Thứ năm 30/04/2026 20:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định pháp luật về tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay

Theo quan niệm chung ở Việt Nam hiện nay, chức danh quản lý của công chức thông thường chỉ được tính từ cấp phòng (và tương đương) thuộc cấp huyện (và tương đương) trở lên. Còn tiêu chuẩn của công chức chính là các quy định, chuẩn mực đặt ra của cấp có thẩm quyền đối với từng vị trí công tác khác nhau, làm cơ sở để quản lý tốt đội ngũ công chức.

Trong hoạt động thực tiễn, các cơ quan hành chính nhà nước đều căn cứ vào tiêu chuẩn để thực hiện việc tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng… công chức. Ở một mức độ nhất định, có thể coi tiêu chuẩn công chức là nền móng để tạo nên và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức . Trước hết, đây là một trong các tiêu chí đo lường chất lượng đội ngũ công chức; mặt khác, đó còn là nhân tố tạo nên hiệu quả của tiến trình cải cách công vụ, công chức . Trên cơ sở xây dựng các chức danh, tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, từng cơ quan nhà nước sẽ rà soát lại đội ngũ công chức, đối chiếu với tiêu chuẩn để bố trí cho phù hợp.

Thông thường, tiêu chuẩn của các chức danh công chức nói chung cũng như tiêu chuẩn các chức danh quản lý của công chức nói riêng đều bao gồm: (i) Các tiêu chuẩn chung với các yêu cầu cơ bản như: Tinh thần yêu nước; bản lĩnh chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, văn hóa công sở, sức khỏe…v.v; (ii) Các tiêu chuẩn cụ thể như: Năng lực, kinh nghiệm công tác, hiểu biết, trình độ… Trong đó, công chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý phải đạt các tiêu chuẩn cao hơn phù hợp với ngạch hoặc chức danh.

Nhìn chung, trong thời gian qua, việc xây dựng tiêu chuẩn các chức danh quản lý của công chức đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú trọng; các tiêu chuẩn được xây dựng và ban hành đã bước đầu đáp ứng các yêu cầu về quản lý và sử dụng công chức, góp phần quan trọng vào việc cải cách nền hành chính nhà nước. Tuy nhiên, việc xác định tiêu chuẩn các chức danh quản lý của công chức vẫn còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc, xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, gây nên những khó khăn, cản trở nhất định đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc tuyển dụng[1], sử dụng và đánh giá công chức theo xu hướng của mô hình vị trí việc làm[2], điều đó đã một phần làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Do vậy, cùng với tiến trình cải cách nền hành chính theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thì việc tiếp tục hoàn thiện các nội dung liên quan đến chế độ công vụ, công chức nói chung, trong đó có tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức nói riêng là một trong những vấn đề đầu tiên không thể xem nhẹ.

1. Khái quát về tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta

Nhằm tạo điều kiện cho công tác quản lý cán bộ, công chức ngày càng một hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Ngay từ năm 1993, Bộ trưởng - Trưởng ban, Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) đã ban hành Quyết định số 414/TCCP-VC (ngày 29/5/1993) về tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch công chức ngành hành chính.

Sau đó, trên cơ sở Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003, ngày 17/11/2004, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 82/2004/QĐ-BNV về tiêu chuẩn Giám đốc sở và các chức vụ tương đương thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; đồng thời ban hành Quyết định số 83/2004/QĐ-BNV về tiêu chuẩn Vụ trưởng thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (thay thế Quyết định số 137/TCCP-CCVC ngày 11/7/1996 của Bộ trưởng - Trưởng ban, Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ về việc ban hành tiêu chuẩn Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và các chức vụ tương đương ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ).

Theo đó, đối với chức danh quản lý như: Vụ trưởng và các chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải đạt các tiêu chuẩn về: (i) Phẩm chất: Yêu nước, kiên định đường lối đổi mới, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng, tận tụy phục vụ nhân dân; làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, hiệu quả; cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, trung thực, thẳng thắn, có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; đoàn kết, dân chủ, chân tình với đồng nghiệp, đồng sự, được tập thể tín nhiệm; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tín nhiệm; có ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu chấp hành luật pháp và các quy định của Nhà nước, nội quy quy chế của cơ quan; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và không tham nhũng; (ii) Năng lực: Có năng lực tham mưu, tổ chức, lãnh đạo, quản lý thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành; có khả năng nghiên cứu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, hoạch định chiến lược quản lý vĩ mô và đề xuất các giải pháp, phương pháp thực hiện về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước của bộ; có năng lực điều hành, có khả năng quy tụ, đoàn kết, tổ chức cán bộ, công chức trong vụ và phối hợp với các cơ quan có liên quan, thực hiện các nhiệm vụ; (iii) Trình độ: Đạt tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ ngạch chuyên viên chính trở lên; tốt nghiệp đại học phù hợp với lĩnh vực công tác; tốt nghiệp lý luận chính trị cao cấp; tốt nghiệp quản lý hành chính nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp; thành thạo một ngoại ngữ thông dụng ở trình độ C; sử dụng thành thạo máy tính và các trang thiết bị văn phòng phục vụ cho công tác…

Sau khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có hiệu lực thi hành, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010[3] quy định những người là công chức, để tạo cơ sở về mặt pháp lý vững chắc hơn cho việc xây dựng tiêu chuẩn công chức. Bộ Nội vụ cũng như một số bộ, ngành khác đã xây dựng và ban hành một số tiêu chuẩn đối với một số chức vụ, chức danh thuộc Bộ, ngành, lĩnh vực mình quản lý như: Quyết định số 1024/QĐ-BNV ngày 19/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về ban hành tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý của Bộ Nội vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Thông tư số 13/2013/TT-BTP ngày 13/9/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành về quy định tiêu chuẩn chức danh công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự; Quyết định số 2336/QĐ-BNN-TCCB ngày 10/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn...

Ngày 02/6/2014, Bộ Nội vụ tiếp tục đề xuất, đưa ra lấy ý kiến Dự thảo Nghị định quy định về tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước[4], để trình Chính phủ xem xét, quyết định. Trong đó, Dự thảo đã kế thừa và đề xuất thêm những quy định mới, có sự mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng[5] so với Quyết định số 82/2004/QĐ-BNV và Quyết định số 83/2004/QĐ-BNV.

Chính phủ hiện đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định về các nội dung liên quan đến chức danh, tiêu chuẩn của chuyên gia cao cấp và Nghị định về chính sách thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ đội với người có tài năng trong hoạt động công vụ; trong đó có đề cập đến tiêu chuẩn của người có tài năng trong hoạt động công vụ với nhóm: (i) Lãnh đạo, quản lý; (ii) Thực thi, thừa hành. Ứng với mỗi nhóm sẽ có một hệ thống tiêu chuẩn riêng biệt và các điều kiện đặc thù của từng ngành, lĩnh vực khác nhau.

2. Một số tồn tại, hạn chế

Thứ nhất, một số tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức hiện nay còn thiếu, chưa thống nhất và chưa cụ thể

Mặc dù hệ thống các ngạch, chức danh đã được ban hành tương đối đầy đủ nhưng tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức trong các cơ quan hành chính hiện nay vẫn chưa được quy định đầy đủ, cụ thể và rõ ràng. Một số tiêu chuẩn liên quan đến yếu tố năng lực thường mang tính chung chung, rất khó để đánh giá[6] trong việc đề bạt, bổ nhiệm...

Do một số chức danh quản lý của công chức còn chưa có tiêu chuẩn chính thức nên một số cơ quan tuyển dụng đã sử dụng tiêu chuẩn chức danh quản lý này để tuyển dụng chức danh quản lý khác; “có nhiều trường hợp, cơ quan, đơn vị căn cứ vào các tiêu chuẩn Vụ trưởng hoặc Giám đốc Sở để xem xét bổ nhiệm đối với Phó Vụ trưởng hoặc Phó Giám đốc Sở”[7]. Mặt khác, một số tiêu chuẩn cụ thể của các chức danh công chức quản lý được các bộ, ngành, địa phương ban hành lại mâu thuẫn với các quy định của Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức.

Thứ hai, nhiều tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức còn mang tính “cào bằng”, một số tiêu chuẩn rất khó áp dụng trên thực tế

Đối với các chức danh công chức quản lý ở các cấp từ cấp phòng thuộc quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đến các bộ, cơ quan ngang bộ thì cũng có nhiều chức danh khác nhau, với những tính chất công việc khác nhau, thì cần phải có những năng lực cốt lõi phù hợp với thực tiễn của địa phương, đơn vị khác nhau. Nhưng việc quy định tiêu chuẩn cho các chức danh này từ trước đến nay thường mang tính “cào bằng” như nhau. Việc thi tuyển các chức danh công chức quản lý trong thời gian qua đã buộc chúng ta phải xem xét lại các quy định đã được ban hành về tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức. Thi tuyển công chức lãnh đạo với mục tiêu nhằm tuyển chọn được những công chức có phẩm chất, năng lực phù hợp đặc biệt là thu hút đội ngũ công chức trẻ tham gia, nhằm khuyến khích, phát huy tinh thần cũng như khả năng, tiềm năng của đội ngũ công chức nhà nước, đó cũng là một phương thức tạo động lực cho đội ngũ công chức trẻ phấn đấu nhiều hơn nữa trong hoạt động công vụ. Tuy nhiên, lại “đụng” ngay tiêu chuẩn: “tiêu chuẩn Vụ trưởng, Giám đốc Sở cơ bản phải có 05 năm công tác trong ngành, trong đó có ít nhất 03 năm làm công tác quản lý về lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành được giao...” Với những tiêu chuẩn này thì khó có công chức trẻ tham gia thi tuyển lãnh đạo”[8].

Trong khi đó, một số tiêu chuẩn trong dự thảo Nghị định về tiêu chuẩn chức danh của công chức lãnh đạo, quản lý có những quy định sẽ khó có tính khả thi. Ví dụ như: Thứ trưởng phải sử dụng được ít nhất 1 ngoại ngữ thông dụng như Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc đạt trình độ cao cấp bậc 6 (bậc cao nhất trong khung quy định của Việt Nam và tương đương bậc C2 theo khung tham chiếu Châu Âu hoặc có thể sử dụng được tiếng Lào, Campuchia, tiếng dân tộc thiểu số); hay quy định Giám đốc sở phải sử dụng được ít nhất một trong 05 ngoại ngữ phổ biến như Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc đạt trình độ cao cấp bậc 3 trở lên (đối với một số tỉnh, hoặc ngành có thể thay bằng tiếng Lào, Campuchia hoặc tiếng dân tộc thiểu số)[9]..., nhưng trên thực tế, ở một số địa phương hiện nay, những người giữ chức danh Giám đốc sở và tương đương lại hoàn toàn không thể sử dụng được ngoại ngữ trong giao tiếp. Như vậy, có thể thấy rằng, một số tiêu chuẩn hiện hành chưa phát huy được tác dụng còn những tiêu chuẩn mới được đề xuất như trong dự thảo Nghị định về tiêu chuẩn chức danh của công chức quản lý sẽ thiếu tính khả thi.

Thứ ba, các tiêu chuẩn còn chưa tập trung vào năng lực công tác thực tiễn của công chức quản lý

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có quy định: “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng”[10], tức là việc quản lý công chức phải căn cứ vào năng lực, tài năng thật sự. Tuy nhiên, thực tiễn lại cho thấy, các cơ quan quản lý khi thực hiện tuyển dụng, sử dụng công chức có xu hướng chỉ chú trọng vào tiêu chuẩn phẩm chất mà chưa chú ý thỏa đáng đến yếu tố năng lực thực tiễn. Thực trạng này dẫn đến tính hình thức trong việc áp dụng các tiêu chuẩn công chức. Điều đó làm cho công chức chỉ tham gia các khóa đào tạo để có đủ văn bằng, chứng chỉ theo quy định hoặc tham gia bổ sung thêm các văn bằng, chứng chỉ chỉ cho “đẹp” hồ sơ nhưng năng lực giải quyết công việc hoặc hiệu quả công tác vẫn không được nâng lên[11].

Ở rất nhiều địa phương, đơn vị hiện nay, tỷ lệ công chức giữ các chức danh quản lý có bằng chuyên môn sau đại học là khá cao, với xu hướng ngày càng tăng nhưng việc đánh giá công chức có được tiếp cận theo các tiêu chuẩn của một khung năng lực hay không mới là điều đáng bàn. Bởi lẽ, mỗi vị trí việc làm trong cơ quan, đơn vị phải dựa trên mối tương quan giữa bản mô tả công việc và khung năng lực phù hợp để hoàn thành công việc nhưng việc gắn các tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức bám chặt với thâm niên, kinh nghiệm công tác và nhất là bằng cấp như hiện nay là chưa thật sự phù hợp với xu hướng tuyển dụng, bổ nhiệm công chức quản lý theo mô hình vị trí việc làm - chủ yếu nhấn mạnh đến yếu tố năng lực thực tiễn.

3. Một số kiến nghị

Một là, việc xác định tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức phải gắn với mô hình vị trí việc làm. Để việc xác định tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức thật sự có hiệu quả thì trước tiên cần xây dựng hệ thống vị trí việc làm thật sự khoa học. “Tiêu chuẩn khi được xây dựng và ban hành phải tương đối ổn định, phù hợp với vị trí việc làm, nhằm thực hiện quan điểm đổi mới và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức gắn với tiêu chuẩn chức danh”[12]. Cần phải xác định rõ vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh công chức trong từng cơ quan của Nhà nước để làm căn cứ tuyển dụng và bố trí sử dụng cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý; tập trung vào việc “xây dựng mới tiêu chuẩn chức danh; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện, công tâm; lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chính”[13]. Do đó, trước hết cần phải hoàn thiện các quy định về việc xác định tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức phù hợp với vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế. Đây là nguyên tắc cơ bản, chủ yếu để tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức. Mỗi vị trí việc làm cần có những quy định về tiêu chuẩn cụ thể, trên cơ sở đó mới có thể thực hiện các công việc tiếp theo có hiệu quả như: Bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử, tập sự lãnh đạo, quản lý...

Hai là, các tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức phải được quy định rõ ràng, cụ thể, có thể kiểm tra, đánh giá được trên thực tế nhằm bảo đảm một cách tốt nhất tính công khai, minh bạch trong việc quản lý, sử dụng công chức nhất là trong khâu tuyển chọn và bổ nhiệm. Bên cạnh đó, cần xem xét lại tiêu chuẩn nghiệp vụ của công chức vì tiêu chuẩn nghiệp vụ hiện tại chưa gắn với vị trí công tác mà công chức đảm nhiệm, có rất nhiều trường hợp công chức giữ ngạch chuyên viên chính nhưng không giữ chức vụ gì.

Ba là, các tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức cần được quy định sao cho đảm bảo tính linh hoạt và “mềm dẻo” hơn. Tính cứng nhắc của các tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức hiện nay còn kéo dài sẽ làm lãng phí một nguồn lực rất lớn từ đội ngũ công chức trẻ, cản trở việc thu hút những người có tài năng, phẩm chất từ khu vự tư vào khu vực công. Do đó, cần có những quy định riêng đối với những trường hợp đặc biệt dành cho công chức trẻ tài năng, nổi trội cũng như những người ngoài khu vực nhà nước muốn tham gia vào nền công vụ, phục vụ nhân dân. Nếu như vẫn giữ những quy định theo kiểu “cào bằng”, đánh đồng đối với tất cả các tiêu chuẩn và đối tượng thì đối với những công chức trẻ, có năng lực thực sự vẫn sẽ vướng vấp các tiêu chuẩn về lý luận chính trị, quản lý nhà nước mang tính khắt khe, cứng nhắc... và vì thế họ sẽ không có cơ hội được tham gia vào quá trình tuyển dụng cũng như không có đủ điều kiện để được xem xét bổ nhiệm.

Ngoài ra, việc xác định tiêu chuẩn cụ thể của các chức danh quản lý của công chức hiện nay có cả công chức ở trung ương và công chức ở địa phương. Nên đối với một số tiêu chuẩn cụ thể, cần có sự cân nhắc, xem xét về mức độ phù hợp và tính khả thi với tình hình thực tế ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tùy vào những vị trí công việc cụ thể mà cần phải có những tiêu chuẩn đặc thù, với những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng như thế nào cho phù hợp.

Bốn là, các tiêu chuẩn cần gắn liền hơn với năng lực công tác thực tiễn của công chức quản lý. Xét về nội dung, tiêu chuẩn các ngạch và các chức danh lãnh đạo, quản lý đều được hình thành bởi các tiêu chuẩn từ thấp đến cao, do mức độ phức tạp và yêu cầu công việc của từng chức vụ, chức danh quy định. Kết cấu tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức phải đảm bảo các nội dung chủ yếu đó như: Chức trách, hiểu biết và yêu cầu về trình độ nhằm xác định nội dung chức trách, khối lượng kiến thức, kỹ năng và mức độ đào tạo cơ bản cần phải có[14]. Trong đó, hệ thống tiêu chuẩn chức danh của công chức quản lý cần tiếp tục được sửa đổi và bổ sung theo hướng chú trọng đến năng lực thực tiễn. Bên cạnh các tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ, rất cần thiết phải xác định các tiêu chuẩn về kỹ năng, ứng với một khung năng lực công tác cụ thể của từng vị trí lãnh đạo, quản lý, để có cơ sở xem xét, kiểm tra, đánh giá và giám sát quá trình công tác của đội ngũ công chức này.

Việc xây dựng và hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức là điều kiện quan trọng, góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác đổi mới chế độ công vụ, công chức trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta; gắn liền với việc triển khai đồng bộ các giải pháp hoàn thiện tiêu chuẩn phù hợp với mô hình vị trí việc làm, đổi mới phương thức, hình thức tuyển dụng, bổ nhiệm,... theo hướng chú trọng yếu tố năng lực, phát huy năng lực người tài, người trẻ tuổi sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nhà nước nói chung cũng như đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý nói riêng.

ThS. Trương Thế Nguyễn
Trường Chính trị tỉnh Sóc Trăng


[1] Nhất là đối với công tác tuyển dụng lãnh đạo cấp vụ, cấp sở, cấp phòng thông qua hình thức thi tuyển cạnh tranh đã được thí điểm thực hiện trong thời gian qua.

[2] Xem thêm: Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ và Thông tư số 05/2013/TT-BNV của Bộ Nội vụ về xác định vị trí việc làm...

[3] Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 hướng dẫn một số điều của Nghị định này về việc quy định những người là công chức.

[5] Chẳng hạn như: Đối với cấp bộ, dự thảo dự kiến bổ sung tiêu chuẩn chức danh bao gồm Thứ trưởng, Tổng cục trưởng, Phó Tổng cục trưởng, Phó Vụ trưởng cấp bộ, Vụ trưởng và Phó Vụ trưởng cấp tổng cục, Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng của tổ chức thuộc bộ.

Đối với cấp tỉnh, huyện, bổ sung tiêu chuẩn chức danh: Phó Giám đốc sở, Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng thuộc sở, Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng cấp huyện. Dự thảo Nghị định mới này không có quy định giới hạn “mức trần” về độ tuổi bổ nhiệm lần đầu (không quá 55 tuổi đối với nam và 50 tuổi đối với nữ”) như trong Quyết định số 82/2004/QĐ-BNV và Quyết định số 83/2004/QĐ-BNV. Dự thảo Nghị định này cũng không bắt buộc các chức danh Giám đốc sở và Phó Giám đốc sở phải tốt nghiệp đại học phù hợp với chuyên ngành công tác như trước đây...

[6] Ví dụ như: Các tiêu chuẩn về tầm nhìn, tư duy đổi mới… nếu không quy định một cách cụ thể hơn thì rất khó có thể đánh giá chính xác được.

[7] Trần Anh Tuấn, 2013, sđd, tr.188.

[8] Đinh Duy Hòa, “Đụng chạm như thi tuyển lãnh đạo”

[9] Xem Điều 6, Điều 26 Dự thảo.

[10] Xem Điều 6 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

[11] Trần Anh Tuấn, 2013, sđd, tr.194.

[12] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

[13] Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận số 37-KL/TW ngày 02/2/2009, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020.

[14] Trần Anh Tuấn, 2013, sdd, tr.196.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: