Thứ tư 20/05/2026 11:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các biện pháp cưỡng chế trong dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự

Biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là cách thức thực hiện tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo những trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi

Biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là cách thức thực hiện tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo những trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi. Do đó, các biện pháp cưỡng chế đóng vai trò hết sức quan trọng để ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn bị can, bị cáo gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc để bảo đảm thi hành án, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Việc lạm dụng, áp dụng sai các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm các quyền tự do cá nhân của con người ; xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định cụ thể, tương đối hoàn chỉnh từ quyền của người bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc căn cứ áp dụng (hoặc thay đổi), trình tự thủ tục, thẩm quyền nhằm ngăn chặn những hành vi trái pháp luật từ phía cơ quan có thẩm quyền (nếu có), thể hiện ở một số điểm sau:

- Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế phải xuất phát từ những yêu cầu thực tế của quá trình giải quyết vụ án hình sự[1] và tuân theo những nguyên tắc nhất định trong tố tụng hình sự để bảo vệ quyền tự do công dân như: Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân[2], bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân[3], bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân[4], không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật[5]

- Biện pháp cưỡng chế mang tính lựa chọn, chỉ áp dụng trong những trường hợp cần thiết, dựa trên những căn cứ luật định. Tính lựa chọn ở đây được hiểu là khi tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự cụ thể, những người có thẩm quyền phải xem xét cẩn thận về việc có nên áp dụng hay không áp dụng biện pháp cưỡng chế[6]. Ngoài ra, đối với các biện pháp cưỡng chế đã được áp dụng, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của từng biện pháp cưỡng chế đó để kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi khi xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa[7].

- Căn cứ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong từng biện pháp và có các trường hợp áp dụng cụ thể, để khắc phục sự tùy tiện khi các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật trong thực tiễn, góp phần bảo đảm quyền con người (quyền tự do công dân) như: Căn cứ áp dụng chung đối với nhóm các biện pháp ngăn chặn là “để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án”[8]; Đối với nhóm biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo cho việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thì biện pháp áp giải bị can được tiến hành trong trường hợp bị can buộc phải có mặt theo giấy triệu tập nhưng “vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc có biểu hiện trốn tránh thì điều tra viên có thể ra quyết định áp giải”[9] hoặc người làm chứng có thể bị áp giải nếu “người làm chứng đã được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát triệu tập nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc họ vắng mặt gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố”[10].

- Các biện pháp cưỡng chế chỉ được áp dụng đối với một số đối tượng nhất định. Đây chính là cơ chế để bảo đảm quyền con người, quyền tự do của cá nhân. Theo quy định, biện pháp cưỡng chế được áp dụng cho các đối tượng là: Bị can, bị cáo, người bị bắt trong các trường hợp khẩn cấp, quả tang, truy nã, người làm chứng nếu không chấp hành yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng mà không có lý do chính đáng.

- Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế được quy định chặt chẽ từ khi ra quyết định cho đến khi tiến hành. Tất cả các biện pháp cưỡng chế khi thực hiện đều phải có Lệnh[11], Quyết định[12], Quyết định phê chuẩn[13] của cơ quan có thẩm quyền, trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang, bắt đối tượng truy nã. Tuy nhiên, sau khi bắt, cơ quan có thẩm quyền phải báo cáo với Viện kiểm sát cùng cấp để ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn việc bắt đó. Mọi hành vi tố tụng trong quá trình tiến hành thực hiện biện pháp cưỡng chế phải được lập biên bản và có người chứng kiến cùng ký vào biên bản[14]. Ngoài ra, pháp luật tố tụng hình sự còn quy định cụ thể các hình thức khi tiến hành thực hiện các biện pháp cưỡng chế như: Người thực hiện Lệnh phải đọc Lệnh của người có thẩm quyền, giải thích về quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế[15], thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương biết việc cơ quan chức năng đã áp dụng biện pháp cưỡng chế nào[16], cho đối tượng nào.

- Thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được quy định cụ thể cho từng chức danh tư pháp để bảo đảm cơ chế thực hiện, tránh tình trạng lạm quyền gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp; thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử. Riêng đối với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, trừ một số trường hợp đặc biệt bắt người phạm tội quả tang, bắt người truy nã. Nhưng sau khi bắt người phải gửi toàn bộ tài liệu có liên quan đến việc bắt để Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn, nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt. Ngoài ra, còn có một số chủ thể đặc biệt tuy không có chức danh tư pháp nhưng vẫn có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong điều kiện, hoàn cảnh đặc biệt gồm: Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế là bắt khẩn cấp[17].

- Các quy định của biện pháp cưỡng chế không mang tính trừng phạt mà còn thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc khi áp dụng. Được thể hiện rõ trong quy định không áp dụng biện pháp tạm giam “Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng”[18] mà sẽ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hoặc căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo nếu xét thấy không cần thiết phải tạm giam mà họ vẫn chấp hành các quy định của pháp luật, đảm bảo sự có mặt theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng thì các chủ thể tiến hành tố tụng có thể thay đổi biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn như: Bão lĩnh[19], đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm[20].

Hiện nay, nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền tự do công dân và xác lập căn cứ để kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế (hạn chế quyền con người, quyền tự do công dân) trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian tới. Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự được gửi lấy ý kiến (tháng 9/2015) đã đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế; nâng cao, bảo đảm quyền con người được thể hiện ở một số điểm sau:

- Bố cục của biện pháp cưỡng chế được xây dựng hoàn chỉnh nhằm đảm bảo tính khoa học, khi thu hút toàn bộ các biện pháp cưỡng chế tố tụng vào một chương (Chương VI. Những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự). Theo đó, Chương các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự gồm có 2 mục: Mục 1 quy định Những biện pháp ngăn chặn; Mục 2 Những biện pháp cưỡng chế khác nhằm bảo đảm tính chặt chẽ và thống nhất. Như vậy, bố cục các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự đã thật sự rõ ràng, dễ áp dụng.

- Bỏ các căn cứ chung áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 79 của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, mà chỉ còn mục đích áp dụng các biện pháp ngăn chặn là để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như cần để đảm bảo thi hành án. Theo đó, Điều 82 (các biện pháp ngăn chặn) của Dự thảo chỉ quy định mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn và liệt kê từng biện pháp ngăn chặn. Đồng thời đã chuyển hóa các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn vào trong từng trong từng điều luật cụ thể, điển hình như: Quy định tương đối chặt chẽ căn cứ tạm giam, chỉ áp dụng tạm giam khi có căn cứ xác định bị can, bị cáo có thể bỏ trốn; cản trở điều tra, truy tố, xét xử; tiếp tục phạm tội hoặc không có nơi cư trú rõ ràng, mà không phụ thuộc vào sự phân loại tội phạm như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nhằm tránh lạm dụng. Đồng thời, quy định những trường hợp nào không áp dụng biện pháp này nhằm hạn chế tạm giam trong thực tiễn. Ngoài ra, còn đảm bảo tính chặt chẽ khi quy định những người có thẩm quyền bắt khẩn cấp, tạm giữ (các Điều 84, 91); Quy định cụ thể những việc cần làm ngay sau khi bắt người hoặc nhận người bị bắt (Điều 88); Quy định căn cứ tạm giam và rút ngắn thời hạn tạm giam (các Điều 93, 163); Sửa đổi nhằm tăng tính hiệu quả các biện pháp bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền (các Điều 95, 96, 97). Nhìn chung trong từng biện pháp cưỡng chế, Dự thảo lần này đã đảm bảo lần lượt tương đối đầy đủ năm yếu tố là: căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành cho từng biện pháp ngăn chặn.

- Hoàn thiện các quy định về biện pháp bắt người, Dự thảo đã tách biện pháp bắt người phạm tội quả tang hoặc truy nã của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thành từng biện pháp riêng lẻ, đồng thời xây dựng một điều mới quy định bắt người khi được yêu cầu dẫn độ để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế chung tay phòng chống tội phạm. Như vậy với với dự thảo hiện hành, sẽ có các trường hợp bắt bao gồm: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

- Tăng tính hiệu quả các biện pháp bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền (các Điều 95, 96, 97). Đối với biện pháp bảo lĩnh: Quy định chế tài phạt tiền đến 50 triệu đồng áp dụng đối với người bảo lĩnh nếu để cho bị can, bị cáo bỏ trốn. Đối với biện pháp đặt tiền, tài sản để bảo đảm: Quy định đặt tiền để kịp thời áp dụng biện pháp này trong thực tiễn, tháo gỡ vướng mắc hiện nay trong việc định giá, giám định tài sản, dẫn đến chậm trễ trong áp dụng. Quy định cụ thể nghĩa vụ của người nhận bảo lĩnh và nghĩa vụ của bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền, cấm đi khỏi nơi cư trú. Bổ sung thời hạn áp dụng đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền nhằm bảo đảm mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân phải được ràng buộc chặt chẽ về thời hạn.

- Bổ sung một số biện pháp cưỡng chế mới như: Đối với nhóm biện pháp ngăn chặn đã bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 98). Đối với nhóm các biện pháp cưỡng chế khác, bổ sung biện pháp: Bắt buộc phải có mặt theo giấy triệu tập (Điều 101); Phong tỏa tài khoản (Điều 105); Hủy bỏ biện pháp cưỡng chế khác (Điều 105).

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) vẫn còn một số điểm bất cập hoặc chưa khắc phục được những khó khăn, vướng mắc cũng như bảo đảm quyền tự do công dân, nhóm tác giả xin nêu một số điểm cần chú ý sau đây:

Thứ nhất, tại điểm d khoản 1 Điều 83 và Điều 87 quy định biện pháp cưỡng chế “bắt bị can, bị cáo để tạm giam”. Quy định như vậy sẽ dẫn đến cách hiểu “Bắt người là một biện pháp để thực hiện lệnh tạm giam”. Theo nhóm tác giả, cách hiểu này là không đúng bởi lẽ nếu xem “bắt bị can, bị cáo để tạm giam” là một biện pháp để thực hiện lệnh tạm giam thì việc cưỡng chế bị can, bị cáo thực hiện lệnh tạm giam dựa trên căn cứ pháp lý nào. Bên cạnh đó, đối chiếu với quy định bắt người trong các trường hợp “bắt người trong trường hợp khẩn cấp[21], bắt người phạm tội quả tang[22]”… thì Điều 87 chưa quy định cụ thể các căn cứ áp dụng đối với biện pháp này. Theo nhóm tác giả đây cũng là một trong các biện pháp ngăn chặn do đó cũng phải đảm bảo đầy đủ năm yếu tố: Căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành. Nếu chúng ta bỏ ngỏ vấn đề này hoặc quy định không cụ thể rõ ràng thì trong thực tế quyền con người, quyền tự do công dân sẽ rất dễ bị xâm phạm khi áp dụng.

Thứ hai, thời hạn tạm giữ tại Điều 92 của Dự thảo vẫn chưa rõ ràng trong trường hợp phải gia hạn tạm giữ. Khoản 2 quy định “Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá ba ngày. Trường hợp đặc biệt người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày”. Với quy định này thì như thế nào là “trường hợp cần thiết” và “trường hợp đặc biệt” để gia hạn tạm giữ thì Dự thảo đã không đề cập đến.

Thứ ba, biện pháp “đặt tiền để bảo đảm” được quy định tại Điều 96 của Dự thảo. Đây là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam, được áp dụng khi căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tài sản của của bị can, bị cáo, của người đặt tiền (là người thân thích của bị can bị cáo), nếu xét thấy không cần phải tạm giam mà họ vẫn có thể đảm bảo sự có mặt theo giấy triệu tập thì được có thể được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam. Tuy nhiên, trong thực tế các cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, bởi không thể xác định đặt số lượng bao nhiêu tiền để đặt. Ngoài ra vấn đề này sẽ làm bất bình đẳng, gây phân hóa giàu nghèo giữa các bị can, bị cáo, vì muốn thay đổi biện pháp “tạm giam” thành biện pháp “đặt tiền để bảo đảm” đòi hỏi bị can, bị cáo phải có tiền, như vậy đối với gia đình bị can, bị cáo nghèo thì không thể thực hiện được.

Thứ tư, đối với các biện pháp cưỡng chế khác: Khoản 1 Điều 102 Dự thảo quy định “áp giải được áp dụng đối với bị can, bị cáo” chỉ mới nêu được đối tượng bị áp dụng biện pháp này là “bị can, bị cáo” mà chưa nêu rõ trường hợp nào được áp dụng. Thiết nghĩ Dự thảo cần quy định thêm các trường hợp cụ thể được áp dụng biện pháp “dẫn giải” để các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng thống nhất, tránh tình trạng suy diễn. Bên cạnh đó, trong Dự thảo lần này các nhà làm luật đã thêm một điều luật mới đó là cơ quan tiến hành tố tụng được phong tỏa tài khoản[23] đối với bị can, bị cáo hoặc tài khoản của người khác nếu có căn cứ cho rằng tiền trong tài khoản này có được do hành vi phạm tội của bị can. Tuy nhiên lại không quy định khi các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành phong tỏa tài khoản đối với tài khoản của người khác phải thông báo cho người chủ tài khoản đó biết.

Thứ năm, vấn đề áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người chưa thành niên vẫn chưa được Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự giải quyết triệt để khi chỉ mới quy định “Biện pháp cưỡng chế đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong trường hợp cần thiết”, còn như thế nào là “cần thiết” thì chưa nêu được các trường hợp cụ thể nào. Mặc khác, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 và dự thảo đang được gửi lấy ý kiến chưa giải quyết được khó khăn trong thực tiễn khi bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, mà bỏ trốn. Trong trường hợp này các cơ quan tiến hành tố tụng không thể áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt, tạm giữ, tạm giam để bảo đảm việc thi hành pháp luật[24]. Do pháp luật không cho phép áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam trong trường hợp này, nên cơ quan chức năng không thể bảo đảm việc thi hành pháp luật.

Cùng với việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự cần có những quy định cụ thể, rõ ràng để góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được hiến định trong Hiến pháp. Để khắc phục những hạn chế mà nhóm tác giả đã đưa ra trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và các vấn đề mà Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự chưa đề cập đến; đồng thời bảo đảm cơ chế triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 bảo đảm quyền tự do công dân, nhóm tác giả có một số đề xuất kiến nghị trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự sau đây:

Một là, sửa đổi tên biện pháp ngăn chặn bắt bị can bị cáo để tạm giam được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 83 thành “Bắt tạm giam bị can, bị cáo”

Hai là, sửa đổi tên Điều 87 và bổ sung thêm nội dung các căn cứ áp dụng biện pháp bắt tạm giam bị can, bị cáo.

Điều 87. Bắt tạm giam bị can, bị cáo

1. Bắt tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 93 Bộ luật này.

2. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

…..

Ba là, bổ sung căn cứ gia hạn tạm giữ tại khoản 2 Điều 92.

Điều 92. Thời hạn tạm giữ

2. Trường hợp cần thiết cần có thời gian để xác minh căn cước, lai lịch, xác minh làm rõ dấu hiệu phạm tội của người bị bắt thì người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá ba ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày khi người bị tạm giữ có dấu hiệu phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cần có thêm thời gian xác minh hoặc các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã mà thời gian gia hạn tạm giữ lần 1 chưa đủ để cơ quan ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

Bốn là, bỏ quy định tại Điều 96 (đặt tiền để bảo đảm), vì biện pháp này thiếu tính khả thi trong thực tế khi bị áp dụng.

Năm là, bổ sung căn cứ áp dụng biện pháp áp giải tại khoản 1 Điều 102 và quy định phải thông báo cho chủ tài khoản biết việc phong tỏa tài khoản của cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp phong tỏa tài khoản được áp dụng đối với tài khoản của người khác khi có căn cứ cho rằng tiền trong tài khoản này có được do hành vi phạm tội của bị can tại khoản 2 Điều 104.

Điều 102. Áp giải, dẫn giải

1. Áp giải có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo để thi hành Quyết định thi hành án phạt tù; bị can bị cáo bị kết án phạt tù đang tại ngoại, giam giữ hoặc bị can, bị cáo đang tại ngoại mà không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.

Dẫn giải có thể được áp dụng đối với bị hại, người làm chứng, bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong trường hợp họ không có mặt theo giấy mời, giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không có lý do được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Bộ luật này.

…..

Điều 104. Phong tỏa tài khoản.

2. Những người theo quy định tại khoản 1 Điều 87 của bộ luật này có quyền ra lệnh phong tỏa tài khoản. Lệnh phong tỏa tài khoản của người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành và thông báo cho người có tài khoản bị phong tỏa khi tài khoản đó không phải của bị can, bị cáo mà cơ quan có thẩm quyền có căn cứ cho rằng tiền trong tài khoản này do hành vi phạm tội của bị can, bị cáo mà có.

Sáu là, bổ sung các trường hợp được áp dụng biện pháp cưỡng chế tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Ðiều 413. Áp dụng biện pháp cưỡng chế

1. Chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong trường hợp cần thiết khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có căn cứ xác định bị can, bị cáo có biểu hiện bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Việc bắt, tạm giữ, tạm giam với bị can, bị cáo là người chưa thành niên chỉ được áp dụng như một biện pháp cuối cùng, trong thời hạn ngắn nhất và có căn cứ cho rằng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả.

2…

3. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam khi phạm tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng và có căn cứ xác định người này thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 93 của Bộ luật này hoặc phạm tội ít nghiêm trọng mà theo quy định của bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 2 năm trở lên bỏ trốn khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

TS. Võ Thị Kim Oanh

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Trịnh Duy Thuyên

Phòng pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp - Công an TP. Cần Thơ


[1] Xem Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[2] Xem Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[3] Xem Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[4] Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[5] Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[6] Khoản 1 Điều 92; khoản 2 Điều 94 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[7] Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[8] Xem Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[9] Khoản 3 Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[10] Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[11] Khoản 2 Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[12]Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Điều 9 Quyết định số 1502/2008/QĐ-BCA ban hành quy trình bắt, áp giải bị can, bị cáo, người có quyết định thi hành án phạt tù, dẫn giải người làm chứng quy định.

[13] Khoản 4 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[14]Khoản 2 Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[15] Khoản 2 Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[16] Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[17] Điểm b,c khoản 2, Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[18] Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[19] Điều 92 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[20] Khoản 3 Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

[21] Xem khoản 1 Điều 84, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự.

[22] Xem khoản 1 Điều 85, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự.

[23] Xem Điều 104 Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự.

[24] Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 413 Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: