thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc khi áp dụng. Được thể hiện rõ trong quy định không áp dụng biện pháp tạm giam “Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng”[18] mà sẽ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hoặc căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo nếu xét thấy không cần thiết phải tạm giam mà họ vẫn chấp hành các quy định của pháp luật, đảm bảo sự có mặt theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng thì các chủ thể tiến hành tố tụng có thể thay đổi biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn như: Bão lĩnh[19], đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm[20].

Hiện nay, nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền tự do công dân và xác lập căn cứ để kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế (hạn chế quyền con người, quyền tự do công dân) trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian tới. Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự được gửi lấy ý kiến (tháng 9/2015) đã đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế; nâng cao, bảo đảm quyền con người được thể hiện ở một số điểm sau:

- Bố cục của biện pháp cưỡng chế được xây dựng hoàn chỉnh nhằm đảm bảo tính khoa học, khi thu hút toàn bộ các biện pháp cưỡng chế tố tụng vào một chương (Chương VI. Những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự). Theo đó, Chương các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự gồm có 2 mục: Mục 1 quy định Những biện pháp ngăn chặn; Mục 2 Những biện pháp cưỡng chế khác nhằm bảo đảm tính chặt chẽ và thống nhất. Như vậy, bố cục các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự đã thật sự rõ ràng, dễ áp dụng.

- Bỏ các căn cứ chung áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 79 của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, mà chỉ còn mục đích áp dụng các biện pháp ngăn chặn là để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như cần để đảm bảo thi hành án. Theo đó, Điều 82 (các biện pháp ngăn chặn) của Dự thảo chỉ quy định mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn và liệt kê từng biện pháp ngăn chặn. Đồng thời đã chuyển hóa các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn vào trong từng trong từng điều luật cụ thể, điển hình như: Quy định tương đối chặt chẽ căn cứ tạm giam, chỉ áp dụng tạm giam khi có căn cứ xác định bị can, bị cáo có thể bỏ trốn; cản trở điều tra, truy tố, xét xử; tiếp tục phạm tội hoặc không có nơi cư trú rõ ràng, mà không phụ thuộc vào sự phân loại tội phạm như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nhằm tránh lạm dụng. Đồng thời, quy định những trường hợp nào không áp dụng biện pháp này nhằm hạn chế tạm giam trong thực tiễn. Ngoài ra, còn đảm bảo tính chặt chẽ khi quy định những người có thẩm quyền bắt khẩn cấp, tạm giữ (các Điều 84, 91); Quy định cụ thể những việc cần làm ngay sau khi bắt người hoặc nhận người bị bắt (Điều 88); Quy định căn cứ tạm giam và rút ngắn thời hạn tạm giam (các Điều 93, 163); Sửa đổi nhằm tăng tính hiệu quả các biện pháp bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền (các Điều 95, 96, 97). Nhìn chung trong từng biện pháp cưỡng chế, Dự thảo lần này đã đảm bảo lần lượt tương đối đầy đủ năm yếu tố là: căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành cho từng biện pháp ngăn chặn.

- Hoàn thiện các quy định về biện pháp bắt người, Dự thảo đã tách biện pháp bắt người phạm tội quả tang hoặc truy nã của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thành từng biện pháp riêng lẻ, đồng thời xây dựng một điều mới quy định bắt người khi được yêu cầu dẫn độ để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế chung tay phòng chống tội phạm. Như vậy với với dự thảo hiện hành, sẽ có các trường hợp bắt bao gồm: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

- Tăng tính hiệu quả các biện pháp bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền (các Điều 95, 96, 97). Đối với biện pháp bảo lĩnh: Quy định chế tài phạt tiền đến 50 triệu đồng áp dụng đối với người bảo lĩnh nếu để cho bị can, bị cáo bỏ trốn. Đối với biện pháp đặt tiền, tài sản để bảo đảm: Quy định đặt tiền để kịp thời áp dụng biện pháp này trong thực tiễn, tháo gỡ vướng mắc hiện nay trong việc định giá, giám định tài sản, dẫn đến chậm trễ trong áp dụng. Quy định cụ thể nghĩa vụ của người nhận bảo lĩnh và nghĩa vụ của bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền, cấm đi khỏi nơi cư trú. Bổ sung thời hạn áp dụng đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền nhằm bảo đảm mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân phải được ràng buộc chặt chẽ về thời hạn.

- Bổ sung một số biện pháp cưỡng chế mới như: Đối với nhóm biện pháp ngăn chặn đã bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 98). Đối với nhóm các biện pháp cưỡng chế khác, bổ sung biện pháp: Bắt buộc phải có mặt theo giấy triệu tập (Điều 101); Phong tỏa tài khoản (Điều 105); Hủy bỏ biện pháp cưỡng chế khác (Điều 105).

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) vẫn còn một số điểm bất cập hoặc chưa khắc phục được những khó khăn, vướng mắc cũng như bảo đảm quyền tự do công dân, nhóm tác giả xin nêu một số điểm cần chú ý sau đây:

Thứ nhất, tại điểm d khoản 1 Điều 83 và Điều 87 quy định biện pháp cưỡng chế “bắt bị can, bị cáo để tạm giam”. Quy định như vậy sẽ dẫn đến cách hiểu “Bắt người là một biện pháp để thực hiện lệnh tạm giam”. Theo nhóm tác giả, cách hiểu này là không đúng bởi lẽ nếu xem “bắt bị can, bị cáo để tạm giam” là một biện pháp để thực hiện lệnh tạm giam thì việc cưỡng chế bị can, bị cáo thực hiện lệnh tạm giam dựa trên căn cứ pháp lý nào. Bên cạnh đó, đối chiếu với quy định bắt người trong các trường hợp “bắt người trong trường hợp khẩn cấp[21], bắt người phạm tội quả tang[22]”… thì Điều 87 chưa quy định cụ thể các căn cứ áp dụng đối với biện pháp này. Theo nhóm tác giả đây cũng là một trong các biện pháp ngăn chặn do đó cũng phải đảm bảo đầy đủ năm yếu tố: Căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành. Nếu chúng ta bỏ ngỏ vấn đề này hoặc quy định không cụ thể rõ ràng thì trong thực tế quyền con người, quyền tự do công dân sẽ rất dễ bị xâm phạm khi áp dụng.

Thứ hai, thời hạn tạm giữ tại Điều 92 của Dự thảo vẫn chưa rõ ràng trong trường hợp phải gia hạn tạm giữ. Khoản 2 quy định “Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá ba ngày. Trường hợp đặc biệt người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày”. Với quy định này thì như thế nào là “trường hợp cần thiết” và “trường hợp đặc biệt” để gia hạn tạm giữ thì Dự thảo đã không đề cập đến.

Thứ ba, biện pháp “đặt tiền để bảo đảm” được quy định tại Điều 96 của Dự thảo. Đây là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam, được áp dụng khi căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tài sản của của bị can, bị cáo, của người đặt tiền (là người thân thích của bị can bị cáo), nếu xét thấy không cần phải tạm giam mà họ vẫn có thể đảm bảo sự có mặt theo giấy triệu tập thì được có thể được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam. Tuy nhiên, trong thực tế các cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, bởi không thể xác định đặt số lượng bao nhiêu tiền để đặt. Ngoài ra vấn đề này sẽ làm bất bình đẳng, gây phân hóa giàu nghèo giữa các bị can, bị cáo, vì muốn thay đổi biện pháp “tạm giam” thành biện pháp “đặt tiền để bảo đảm” đòi hỏi bị can, bị cáo phải có tiền, như vậy đối với gia đình bị can, bị cáo nghèo thì không thể thực hiện được.

Thứ tư, đối với các biện pháp cưỡng chế khác: Khoản 1 Điều 102 Dự thảo quy định “áp giải được áp dụng đối với bị can, bị cáo” chỉ mới nêu được đối tượng bị áp dụng biện pháp này là “bị can, bị cáo” mà chưa nêu rõ trường hợp nào được áp dụng. Thiết nghĩ Dự thảo cần quy định thêm các trường hợp cụ thể được áp dụng biện pháp “dẫn giải” để các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng thống nhất, tránh tình trạng suy diễn. Bên cạnh đó, trong Dự thảo lần này các nhà làm luật đã thêm một điều luật mới đó là cơ quan tiến hành tố tụng được phong tỏa tài khoản[23] đối với bị can, bị cáo hoặc tài khoản của người khác nếu có căn cứ cho rằng tiền trong tài khoản này có được do hành vi phạm tội của bị can. Tuy nhiên lại không quy định khi các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành phong tỏa tài khoản đối với tài khoản của người khác phải thông báo cho người chủ tài khoản đó biết.

Thứ năm, vấn đề áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người chưa thành niên vẫn chưa được Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự giải quyết triệt để khi chỉ mới quy định “Biện pháp cưỡng chế đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong trường hợp cần thiết”, còn như thế nào là “cần thiết” thì chưa nêu được các trường hợp cụ thể nào. Mặc khác, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 và dự thảo đang được gửi lấy ý kiến chưa giải quyết được khó khăn trong thực tiễn khi bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, mà bỏ trốn. Trong trường hợp này các cơ quan tiến hành tố tụng không thể áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt, tạm giữ, tạm giam để bảo đảm việc thi hành pháp luật[24]. Do pháp luật không cho phép áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam trong trường hợp này, nên cơ quan chức năng không thể bảo đảm việc thi hành pháp luật.

Cùng với việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự cần có những quy định cụ thể, rõ ràng để góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được hiến định trong Hiến pháp. Để khắc phục những hạn chế mà nhóm tác giả đã đưa ra trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và các vấn đề mà Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự chưa đề cập đến; đồng thời bảo đảm cơ chế triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 bảo đảm quyền tự do công dân, nhóm tác giả có một số đề xuất kiến nghị trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự sau đây:

Một là, sửa đổi tên biện pháp ngăn chặn bắt bị can bị cáo để tạm giam được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 83 thành “Bắt tạm giam bị can, bị cáo”

Hai là, sửa đổi tên Điều 87 và bổ sung thêm nội dung các căn cứ áp dụng biện pháp bắt tạm giam bị can, bị cáo.

Điều 87. Bắt tạm giam bị can, bị cáo

1. Bắt tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 93 Bộ luật này.

2. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

…..

Ba là, bổ sung căn cứ gia hạn tạm giữ tại khoản 2 Điều 92.

Điều 92. Thời hạn tạm giữ

2. Trường hợp cần thiết cần có thời gian để xác minh căn cước, lai lịch, xác minh làm rõ dấu hiệu phạm tội của người bị bắt thì người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá ba ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày khi người bị tạm giữ có dấu hiệu phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cần có thêm thời gian xác minh hoặc các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã mà thời gian gia hạn tạm giữ lần 1 chưa đủ để cơ quan ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

Bốn là, bỏ quy định tại Điều 96 (đặt tiền để bảo đảm), vì biện pháp này thiếu tính khả thi trong thực tế khi bị áp dụng.

Năm là, bổ sung căn cứ áp dụng biện pháp áp giải tại khoản 1 Điều 102 và quy định phải thông báo cho chủ tài khoản biết việc phong tỏa tài khoản của cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp phong tỏa tài khoản được áp dụng đối với tài khoản của người khác khi có căn cứ cho rằng tiền trong tài khoản này có được do hành vi phạm tội của bị can tại khoản 2 Điều 104.

Điều 102. Áp giải, dẫn giải

1. Áp giải có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo để thi hành Quyết định thi hành án phạt tù; bị can bị cáo bị kết án phạt tù đang tại ngoại, giam giữ hoặc bị can, bị cáo đang tại ngoại mà không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.

Dẫn giải có thể được áp dụng đối với bị hại, người làm chứng, bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong trường hợp họ không có mặt theo giấy mời, giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không có lý do được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Bộ luật này.

…..

Điều 104. Phong tỏa tài khoản.

2. Những người theo quy định tại khoản 1 Điều 87 của bộ luật này có quyền ra lệnh phong tỏa tài khoản. Lệnh phong tỏa tài khoản của người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành và thông báo cho người có tài khoản bị phong tỏa khi tài khoản đó không phải của bị can, bị cáo mà cơ quan có thẩm quyền có căn cứ cho rằng tiền trong tài khoản này do hành vi phạm tội của bị can, bị cáo mà có.

Sáu là, bổ sung các trường hợp được áp dụng biện pháp cưỡng chế tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Ðiều 413. Áp dụng biện pháp cưỡng chế

1. Chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong trường hợp cần thiết khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có căn cứ xác định bị can, bị cáo có biểu hiện bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Việc bắt, tạm giữ, tạm giam với bị can, bị cáo là người chưa thành niên chỉ được áp dụng như một biện pháp cuối cùng, trong thời hạn ngắn nhất và có căn cứ cho rằng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả.

2…

3. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam khi phạm tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng và có căn cứ xác định người này thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 93 của Bộ luật này hoặc phạm tội ít nghiêm trọng mà theo quy định của bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 2 năm trở lên bỏ trốn khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

TS. Võ Thị Kim Oanh

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Trịnh Duy Thuyên

Phòng pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp - Công an TP. Cần Thơ


[1] Xem Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[2] Xem Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[3] Xem Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[4] Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[5] Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[6] Khoản 1 Điều 92; khoản 2 Điều 94 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[7] Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[8] Xem Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[9] Khoản 3 Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[10] Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[11] Khoản 2 Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[12]Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Điều 9 Quyết định số 1502/2008/QĐ-BCA ban hành quy trình bắt, áp giải bị can, bị cáo, người có quyết định thi hành án phạt tù, dẫn giải người làm chứng quy định.

[13] Khoản 4 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[14]Khoản 2 Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[15] Khoản 2 Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[16] Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[17] Điểm b,c khoản 2, Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[18] Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[19] Điều 92 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[20] Khoản 3 Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[21] Xem khoản 1 Điều 84, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự.

[22] Xem khoản 1 Điều 85, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự.

[23] Xem Điều 104 Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự.

[24] Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 413 Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: