Thứ sáu 01/05/2026 09:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định của Bộ Luật hình sự liên quan đến tội phạm và trách nhiệm hình sự

Một là, các nhà làm luật cần ghi nhận một đặc điểm cũng rất quan trọng của khái niệm tội phạm, đó là - tội phạm do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện. Lý do là để bảo đảm chính xác về mặt khoa học, đồng thời phù hợp với thực tiễn áp dụng, cũng như bao quát xử lý hai trường hợp có thể tồn tại trong thực tế dưới đây:

Căn cứ vào nội dung Nghị quyết số 07/2011/QH13 ngày 06/08/2011 của Quốc hội khóa XIII về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2011, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 433/NQ-UBTVQH13 ngày 30/12/2011 về việc thành lập Ban soạn thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Trên cơ sở này, Ban soạn thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Trưởng ban đã thống nhất Đề cương định hướng sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự số 7724/ĐC-BSTBLHS(SĐ) ngày 24/9/2012, trong đó điểm 3.1. tiểu mục 3 Phần IV - Định hướng cơ bản sửa đổi Bộ luật Hình sự quy định: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến khái niệm và phân loại tội phạm, cơ sở của trách nhiệm hình sự, nguồn của luật hình sự, các giai đoạn phạm tội, các chế định đồng phạm, phạm tội có tổ chức, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vấn đề quyết định hình phạt...”. Ngoài ra, điểm 1.2 tiểu mục 1 phần IV cũng nêu: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến các chế định loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn, giảm hình phạt, xóa án tích...”. Gần đây, ngày 10/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1236/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999”. Theo đó, việc tổng kết này nhằm đánh giá một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thực tiễn 11 năm thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999, từ đó đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, góp phần đáp ứng yêu cầu mới của đất nước, tôn trọng và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và trật tự pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, để Ban soạn thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) có thêm tư liệu trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi Bộ luật Hình sự, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích một số tồn tại, hạn chế trong các quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến tội phạm và trách nhiệm hình sự, từ đó đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung cụ thể về các quy định liên quan đến hai chế định này so với Bộ luật Hình sự hiện hành.

1. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến tội phạm

1.1. Khái niệm tội phạm

Điều 8 Bộ luật Hình sự có bảy vấn đề sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, các nhà làm luật cần ghi nhận một đặc điểm cũng rất quan trọng của khái niệm tội phạm, đó là - tội phạm do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện. Lý do là để bảo đảm chính xác về mặt khoa học, đồng thời phù hợp với thực tiễn áp dụng, cũng như bao quát xử lý hai trường hợp có thể tồn tại trong thực tế dưới đây:

- Trường hợp thứ nhất, một người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại không có năng lực trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Một người 20 tuổi (đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) nhưng do bị tâm thần, bị điên (không có năng lực trách nhiệm hình sự) thực hiện hành vi giết người thì người này không phải chịu trách nhiệm hình sự vì họ không có năng lực trách nhiệm hình sự.

- Trường hợp thứ hai, một người có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng lại chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Đây là trường hợp mà Điều 8 Bộ luật Hình sự chưa điều chỉnh (mặc dù cũng có ý kiến cho rằng khi một người nào đó đạt đến độ tuổi nhất định thì họ sẽ có năng lực trách nhiệm hình sự, và năng lực trách nhiệm hình sự chứa trong đó (bao hàm) độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự). Ví dụ: Một người 15 tuổi thực hiện một tội phạm nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý. Lẽ dĩ nhiên, lúc này họ đã có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng theo quy định của pháp luật thì họ lại chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự vì khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định: “... (2). Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Hai là, tên gọi Điều 8 là “Khái niệm tội phạm” nhưng nội dung này chỉ thể hiện ở khoản 1. Khoản 2, 3 là việc phân loại tội phạm. Khoản 4 là trường hợp tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể của hành vi, nên không phải là tội phạm để phân biệt với tội phạm. Cho nên, cần tách nội dung Điều 8 thành hai điều luật cho chính xác (khoản 1 và khoản 4 một điều và khoản 2, 3 một điều với tên gọi là “khái niệm tội phạm” và “phân loại tội phạm” như kinh nghiệm lập pháp trong các Điều 14, 15 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga) hoặc nếu giữ cần có tên gọi cho chính xác hơn bao quát cả ba nội dung trên.

Ba là, bổ sung cụm từ “của con người” sau cụm từ “của công dân” trong nhóm các khách thể của tội phạm được các nhà làm luật bảo vệ trong Điều 8 cho bao quát và thống nhất với các Chương XII - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người và Chương XIII - Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, đồng thời sắp xếp lại khách thể “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm” trong Điều 8 thành “tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự” của con người cho đúng với tên gọi Chương XII đã nêu.

Bốn là, khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự chỉ nêu căn cứ: “tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này...”, trong khi đó, các loại tội phạm không chỉ dựa trên hai căn cứ đó mà còn dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với các tội phạm tương ứng đó (chế tài), mà cụ thể là: Đến 3 năm tù; đến 7 năm tù; đến 15 năm tù và; trên 15 năm tù, tù chung thân và tử hình, vì vậy, khoản 2 Điều luật này cần sửa đổi cho chính xác là: “Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự...”.

Năm là, cách định nghĩa: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm... Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm...” (khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự) là chưa chuẩn xác ngay với khái niệm tội phạm khi quy định: “Tội phạm là hành vi...” ở khoản 1 Điều luật này. Hơn nữa, tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng thì cũng đều là tội phạm, mà tội phạm lại là “hành vi nguy hiểm cho xã hội...”. Do đó, cần sửa đổi lại cho thống nhất trong nội dung của điều luật này.

Sáu là, Điều 8 Bộ luật Hình sự còn chưa đề cập đến một khách thể cũng rất quan trọng trong Chương XXIV - Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (từ Điều 341 đến Điều 344) là “hòa bình và an ninh của nhân loại”(1). Tương tự, các nhà làm luật nước ta cần ghi nhận bổ sung khách thể đã nêu vào trong nội dung điều luật này cho phù hợp với pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật quốc tế.

Bảy là, ngoài ra, khoản 4 Điều 8 Bộ luật Hình sự cũng quy định một trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi với nội dung: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Tuy nhiên, trong nội dung chưa nói rõ phạm vi của việc xử lý bằng các biện pháp khác là những biện pháp gì, vì vậy cần ghi nhận cụ thể các biện pháp xử lý là hành chính hoặc kỷ luật khác.

Như vậy, về Điều 8 Bộ luật Hình sự, chúng tôi đề xuất hai phương án khác nhau:

- Phương án thứ nhất: Vẫn quy định tội phạm và phân loại tội phạm trong cùng một điều luật thì Điều 8 Bộ luật Hình sự nên sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là̀ phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 8. Khái niệm tội phạm và phân loại tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, của con người, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại.

2. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Tội phạm ít nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

4. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp hành chính hoặc kỷ luật khác”.

- Phương án thứ hai: Tách nội dung khoản 2 và khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự thành một điều luật mới Điều 8a với tên gọi “Phân loại tội phạm”, còn Điều 8 chỉ có khoản 1 và khoản 4 của Điều 8 Bộ luật Hình sự (những nội dung cụ thể vẫn như phương án thứ nhất). Do đó, Điều 8 Bộ luật Hình sự mới nên sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 8. Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, của con người, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp hành chính hoặc kỷ luật khác”.

Ngoài ra, Điều 8a Bộ luật Hình sự nên sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 8a. Phân loại tội phạm

1. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Tội phạm ít nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù.

3. Tội phạm nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù.

4. Tội phạm rất nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù.

5. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

1.2. Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt

Điều 17 Bộ luật Hình sự có ba vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, đoạn 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự mới chỉ tập trung đề cập đến hành vi của người chuẩn bị (bao gồm: Tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm) nhưng chưa đề cập đến hành vi của người này trong mối liên hệ với những người đồng phạm khác như hành vi tìm kiếm, liên kết những người đồng phạm. Do đó, cần bổ sung thêm vấn đề này cho phù hợp với thực tiễn xét xử và tham khảo như kinh nghiệm lập pháp trong Điều 30 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga...(2).

Hai là, Điều 17 Bộ luật Hình sự cũng chưa nói rõ nguyên nhân của việc dừng lại (bị phát hiện) trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu của quá trình thực hiện tội phạm, do đó, cần bổ sung nguyên nhân của việc bị dừng lại này là do các nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội cũng tương tự như Điều 18 về “Phạm tội chưa đạt” trong Bộ luật Hình sự và tham khảo như kinh nghiệm lập pháp trong Điều 30 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga.

Ba là, đoạn 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự quy định: “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện” cần được sửa đổi, bổ sung cụm từ “một” và “hoặc” để tránh hiểu sai - nếu một người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện, còn giả sử họ chuẩn bị hai tội rất nghiêm trọng hoặc hai tội đặc biệt nghiêm trọng; hay họ chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng và một tội đặc biệt nghiêm trọng lại không phải chịu trách nhiệm hình sự?. Do đó, cần sửa thành: “Người chuẩn bị phạm một hay nhiều tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về một hay nhiều tội định thực hiện đó”.

Như vậy, Điều 17 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 17. Chuẩn bị phạm tội

Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, tìm kiếm, liên kết những người đồng phạm hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm, nhưng không thực hiện được tiếp hành vi của mình vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người chuẩn bị phạm tội.

Người chuẩn bị phạm một hay nhiều tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về một hay nhiều tội định thực hiện đó”.

Ngoài ra, Điều 18 và Điều 52 Bộ luật Hình sự có ba vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, cần bổ sung và giải thích khái quát vào Điều 18 Bộ luật Hình sự hai trường hợp “phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành” và “phạm tội chưa đạt đã hoàn thành” để có cơ sở pháp lý truy cứu trách nhiệm hình sự chính xác và bảo đảm công bằng đối với người phạm tội trong từng trường hợp tương. Hơn nữa, trong Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự cũng đã nêu về hai dạng phạm tội chưa đạt này.

Hai là, về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt quy định tại khoản 2, 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với trường hợp tù có thời hạn “... thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định và... mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”. Tuy nhiên, các nhà làm luật nước ta lại chưa quy định rõ: Không quá một phần hai (1/2) hay không quá ba phần tư (3/4) mức phạt tù là của mức phạt tù cao nhất hay mức phạt tù thấp nhất hay chia trung bình chung... Do đó, theo chúng tôi cần sửa đổi theo hướng “mức phạt tù” được hiểu chính là “không quá một phần hai mức phạt tù thấp nhất đến không quá một phần hai mức phạt tù cao nhất” và “không quá ba phần tư mức phạt tù thấp nhất đến không quá ba phần tư mức phạt tù cao nhất”(3) cho phù hợp với lý luận và thực tiễn, đồng thời bảo đảm các nguyên tắc công bằng và phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam.

Ba là, về trách nhiệm hình sự, tham khảo Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cho thấy, hành vi phạm tội chưa đạt cũng giống như Bộ luật Hình sự Việt Nam, có nghĩa không đặt ra vấn đề giới hạn những trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự mà quy định tất cả các trường hợp phạm tội chưa đạt đều phải chịu trách nhiệm hình sự, không phân biệt tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, Điều 66 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga lại quy định: Mức hình phạt quyết định đối với hành vi phạm tội chưa đạt không vượt quá ba phần tư mức hình phạt trong khung của tội phạm hoàn thành, không áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân đối với người phạm tội chưa đạt. Trong khi đó, khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng... Vì vậy, để nhân đạo hóa hơn nữa các quy định trong Bộ luật Hình sự, đồng thời phù hợp với thực tiễn xét xử, chỉ cần quy định áp dụng hình phạt tù chung thân trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng đối với trường hợp phạm tội chưa đạt là đã đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.

Như vậy, Điều 18 và Điều 52 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 18. Phạm tội chưa đạt

1. Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội.

2. Phạm tội chưa đạt thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn mà người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả chưa xảy ra;

b) Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn mà người phạm tội đã thực hiện các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả chưa xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng chưa phù hợp với dấu hiệu hậu quả trong cấu thành tội phạm.

3. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn so với phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành”.

“Điều 52. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt đựơc quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù thấp nhất đến không quá một phần hai mức phạt tù cao nhất mà điều luật quy định.

3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng hình phạt tù chung thân trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù thấp nhất đến không quá ba phần tư mức phạt tù cao nhất mà điều luật quy định”.

1.3. Đồng phạm

Điều 20 Bộ luật Hình sự có năm vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, các nhà làm luật nước ta cần ghi nhận bổ sung cụm từ “do cố ý” vào cuối khoản 1 Điều 20 Bộ luật Hình sự. Bởi lẽ, trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm do vô ý thì không bao giờ có đồng phạm cả (căn cứ vào các dấu hiệu chủ quan của đồng phạm mà khoa học luật hình sự đã luận giải).

Hai là, khoản 1 Điều 20 Bộ luật Hình sự mới chỉ bao quát được hành vi của người thực hành (đồng thực hành) khi ghi nhận “cùng thực hiện một tội phạm”, mà chưa phản ánh hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác. Trong khi đó, những người đồng phạm khác họ không cùng thực hiện một tội phạm, mà họ chỉ tham gia cùng thực hiện một hoặc nhiều tội phạm...(4). Do đó, cần sửa thành “cố ý cùng tham gia thực hiện một hoặc nhiều tội phạm” mới đầy đủ và chính xác hơn.

Ba là, các Điều 79 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), 81 (Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ), 82 (Tội bạo loạn); v.v... Bộ luật Hình sự quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia có ghi nhận một cụm từ phản ánh một loại người đồng phạm “người hoạt động đắc lực” trong các cấu thành tội phạm này. Lẽ dĩ nhiên, về mặt thực tiễn có thể hiểu đây chính là “người thực hành” tham gia phạm tội tích cực, nhưng tại Điều 20 Bộ luật Hình sự, các nhà làm luật nước ta lại không đề cập đến loại người này hoặc giải thích trong nội dung của dạng người thực hành. Do đó, các điều luật cụ thể trong Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia cần thay cụm từ “người hoạt động đắc lực” thành “người thực hành tham gia đắc lực” cho chính xác.

Bốn là, đặc biệt, chưa làm sáng tỏ được trường hợp người thực hành không phải là người trực tiếp thực hiện tội phạm mà người đó đã lợi dụng (hoặc sử dụng) người khác (chưa đủ các điều kiện là chủ thể của tội phạm thực hiện như: Bị tâm thần, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) là công cụ phạm tội, thì về mặt lý luận và thực tiễn, chúng ta vẫn quan niệm đó là người thực hành ở dạng thứ hai, nhưng rõ ràng, về mặt lập pháp hình sự, cần có sự ghi nhận vấn đề này để bảo đảm việc xử lý trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm nói chung, người thực hành nói riêng được chính xác. Tham khảo Bộ luật Hình sự Liên bang Đức, dạng người này được gọi là người thực hành (thực hiện) gián tiếp, người thực hiện hành vi cố ý được quy định trong cấu thành tội phạm qua hành vi của người khác, người khác ở đây đã bị họ sử dụng như công cụ phạm tội...(5) hay Điều 33 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cũng quy định rõ ràng vấn đề này(6). Do đó, có thể sửa đoạn 2 khoản 2 Điều 20 Bộ luật Hình sự là: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm hoặc sử dụng người chưa đủ các điều kiện là chủ thể của tội phạm thực hiện hành vi phạm tội”.

Năm là, các nhà làm luật chưa quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự vấn đề trách nhiệm hình sự do hành vi thái quá (hành động vượt quá) của người thực hành, trong khi thực tiễn xét xử ở nước ta vẫn tồn tại và tham khảo kinh nghiệm lập pháp của Điều 37 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga(7). Do đó, cần bổ sung thành một điều luật mới là Điều 20a. Hành vi thái quá của người thực hành trong đồng phạm nhằm bao quát xử lý đầy đủ tư cách của một loại người đồng phạm trung tâm trong đồng phạm - là người thực hành hay đồng thực hành hoặc có thêm cả hành vi thái quá của họ, cũng như trách nhiệm hình sự riêng biệt khi thực hiện hành vi thái quá nằm ngoài ý định phạm tội chung của đồng bọn.

Như vậy, Điều 20 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện một hoặc nhiều tội phạm do cố ý.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm hoặc sử dụng người chưa đủ các điều kiện là chủ thể của tội phạm thực hiện hành vi phạm tội (hoặc có thể thay bằng - người gián tiếp thực hiện tội phạm).

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”.

Tương tự, Điều 20a mới Bộ luật Hình sự như sau:

“Điều 20a. Hành vi thái quá của người thực hành trong đồng phạm

Hành vi thái quá của người thực hành trong đồng phạm là việc người thực hành đã thực hiện một tội phạm nằm ngoài ý định của những người đồng phạm khác. Những người đồng phạm khác không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi thái quá của người thực hành”.

2. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến trách nhiệm hình sự

2.1. Các nguyên tắc xử lý về hình sự

Điều 3 Bộ luật Hình sự có năm vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, tên gọi Điều 3 Bộ luật Hình sự là “Nguyên tắc xử lý” là chưa đầy đủ, vì trong nội dung của Điều luật này đã đề cập đến năm nguyên tắc trong chính sách hình sự của Nhà nước, chứ không phải một nguyên tắc xử lý. Hơn nữa, đó là các nguyên tắc xử lý về hình sự, nên cần sửa thành: “Các nguyên tắc xử lý về hình sự” cho chính xác hơn.

Hai là, khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự cần bổ sung thêm đoạn “không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội” cho đầy đủ nội dung, bởi lẽ, mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, song cần chú ý tập trung cả hai - không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, vì khoản 1 Điều 3 Bộ luật mới chỉ tập trung đến việc không bỏ lọt tội phạm, mà chưa chú ý đến yêu cầu không bỏ lọt người phạm tội, vì nếu không bỏ lọt tội phạm, mà lại bỏ lọt người phạm tội trong vụ án có đồng phạm, thì có nghĩa, chưa làm tốt công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, chưa bảo đảm yêu cầu xử lý tội phạm và người phạm tội. Vì vậy, tất cả các yêu cầu này cần được quán triệt và tuân thủ tuyệt đối trong quá trình xử lý tội phạm và người phạm tội, đồng thời đây còn là nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết bất kỳ một vụ án hình sự nào.

Ba là, đoạn 2 khoản 2 Điều 3 Bộ luật Hình sự quy định: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy...”, trong khi đó đoạn 3 khoản 2 Điều 20 về “Đồng phạm” lại quy định: “Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm...”. Do đó, để thống nhất, chỉ cần quy định “Nghiêm trị người tổ chức...” là đã đủ, đồng thời tùy thuộc vào quy mô (lớn hay nhỏ) của tội phạm mà các vai trò (tư cách) chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy có thể do một hoặc nhiều người thực hiện, chỉ nên cụ thể hóa trong Điều 20 Bộ luật Hình sự, còn khi nêu nguyên tắc xử lý cần ngắn gọn hơn.

Bốn là, đoạn 3 khoản 2 Điều 3 Bộ luật Hình sự cần khoan hồng cả “trường hợp tự nguyện khắc phục hậu quả”, bên cạnh đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra cho phù hợp với thực tiễn xét xử và quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Năm là, khoản 5 Điều 3 Bộ luật Hình sự quy định: “Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích”, tuy nhiên, cần nhấn mạnh hơn nữa trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc giúp đỡ họ hòa nhập với cộng đồng, tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, chứ chỉ quy định là họ được tạo điều kiện, nhưng chưa rõ là chủ thể nào tạo điều kiện giúp đỡ, tốt hơn cả là chính quyền địa phương nơi họ sinh sống là cơ quan chủ quản và có điều kiện nhất trong công tác này. Về vấn đề này, Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của Chính phủ “Quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù” đã nêu rõ và trực tiếp trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã (Điều 25) và Công an cấp xã (Điều 28).

Như vậy, Điều 3 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung:

“Điều 3. Các nguyên tắc xử lý về hình sự

1. Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội.

2. Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.

Nghiêm trị người tổ chức, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, tự nguyện khắc phục hậu quả.

3. Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục.

4. Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt.

5. Người đã chấp hành xong hình phạt được chính quyền địa phương tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích”.

2.2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Điều 2 Bộ luật Hình sự có ba vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, quy định “Chỉ người nào phạm một tội đã được...” cần sửa thành “phạm một hay nhiều tội đã được...”, nếu không sẽ dẫn đến cách hiểu sai là: “chỉ người nào phạm một tội... mới phải chịu trách nhiệm hình sự, còn phạm từ hai, ba... tội trở lên thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Hơn nữa, cần khẳng định đây là cơ sở “pháp lý...”.

Hai là, việc quy định “Chỉ người nào phạm một tội...” là đề cập đến việc một người đã thực hiện hành vi phạm tội được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm rồi, nhưng sau đó, đoạn 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự lại quy định: “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện”, có nghĩa, nếu một người mới “tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm đối với một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng” đã phải chịu trách nhiệm hình sự rồi, chứ chưa đòi hỏi thực hiện hành vi phạm tội. Hơn nữa, thực ra logíc khoa học là, một người họ chưa thực hiện hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, thì rõ ràng, không thể áp dụng chế tài trong điều, khoản đó để buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo đúng nghĩa, nhưng đây chúng ta có quy định vấn đề này trong Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sở dĩ có quy định vì đây là trường hợp đặc biệt vì, nếu để tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xảy ra, sẽ gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội, do đó, các nhà làm luật mới quy định buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự nếu họ chuẩn bị phạm một trong các tội đã nêu. Tuy nhiên, để bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần có quy định bổ sung để tránh việc không thống nhất giữa các điều luật trong Bộ luật Hình sự (Điều 2 và Điều 17), đồng thời, cụm từ “một” trong đoạn 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự cũng cần bỏ đi để tránh cách hiểu sai như đã đề cập ở trên.

Ba là, để bảo đảm tính lôgíc và bao quát các trường hợp đặc biệt, Điều 2 Bộ luật Hình sự cần bổ sung thêm cụm từ “trên những cơ sở chung” vào cuối nội dung điều luật. Bởi lẽ, trên thực tế và căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sẽ có những trường hợp một người phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự nhưng vẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Trường hợp do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 23) hoặc trường hợp “người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ” (khoản 6 Điều 289 Bộ luật Hình sự); v.v...

Như vậy, Điều 2 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 2. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự

Chỉ người nào phạm một hay nhiều tội đã được Bộ luật hình sự quy định hoặc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 Điều 17 Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung”.

2.3. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Căn cứ vào Điều 12 Bộ luật Hình sự cho thấy một vấn đề cần sửa đổi, bổ sung đó là sự thống nhất giữa quy định của Điều luật này với nội dung của Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự thì “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm...”. Tuy nhiên, giữa các quy định của Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự và quy định về độ tuổi đã nêu tại Phần chung còn chưa thống nhất, nói cách khác chưa có khoản (quy định) nào về điều kiện của chủ thể đặc biệt. Ví dụ: Khoản 1 Điều 12 quy định như vậy, trong khi đó, khoản 1 Điều 115 Tội giao cấu với trẻ em lại quy định: “1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm...”. Do đó, rõ ràng ví dụ nếu một người là 17 tuổi mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 115), trong khi đó nếu theo khoản 1 Điều 12 thì người này lại phải chịu trách nhiệm hình sự, vì các nhà làm luật đã quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, đồng thời “mọi tội phạm” là bất kỳ tội phạm nào được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật. Tương tự, trong Bộ luật Hình sự còn tồn tại nhiều tội phạm có kỹ thuật lập pháp như vậy.

Như vậy, Điều 12 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp điều luật trong Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

2.4. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Điều 23 Bộ luật Hình sự có bốn vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, các nhà làm luật nước ta vẫn chưa khẳng định dứt khoát hậu quả pháp lý của việc không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm lập pháp trong Điều 77 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự...(8).

Hai là, vấn đề gây thiệt hại (hậu quả) về vật chất hay tranh chấp dân sự bên cạnh việc phạm tội, nếu đã được hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự rồi, thì người này cũng cần phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, cũng như giải quyết vấn đề dân sự để duy trì trật tự xã hội chung và bảo đảm quyền lợi của người bị hại hay nguyên đơn dân sự.

Ba là, đoạn 2 khoản 3 Điều 23 Bộ luật Hình sự quy định: “Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ” thực ra chỉ cần quy định “đã có lệnh truy nã” là đầy đủ, còn việc quy định “cố tình trốn tránh” hay “không cố tình trốn tránh” không có ý nghĩa gì.

Bốn là, về cách tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng tại đoạn 2 khoản 3 Điều 23 Bộ luật Hình sự quy định: “Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu được tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ”. Theo chúng tôi, việc quy định cụm từ “tự thú” có lẽ chưa chính xác mà phải là “đầu thú”. Khái niệm “tự thú” đã quy định cụ thể tại Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 02/06/1990 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp tiến hành hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú. Ngoài ra, theo hướng dẫn tại Công văn số 81/2002/CV ngày 10/06/2002 của Tòa án nhân dân tối cao đã giải thích rõ hơn tự thú và phân biệt việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp “tự thú” và trong trường hợp “đầu thú” như sau: “Tự thú” là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện. Trong khi đó, “đầu thú” là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Sự khác nhau giữa hai khái niệm này phản ánh qua việc người phạm tội đã có lệnh truy nã hay chưa. Đặc biệt, tình tiết giảm nhẹ “tự thú” được quy định khoản 1 Điều 46, tình tiết giảm nhẹ “đầu thú” được áp dụng theo quy định khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Do đó, nếu đã có “lệnh truy nã” rồi thì không thể gọi là “tự thú” vì lúc này, hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó đã bị các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền biết. Vì vậy, trong nội dung điều luật này cần sửa thành cụm từ “đầu thú” cho chính xác hơn.

Như vậy, Điều 23 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 23. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và được miễn trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội đã có lệnh truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ”

Tài liệu tham khảo:

(1). Xem: GS.TS. Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo sau đại học, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.159.

(2). Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.42.

(3). Xem: TS. Trịnh Quốc Toản, Hoàn thiện hình phạt tử hình, tù có thời hạn và phạt tiền theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9 (tháng 5), 2008, tr.4.

(4). Xem: GS.TS. Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo sau đại học, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.474.

(5). Xem: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, PGS.TS. Lê Thị Sơn, Phần thứ năm - Những vấn đề cơ bản về Phần chung pháp luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, Trong sách: Thông tin khoa học pháp lý: Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 8/2002, tr. 125.

(6). Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.42.

(7). Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.50.

(8). Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.45.

Trịnh Tiến Việt & Đoàn Ngọc Xuân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: