Thứ hai 13/04/2026 18:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định của Dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi)

Theo quy định tại Điều 5 Dự thảo lần hai Luật Thanh tra (sửa đổi) (Dự thảo Luật), chủ thể có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo hoạt động thanh tra bao gồm: (i) Thủ tướng Chính phủ; (ii) Tổng Thanh tra Chính phủ; (iii) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; (iv) Tổng cục trưởng, Cục trưởng thuộc bộ và tương đương; (v) Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh; (vi) Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện).

1. Chủ thể tổ chức, chỉ đạo hoạt động thanh tra và cơ quan thanh tra ở đơn vị hành chính cấp huyện


Theo quy định tại Điều 5 Dự thảo lần hai Luật Thanh tra (sửa đổi) (Dự thảo Luật), chủ thể có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo hoạt động thanh tra bao gồm: (i) Thủ tướng Chính phủ; (ii) Tổng Thanh tra Chính phủ; (iii) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; (iv) Tổng cục trưởng, Cục trưởng thuộc bộ và tương đương; (v) Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh; (vi) Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện). Việc xác định chủ thể có thẩm quyền tổ chức, chỉ đạo hoạt động thanh tra đối với các chức danh trên dựa vào mô hình tổ chức của các cơ quan thanh tra (CQTT) trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước theo quy định tại Điều 14 Dự thảo Luật bao gồm: (i) Thanh tra Chính phủ; (ii) Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ; (iii) Thanh tra Tổng cục, Cục thuộc bộ và tương đương; (iv) Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (v) Thanh tra sở; (vi) Thanh tra quận, huyện, thành phố thuộc cấp tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Nghĩa là, đồng thời với các CQTT sẽ có các thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước tương ứng thực hiện việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động thanh tra.


Tuy vậy, thông qua hai điều luật trên, có thể thấy, việc liệt kê các chủ thể có thẩm quyền tổ chức, chỉ đạo hoạt động thanh tra ở cấp huyện cũng như các CQTT được tổ chức trong cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện chưa thực sự đầy đủ. Bởi lẽ, quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã xác định đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm: “Quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương”. Do đó, trong trường hợp xác định rõ về mặt nguyên tắc, thanh tra huyện được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính cấp huyện[1] thì cần liệt kê một cách đầy đủ nhằm bảo đảm sự tương thích giữa quy định của Dự thảo Luật với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Vì vậy, Điều 5 Dự thảo Luật cần được chỉnh lý bằng cách bổ sung thêm cụm từ “thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương”, quy định tại khoản 6 Điều 14 cần bổ sung thêm cụm từ “thị xã”. Bên cạnh đó, cần loại bỏ từ “cấp” trong quy định tại khoản 6 Điều 14 do quy định này đang liệt kê các đơn vị hành chính cấp huyện và từ “cấp” ở đây không phản ánh đúng nghĩa các đơn vị hành chính được liệt kê tại khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.


2. Thẩm quyền phê duyệt kế hoạch thanh tra của Thanh tra Tổng cục, Cục; Thanh tra sở, Thanh tra huyện và thời gian gửi Kế hoạch thanh tra


Một trong những điểm mới của Dự thảo Luật trong việc xây dựng và ban hành Kế hoạch thanh tra (KHTT) so với pháp luật thanh tra hiện hành[2] là KHTT của Thanh tra sở và Thanh tra huyện sẽ được gửi đến Thanh tra tỉnh để tổng hợp thành một KHTT chung của tỉnh, sau đó sẽ trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành (điểm a khoản 1 Điều 28). KHTT của Thanh tra bộ và Thanh tra Tổng cục, Cục thì tập hợp thành KHTT của bộ và trình Bộ trưởng ban hành (điểm b khoản 1 Điều 20). Điều này nhằm bảo đảm sự thống nhất, tránh việc trùng lặp, chồng chéo trong hoạt động thanh tra giữa các CQTT với nhau, thậm chí là hoạt động thanh tra với kiểm toán và với hoạt động kiểm tra. Vì vậy, Dự thảo Luật đã triển khai theo hướng chỉ có KHTT của Thanh tra bộ và Thanh tra tỉnh sẽ do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp (Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh) phê duyệt và ban hành, còn KHTT của các cơ quan khác thì không bắt buộc. Điều này được khẳng định dựa trên quy định tại khoản 1 Điều 24 Dự thảo Luật về xây dựng KHTT của Thanh tra Tổng cục, Cục; khoản 1 Điều 32 về xây dựng KHTT của Thanh tra sở và điểm a khoản 1 Điều 36 về KHTT của Thanh tra huyện. Từ đó, dẫn đến KHTT của Thanh tra Tổng cục, Cục; Thanh tra sở, Thanh tra huyện không nhất thiết phải được Tổng Cục trưởng, Cục trưởng; Giám đốc sở, Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt trước khi gửi cho chủ thể có thẩm quyền tổng hợp và ban hành.


Tuy nhiên, quy định này rõ ràng chưa cho thấy được bản chất của hoạt động thanh tra là luôn gắn với hoạt động quản lý nhà nước cũng như chưa phù hợp với tinh thần, ý nghĩa của KHTT. Thực chất, “thanh tra luôn gắn liền với quản lý nhà nước, với tư cách là một chức năng, một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, hoạt động thanh tra không thể tách rời hoạt động quản lý nhà nước”[3], “thanh tra không có mục đích tự thân mà là để phục vụ cho công tác quản lý điều hành của nhà nước ngày càng có hiệu quả, hiệu lực, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn”[4]. Mặt khác, quy định tại khoản 5 Điều 2 Dự thảo Luật xác định: “Kế hoạch thanh tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về thanh tra của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong 01 năm do cơ quan thanh tra xây dựng để thực hiện Định hướng hoạt động thanh tra hằng năm và yêu cầu quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp”. Như vậy, KHTT được xây dựng nhằm đáp ứng đồng thời hai mục tiêu, đó là để thực hiện Định hướng hoạt động thanh tra hằng năm và theo yêu cầu quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Theo Dự thảo Luật thì Tổng cục trưởng, Cục trưởng; Giám đốc sở, Chủ tịch UBND cấp huyện chính là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp với Thanh tra Tổng cục, Cục; Thanh tra sở và Thanh tra huyện. Vì vậy, nếu không trao thẩm quyền, ít nhất là phê duyệt KHTT của Thanh tra Tổng cục, Cục; Thanh tra sở; Thanh tra huyện đối với Tổng cục trưởng, Cục trưởng; Giám đốc sở, Chủ tịch UBND cấp huyện thì khả năng bảo đảm KHTT đạt được đồng thời hai mục tiêu như trên sẽ kém khả thi. Rõ ràng, xuất phát từ yêu cầu của hoạt động quản lý, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong chừng mực nào đó sẽ nảy sinh nhu cầu thanh tra đối với các đối tượng quản lý nhất định, vì vậy, để bảo đảm hoàn thành được mục tiêu đó, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp về mặt hình thức, ít nhất phải có thẩm quyền phê duyệt KHTT nhằm điều hướng, bảo đảm hoạt động thanh tra phục vụ cho hoạt động quản lý của mình đạt được hiệu quả. Không những vậy, Điều 23 Dự thảo Luật đã khẳng định: “Thanh tra Tổng cục, Cục là cơ quan của Tổng cục, Cục giúp Tổng cục trưởng, Cục trưởng thực hiện công tác thanh tra chuyên ngành, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và chịu sự chỉ đạo, điều hành của Tổng cục trưởng, Cục trưởng”. Điều này cũng lặp lại tương tự đối với Thanh tra sở và Thanh tra huyện. Vì vậy, nếu không trao quyền được phê duyệt KHTT cho 03 chức danh trên đối với các CQTT giúp việc cho họ, sẽ khó bảo đảm được tính chỉ đạo, điều hành của chủ thể này đối với hoạt động thanh tra.


Bên cạnh đó, theo lôgíc, khi đặt ra vấn đề Tổng cục trưởng, Cục trưởng; Giám đốc sở; Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt KHTT của Thanh tra Tổng cục, Cục; Thanh tra sở và thanh tra huyện trước khi trình Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành thì cũng cần phải điều chỉnh thời gian xây dựng KHTT so với Dự thảo Luật bằng cách lùi lại 05 ngày nhằm bảo đảm thời gian tiến hành việc xây dựng, phê duyệt và gửi KHTT tổng hợp. Như vậy, thông qua các phân tích ở trên, quy định tại khoản 1 Điều 24 cần bổ sung Tổng cục trưởng, Cục trường phê duyệt KHTT; khoản 1 Điều 32 bổ sung Giám đốc sở phê duyệt KHTT; điểm a khoản 1 Điều 36 cần bổ sung Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt KHTT và Điều 49 Dự thảo Luật cần điều chỉnh như sau:
“3. Chậm nhất vào ngày 15 tháng 10 hằng năm, Chánh thanh tra Tổng cục, Cục, Chánh Thanh tra sở, Chánh thanh tra huyện… xây dựng kế hoạch thanh tra của mình trình Tổng cục Trưởng, Cục trưởng; Giám đốc sở; Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt kế hoạch thanh tra của cơ quan mình.
Tổng cục Trưởng, Cục trưởng; Giám đốc sở; Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm xem xét, phê duyệt kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 20 tháng 10 hằng năm.


Chậm nhất vào ngày 25 tháng 10 hằng năm, Chánh thanh tra Tổng cục, Cục gửi cho thanh tra bộ để tổng hợp vào Kế hoạch thanh tra của bộ trình Bộ trưởng ban hành;...”.


3. Thời hạn thanh tra và gia hạn thời hạn thanh tra


Thứ nhất, cần phân hóa thời hạn thanh tra hành chính và thời hạn thanh tra chuyên ngành. So với pháp luật thanh tra hiện hành, quy định tại Điều 51 Dự thảo Luật cho thấy sự thay đổi rất lớn khi không phân định thời hạn thanh tra hành chính và thời hạn thanh tra chuyên ngành mà áp dụng chung. Từ đó, dẫn đến các chủ thể khi tiến hành hoạt động thanh tra sẽ áp dụng thống nhất một loại thời hạn thanh tra, bất kể vụ việc đó được tiến hành dưới loại hình thanh tra như thế nào. Sự điều chỉnh này rõ ràng là thiếu phù hợp và tạo nên thách thức không nhỏ khi tiến hành triển khai trên thực tế. Một mặt, Dự thảo Luật vẫn tiếp tục phân định hoạt động thanh tra thành hai loại là thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Hai loại này mặc dù tồn tại những điểm giao thoa nhưng khác nhau về bản chất. Điều này không những được chỉ rõ về mặt lý luận[5] mà còn được minh thị trong khái niệm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành tại khoản 2, khoản 3 Điều 2 Dự thảo Luật. Mặt khác, việc phân định giữa thời hạn thanh tra hành chính và thời hạn thanh tra chuyên ngành cũng như tách ra để quy định riêng biệt là có cơ sở. Bởi lẽ, “trong quản lý nhà nước, mỗi ngành, lĩnh vực có những đặc thù khác nhau nên yêu cầu về thời hạn thanh tra không thể quy định giống nhau được”[6]. Một điểm đáng lưu ý là, thực tiễn hoàn toàn không đặt ra nhu cầu về việc xóa bỏ ranh giới giữa hai loại thời hạn thanh tra như trên, sự phân định của pháp luật hiện hành đã và đang được các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra vận dụng một cách tương đối hiệu quả. Trong Báo cáo tổng kết 09 năm thi hành Luật Thanh tra của Thanh tra Chính phủ cũng không đề cập đến việc chia tách thời hạn thanh tra như trên của pháp luật hiện hành là bất cập. Thậm chí, định hướng sửa đổi về thời hạn thanh tra cũng không bàn đến vấn đề này. Có chăng, đó chỉ là vấn đề liên quan đến việc chậm ban hành báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra[7]. Vì lẽ đó, theo tác giả, Dự thảo Luật cần kế thừa sự hợp lý trong quy định về thời hạn thanh tra của Luật Thanh tra năm 2010 và có sự điều chỉnh theo hướng phân định giữa thời hạn thanh tra hành chính và thời hạn thanh tra chuyên ngành. Qua đó, bảo đảm được tính đặc thù của từng loại hình thanh tra và tính hiệu lực, hiệu quả của pháp luật thanh tra.


Thứ hai, cần ghi nhận căn cứ gia hạn thời hạn thanh tra đang thanh tra ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn đối với tất cả các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra và bổ sung căn cứ này vào Điều 73 của Dự thảo Luật.Theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 51 Dự thảo Luật, có thể hiểu, căn cứ để Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ và Thanh tra Tổng cục, Cục quyết định gia hạn thời hạn thanh tra chỉ dựa vào tính chất phức tạp của vụ việc. Còn đối với Thanh tra sở, Thanh tra huyện, điểm c khoản 1 Điều 51 Dự thảo Luật xác định căn cứ để gia hạn thanh tra bao gồm hai căn cứ là đang thanh tra ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn và vụ việc phức tạp. Thực tế, khi tiến hành hoạt động thanh tra, xác suất để chủ thể thanh tra gặp phải những vụ việc có tính chất phức tạp hoặc phải tiến hành thanh tra ở những khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn hoặc cả hai lý do trên là ngang nhau[8]. Do đó, không thể tránh khỏi hiện tượng các cơ quan như Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ và Thanh tra Tổng cục, Cục khi thanh tra sẽ tiến hành ở những khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn, từ đó dẫn đến việc thu thập các tài liệu, chứng cứ cũng bị ảnh hưởng, kéo dài hơn. Vì vậy, việc chưa ghi nhận căn cứ được gia hạn thời hạn thanh tra là đang thanh tra ở khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn đối với Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ và Thanh tra Tổng cục, Cục là chưa toàn diện và sát với thực tiễn.


Một điều cũng cần nói đến là lý do để gia hạn thời hạn thanh tra tại Điều 51 sẽ được viện dẫn đến quy định tại Điều 73 Dự thảo Luật nhưng Điều 73 Dự thảo Luật lại chưa liệt kê đến căn cứ đang thanh tra ở khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn để các CQTT có thể gia hạn thời hạn thanh tra. Vì thế, một khi đã đề cập đến căn cứ này làm cơ sở cho việc gia hạn thời hạn thanh tra thì tối thiểu phải được đưa vào Điều 73 Dự thảo Luật bên cạnh căn cứ vụ việc phức tạp và đặc biệt phức tạp. Sự ghi nhận này sẽ bảo đảm sự đồng bộ nội tại giữa các quy định khi cùng điều chỉnh về một vấn đề, tránh sự thiếu nhất quán không đáng có. Hơn thế nữa, khi đã ghi nhận căn cứ này vào Điều 73 thì cũng cần phải có sự diễn giải rõ ràng như khi giải thích căn cứ phức tạp và đặc biệt phức tạp, từ đó mới bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được minh thị, thống nhất và đồng bộ. Từ những cơ sở trên, quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 51 Dự thảo Luật cần bổ sung thêm căn cứ thanh tra ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn để gia hạn thời hạn thanh tra và Điều 73 Dự thảo Luật cần chỉnh lý như sau: “1. Gia hạn thời hạn thanh tra trong trường hợp phức tạp và ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn, bao gồm: …d) Miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra là địa bàn các xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao được chủ thể có thẩm quyền công nhận[9]”.


4. Về công bố Quyết định thanh tra và báo các chủ thể có liên quan khi thanh tra ngoài giờ hành chính


Một là, cần xác định rõ, UBND cấp xã thực hiện xác nhận trong thủ tục công bố Quyết định thanh tra (QĐTT) và điều chỉnh quy định tại khoản 4 Điều 68 Dự thảo Luật. Công bố QĐTT là một thủ tục có ý nghĩa quan trọng, một mặt, đây là “mốc thời gian để tính thời hạn tiến hành thanh tra trực tiếp tại cơ sở”[10]. Mặt khác, việc công bố QĐTT không nằm ngoài mục đích nhằm xác lập tư cách chính thức của chủ thể thanh tra với đối tượng thanh tra cũng như giá trị pháp lý của hoạt động thanh tra và công khai các thông tin cần thiết về hoạt động thanh tra cho đối tượng thanh tra biết. Qua đó, bảo đảm sự hợp tác của đối tượng thanh tra, hợp pháp hóa việc thực hiện quyền của chủ thể thanh tra trong quá trình tiến hành hoạt động thanh tra nếu có. Vì vậy, trong bất kỳ tình huống nào, chủ thể thanh tra cũng phải có trách nhiệm công bố QĐTT. Thậm chí, trong trường hợp phát hiện hành vi vi phạm cần phải tiến hành thanh tra ngay thì sau khi lập biên bản vi phạm của đối tượng thanh tra, chủ thể thanh tra cũng phải tiến hành việc công bố QĐTT (Điều 67 Dự thảo Luật). Chỉ loại trừ trường hợp trên, hầu hết các trường hợp khác chủ thể thanh tra đều phải thực hiện công bố QĐTT trước khi tiến hành hoạt động thanh tra trên thực tế với đối tượng thanh tra. Một điểm đáng lưu ý là, “trong trường hợp đối tượng thanh tra có hành vi chống đối, cố tình vắng mặt thì Trưởng đoàn thanh tra lập biên bản có xác nhận của UBND cấp xã và tiếp tục thực hiện thanh tra theo kế hoạch” (khoản 2 Điều 67 Dự thảo Luật). Quy định này được xem là hợp lý vì trong trường hợp đối tượng thanh tra bất hợp tác, rõ ràng không thể thực hiện việc công bố QĐTT theo thủ tục thông thường với đầy đủ thành phần như Đoàn thanh tra, Tổ giám sát hoặc công chức được giao nhiệm vụ giám sát, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra. Tuy vậy, quy định trên cần làm rõ, nếu như lấy xác nhận của UBND cấp xã thì đó là UBND xã nào (nơi tiến hành hoạt động thanh tra, hay là trụ sở của đối tượng thanh tra, nơi cư trú của cá nhân[11]). Bởi lẽ, không phải trong mọi trường hợp, trụ sở của đối tượng thanh tra và nơi cần tiến hành hoạt động thanh tra đều đồng nhất. Chẳng hạn, trong hoạt động thanh tra an toàn lao động đối với công trình xây dựng là nhà ở, nhà cao tầng…[12] thì rõ ràng địa điểm thanh tra với trụ sở của doanh nghiệp, công ty có thể khác nhau. Về mặt pháp lý, địa điểm công bố QĐTT không được định danh rõ, điều này nhằm bảo đảm sự linh hoạt, phù hợp của Đoàn thanh tra khi quyết định công bố QĐTT nhằm đáp ứng nhu cầu của hoạt động thanh tra nhưng cũng không gây phiền hà cho đối tượng thanh tra. Tuy nhiên, để tránh việc áp dụng pháp luật trở nên lúng túng, không đồng bộ, thống nhất, dễ phát sinh hiện tượng khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thanh tra, Dự thảo Luật cần xác định rõ khi rơi vào trường hợp trên thì Trưởng đoàn thanh tra sẽ lấy xác nhận của UBND cấp xã nào.


Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 67 Dự thảo Luật khẳng định: “Việc công bố Quyết định thanh tra phải được lập thành biên bản, có chữ ký của Trưởng đoàn thanh tra và Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra”. Quy định này tuyệt đối hóa trong mọi trường hợp, việc công bố QĐTT phải lập biên bản và có chữ ký của đầy đủ các thành phần là Trưởng đoàn thanh tra, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. Tuy vậy, điều này là thiếu logic và chặt chẽ khi khoản 2 đã dự liệu trường hợp đối tượng thanh tra bất hợp tác thì lấy xác nhận của UBND cấp xã thay thế. Điều này cũng không loại trừ hiện tượng cho dù kết thúc việc thanh tra đi chăng nữa thì đối tượng thanh tra cũng không ký vào biên bản công bố QĐTT. Vì lẽ đó, để bảo đảm tính chính danh của Đoàn thanh tra, tính hợp pháp của hoạt động thanh tra, bảo đảm hoàn thiện hồ sơ thanh tra, việc công bố QĐTT phải lập biên bản nhưng nếu đối tượng thanh tra không thiện chí, thiếu sự hợp tác, cố tình không ký vào biên bản thì có thể thay thế bằng xác nhận của UBND cấp xã.


Hai là, điều chỉnh quy định về việc báo các chủ thể có liên quan khi Đoàn thanh tra quyết định thanh tra ngoài giờ hành chính. Khoản 2 Điều 68 Dự thảo Luật quy định: “Đoàn thanh tra làm việc với đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong giờ hành chính. Trong trường hợp phải làm việc ngoài giờ hành chính thì Trưởng đoàn thanh tra quyết định về thời gian cụ thể, báo cho các bên có liên quan và chịu trách nhiệm về quyết định của mình”. Như vậy, Dự thảo Luật thanh tra chính thức luật hóa việc thanh tra ngoài giờ hành chính đối với hoạt động thanh tra[13], điều này là hoàn toàn phù hợp vì trong rất nhiều trường hợp, để bảo đảm hoạt động thanh tra đạt được chất lượng, có hiệu quả, Đoàn thanh tra phải tiến hành hoạt động thanh tra ngoài giờ hành chính mới có thể phát hiện ra sai phạm của đối tượng thanh tra. Đặc biệt là những ngành nghề có thời gian hoạt động chủ yếu ngoài giờ hành chính như karaoke, vũ trường, khách sạn… thì việc thanh tra ngoài giờ hành chính trong nhiều trường hợp là hợp lý. Tuy vậy, Dự thảo Luật xác định trong mọi tình huống khi thanh tra ngoài giờ hành chính, Trưởng đoàn thanh tra phải báo cho các bên có liên quan dường như chưa thực sự phù hợp về mặt thực tiễn cũng như pháp lý. Bởi lẽ, khi thanh tra ngoài giờ hành chính và đặc biệt là trong trường hợp thanh tra đột xuất, rõ ràng, Đoàn thanh tra không cần phải báo cho các bên liên quan biết vì việc lộ, lọt thông tin có thể diễn ra và không bảo đảm được hiệu quả của hoạt động thanh tra nếu vấn đề này xuất hiện. Chẳng hạn, để bảo đảm việc thanh tra an toàn lao động đối với công trình xây dựng là nhà ở, nhà cao tầng… Đoàn thanh tra quyết định sẽ thanh tra ngoài giờ hành chính theo hình thức thanh tra đột xuất và nơi làm việc là tại công trình xây dựng. Từ đó, Đoàn thanh tra không nhất thiết phải báo cho các bên liên quan biết trước mà chỉ cần thực hiện việc công bố QĐTT khi đến thanh tra thì đã bảo đảm tính chính danh và hợp pháp của hoạt động thanh tra. Về mặt pháp lý, điều này cũng làm nảy sinh mâu thuẫn nội tại với quy định về hình thức thanh tra đột xuất của Dự thảo Luật và xuất hiện hiện tượng xung đột pháp luật giữa Luật Thanh tra với pháp luật có liên quan, chẳng hạn như Bộ luật Lao động năm 2019. Bởi lẽ, quy định tại khoản 2 Điều 216 Bộ luật Lao động năm 2019 xác định: “Khi thanh tra đột xuất theo quyết định của người có thẩm quyền trong trường hợp khẩn cấp có nguy cơ đe dọa an toàn, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người lao động tại nơi làm việc thì không cần báo trước”. Ngược lại, nếu không phải là thanh tra đột xuất, để bảo đảm sự hợp tác của đối tượng thanh tra, việc báo cho các bên liên quan, đặc biệt là đối tượng thanh tra biết là điều cần thiết. Vì lẽ đó, quy định tại khoản 2 Điều 68 cần điều chỉnh theo hướng báo cho các bên có liên quan biết, trừ trường hợp thanh tra đột xuất.


5. Một số nội dung khác


Thứ nhất, cần loại bỏ một số quy định tồn tại sự trùng lặp
- Bỏ điểm b khoản 1 Điều 29 Dự thảo Luật về nhiệm vụ của Chánh thanh tra tỉnh “quyết định thanh tra khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật”, do đã được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 29 Dự thảo Luật. Mặt khác, loại bỏ quy định này trong phần “nhiệm vụ” thay vì “quyền hạn” vì các chủ thể khác như Tổng Thanh tra Chính phủ, Chánh thanh tra Bộ, Chánh thanh tra Tổng cục, Cục và Chánh thanh tra huyện đều ghi nhận ở quyền hạn (Điều 18, Điều 22, Điều 25, Điều 37).
- Bỏ quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 91 Dự thảo Luật: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký Kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm thực hiện việc công khai Kết luận thanh tra” vì quy định này đã được quy định tại khoản 3 của chính điều luật này trong Dự thảo Luật.
Thứ hai, cần điều chỉnh một số quy định dẫn chiếu còn sai sót
- Khoản 2 Điều 51 Dự thảo Luật viện dẫn Điều 73 đổi thành Điều 74 vì quy định về tạm dừng cuộc thanh tra được quy định tại Điều 74 Dự thảo Luật.
- Khoản 3 Điều 51 Dự thảo Luật viện dẫn Điều 72 đổi thành Điều 73 vì quy định về gia hạn thời hạn thanh tra được quy định tại Điều 73 Dự thảo Luật.
- Điểm o khoản 1 Điều 61 Dự thảo Luật viện dẫn khoản 3 Điều 70 đổi thành khoản 3 Điều 71 vì quy định chuyển hồ sơ, tài liệu quy định tại khoản 3 Điều 71 Dự thảo Luật.
- Điểm e khoản 1 Điều 75 Dự thảo Luật viện dẫn Điều 57 đổi thành Điều 56 vì quy định về việc xử lý chồng chéo, trùng lặp để dẫn đến cuộc thanh tra bị đình chỉ được quy định tại Điều 56 Dự thảo Luật.
- Khoản 1 Điều 98 Dự thảo Luật viện dẫn điểm b khoản 2 Điều 96 đổi thành điểm b khoản 2 Điều 97 vì quy định cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác, khách quan thông tin, tài liệu được quy định điểm b khoản 2 Điều 97 Dự thảo Luật.

ThS. Võ Tấn Đào
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Theo tinh thần của Dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi) lần hai thì chỉ những đơn vị hành chính cấp huyện đáp ứng các điều kiện luật định mới được tổ chức thanh tra huyện (tức không phải bất kỳ đơn vị hành chính cấp huyện nào cũng tổ chức thanh tra huyện).

[2] Pháp luật thanh tra hiện hành thiết kế nguyên lý xây dựng kế hoạch thanh tra dựa trên việc CQTT cấp trên xây dựng trước rồi đến CQTT cấp dưới xây dựng thông qua việc đối chiếu với KHTT của CQTT tra cấp trên đã ban hành. Vì vậy, mỗi một cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đều có KHTT riêng cho cơ quan mình và được Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phê duyệt/phê duyệt và ban hành (Điều 36 Luật Thanh tra năm 2010).

[3] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Tập bài giảng Pháp luật thanh tra, khiếu nại và tố cáo, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, năm 2017, tr. 23.

[4] Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 6/2012 - Chủ đề Thanh tra và pháp luật về thanh tra, Hà Nội, năm 2012, tr. 11.

[5] Xem thêm: Đinh Văn Minh, Phân định thanh tra hành chính - thanh tra chuyên ngành: Những vướng mắc đặt ra cho việc sửa đổi Luật Thanh Tra, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số chuyên đề 9 (146), năm 2009, tr. 23.

[6] Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Báo cáo số 376/BC-UBTVQH12 ngày 15/10/2010 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giải trình, tiếp thu chỉnh lý Dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi),Hà Nội, năm 2011, tr. 11.

[7] Thanh tra Chính phủ, Báo cáo tổng kết 09 năm thi hành Luật Thanh tra, Hà Nội, năm 2019, tr. 25.

[8] Võ Tấn Đào & Hồ Quang Chánh, Thời hạn thanh tra theo Luật Thanh tra năm 2010, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 02, năm 2018, tr. 13.

[9] Có thể tham khảo: Quyết định số 01/2007/QĐ-UBDT ngày 31/5/2007 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về việc công nhận các xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao do điều chỉnh địa giới hành chính…

[10] Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật (Bộ Tự pháp) & Vụ Pháp chế (Thanh tra Chính phủ), Đề cương giới thiệu Luật Thanh tra năm 2010, Hà Nội, năm 2011, tr. 16.

[11] Địa điểm thanh tra theo Dự thảo luật xác định cũng có thể là trụ sở của cơ quan, tổ chức, đơn vị là đối tượng thanh tra, trụ sở CQTT hoặc tại nơi tiến hành kiểm tra, xác minh theo Kế hoạch tiến hành thanh tra (khoản 1 Điều 68 Dự thảo Luật).

[12] Xem thêm Điều 15 Nghị định số 110/2017/NĐ-CP ngày 04/10/2017 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của thanh tra Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội.

[13] Luật Thanh tra năm 2010 chưa ghi nhận về vấn đề này và thanh tra ngoài giờ hành chính chỉ được đề cập tại Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra (được thay thế bởi Thông tư số 06/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: