Thứ hai 07/09/2026 04:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định về những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Hệ thống chính trị cấp xã có vai trò rất quan trọng trong tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư, huy động mọi khả năng của cộng đồng để phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Trong hệ thống chính trị cấp xã thì đội ngũ cán bộ cơ sở[1] có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ ở địa phương.

Đội ngũ cán bộ cơ sở bao gồm cán bộ cấp xã, công chức cấp xã và “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”[2]. Như vậy, bên cạnh đội ngũ cán bộ cấp xã, công chức cấp xã thì còn có nhóm đối tượng quan trọng có vai trò không nhỏ trong việc hỗ trợ cùng với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương. Đó chính là “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”.

Đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã trong hệ thống chính quyền cấp cơ sở có vị trí, vai trò quan trọng, có nhiều đóng góp cho hoạt động ở địa phương. Hiện nay, mặc dù đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đã được quy định trong các văn bản quản lý nhà nước. Tuy nhiên, nhiều quy định liên quan đến họ vẫn còn những điểm chưa thống nhất, hoàn thiện. Vì vậy, đây là một vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.

1. Thực trạng các quy định về những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Thứ nhất, quy định về chức danh của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã[3]

Năm 1998 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức điều chỉnh về cán bộ, công chức trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội. Đối với cấp xã, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời đã giúp các cơ quan nhà nước có cơ sở phân định được cán bộ cấp xã, công chức cấp xã với “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”. Trên cơ sở Pháp lệnh Cán bộ, công chức, ngày 21/10/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 121/2003/NĐ-CP quy định về số lượng, chế độ, chính sách đối với cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã, chế độ đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã. Nghị định số 121/2003/NĐ-CP lần đầu tiên tách bạch “cán bộ, công chức cấp xã” với những “người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” và Nghị định này sử dụng thuật ngữ “cán bộ không chuyên trách ở cấp xã”[4] để chỉ nhóm đối tượng là những người hoạt động không chuyên trách.

Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ra đời đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xác định chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở. Tuy nhiên, Nghị định này ra đời trên cơ sở hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Do đó khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 ra đời thì Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP bãi bỏ Nghị định số 121/2003/NĐ-CP và trong Nghị định này Chính phủ sử dụng thuật ngữ “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” để phù hợp và thống nhất với Luật Cán bộ, công chức[5].

Trong các văn bản quản lý nhà nước hiện hành vẫn chưa có văn bản nào giải thích rõ ràng, đầy đủ về thuật ngữ “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”. Thiết nghĩ, “cán bộ cấp xã”, “công chức cấp xã” đã được định nghĩa thống nhất trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008, do đó Chính phủ cũng cần đưa ra quy định để xác định thống nhất khái niệm này.

Bên cạnh đó, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 cũng như Nghị định số 92/2009/NĐ-CP sử dụng thuật ngữ “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” nhưng hiện nay, trong nhiều văn bản quản lý nhà nước của trung ương cũng như trong các văn bản quản lý nhà nước của một số địa phương lại sử dụng thuật ngữ “cán bộ không chuyên trách ở cấp xã”, cá biệt có địa phương còn sử dụng thuật ngữ “cán bộ hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” hoặc sử dụng thuật ngữ “cán bộ bán chuyên trách cấp xã” để chỉ nhóm đối tượng này. Điều này đã tạo nên sự thiếu thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ để chỉ về cùng một nhóm đối tượng làm việc tại cấp xã.

Mặt khác, việc quy định cụ thể những chức danh của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã cũng chưa có sự thống nhất. Trước đây, nếu như Nghị định số 121/2003/NĐ-CP của Chính phủ liệt kê cụ thể các chức danh của nhóm đối tượng không chuyên trách[6] thì Nghị định số 92/2009/NĐ-CP không quy định cụ thể mà tạo điều kiện linh hoạt cho các địa phương quy định. Điều này mặc dù phù hợp với xu thế phân cấp, tạo sự chủ động cho địa phương, tuy nhiên chính quy định này đã dẫn đến tình trạng mỗi địa phương đưa ra những quy định về các chức danh rất khác nhau, không thống nhất với nhau. Cụ thể như chức danh của người làm công tác tuyên giáo có địa phương quy định là “Cán bộ tuyên giáo”, có địa phương lại quy định là “Trưởng ban Tuyên huấn” hoặc “Trưởng ban Tuyên giáo”; chức danh của người làm công tác tổ chức của Đảng ủy cấp xã có nơi gọi là “cán bộ tổ chức”, có nơi gọi là “Trưởng ban Tổ chức Đảng ủy”; chức danh làm công tác văn phòng Đảng ủy có nơi gọi là “Thường trực Văn phòng Đảng ủy” có nơi gọi là “cán bộ Văn phòng Đảng ủy”; chức danh làm công tác dân vận thì có nơi gọi là “Thường trực Khối dân vận”, có nơi gọi là “Trưởng ban dân vận” hoặc “cán bộ dân vận”, chức danh làm công tác kiểm tra thì có nơi gọi là “cán bộ kiểm tra” nơi gọi là “Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra”... Chúng ta rõ ràng nhận thấy rằng, việc các địa phương quy định về cùng một chức danh nhưng đưa ra cách gọi tên khác nhau là điều không cần thiết. Hơn thế nữa đây là các chức danh của những cán bộ cơ sở nằm trong hệ thống chính trị cơ sở. Do đó, khi quy định về “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” cần có quy định thống nhất về tên gọi các chức danh này để tránh sự tùy tiện trong quy định của địa phương, ảnh hưởng đến tính thống nhất trong hoạt động quản lý, điều hành.

Thứ hai, quy định về việc tuyển chọn những người hoạt động không chuyên trách cấp xã

Những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là đội ngũ dự bị của cán bộ, công chức cấp xã, là nguồn quan trọng để bổ sung, hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Họ là lực lượng luôn song hành cùng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong việc làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, trực tiếp tham gia vào các hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã là lực lượng có nhiều đóng góp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Do đó, cũng phải quan tâm đến việc tuyển dụng, bố trí các chức danh này.

Hiện nay, các chức danh không chuyên trách cấp xã có thể được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất là các chức danh không chuyên trách được tuyển chọn thông qua bầu cử (những người được bầu cử giữ chức danh), bao gồm: Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ; Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch Hội Nông dân; Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh; Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ; Chủ tịch Hội Người Cao tuổi cấp xã. Nhóm thứ hai là các chức danh không chuyên trách được tuyển chọn không thông qua bầu cử (được xét tuyển/thi tuyển vào chức danh) bao gồm các chức danh Tuyên giáo; Tổ chức; Dân vận, Văn phòng Đảng ủy, Phó Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng Công an chính quy); Phó Chỉ huy Trưởng Quân sự; các chức danh phụ trách các lĩnh vực (kinh tế, dân số, gia đình, trẻ em, văn hoá – thể dục, thể thao...).

Hiện nay, các chức danh không chuyên trách được tuyển chọn thông qua bầu cử đã được quy định trong Điều lệ, Quy chế hoạt động của Đảng và của các tổ chức chính trị - xã hội này. Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định về việc tuyển dụng, bố trí các chức danh không chuyên trách ở cấp xã không qua bầu cử. Điều này dẫn đến việc tuyển dụng, bố trí đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến nhiều chức danh không chuyên trách ở cấp xã của các địa phương có trình độ, năng lực chưa tương xứng với vị trí, vai trò theo chức danh và nhiệm vụ được giao, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở.

Thứ ba, quy định về chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Hiện nay đối với đội ngũ cán bộ cấp xã, công chức cấp xã, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành cụ thể các quy định về chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn của từng chức danh. Những quy định này là cơ sở quan trọng để đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thực hiện nhiệm vụ của mình.

Tuy nhiên, đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì Chính phủ, Bộ Nội vụ vẫn chưa ban hành những quy định cụ thể về chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh này.

Thứ tư, quy định về chế độ, chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Hiện nay chế độ, chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã được quy định cụ thể tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ[7]. Theo đó, tại khoản 1 Điều 14 Nghị định này quy định các đối tượng này chỉ hưởng chế độ phụ cấp và mức phụ cấp không vượt quá 1.0 mức lương tối thiểu chung. Trong quá trình triển khia thực hiện quy định này đã bộc lộ hạn chế, bất cập. Vì vậy, năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 08/4/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP. Theo đó, Chính phủ không quy định những người hoạt động không chuyên trách cấp xã chỉ hưởng chế độ phụ cấp và mức phụ cấp không vượt quá 1.0 mức lương tối thiểu chung như trước đây mà quy định việc khoán quỹ phụ cấp cho các chức danh này[8]. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã quy định các chức danh không chuyên trách được hưởng bảo hiểm y tế[9].

Mặt khác, trước đây những người hoạt động không chuyên trách cấp xã cũng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc[10]. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2016 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có hiệu lực thi hành thì những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã cũng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc với 02 chế độ là hưu trí và tử tuất[11]. Vì vậy, Chính phủ, Bộ Nội vụ cần có hướng dẫn thực hiện quy định về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc cho những người hoạt động không chuyên trách cấp xã.

Mặt khác, theo quy định hiện nay, ngoài mức phụ cấp hàng tháng “có tính chất như lương” thì những người hoạt động không chuyên trách cấp xã không được hưởng một số phụ cấp khác như phụ cấp chức vụ, phụ cấp theo loại xã, phụ cấp công vụ. Tuy nhiên, đối với cán bộ cấp xã, công chức cấp xã thì họ được nhận các khoản phụ cấp này[12]. Điều này cũng cần được quan tâm xem xét lại vì bản chất, tính chất công việc của nhiều chức danh không chuyên trách cấp xã nhất là các chức danh cấp phó (Phó Trưởng công an xã, Phó Chỉ huy trưởng quân sự, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Phó Bí thư đoàn thanh niên...) cũng tương đồng với các chức danh cán bộ, công chức cấp xã.

Bên cạnh đó, chúng ta vẫn chưa có các quy định về chế độ khuyến khích đối với người có trình độ đảm nhận các chức danh không chuyên trách cấp xã. Đồng thời cũng thiếu các quy định về đào tạo, bồi dưỡng cho những người hoạt động không chuyên trách cấp xã.

2. Một số kiến nghị

Từ những phân tích trên, để góp phần hoàn thiện những quy định về những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, góp phần nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở trong hệ thống chính trị cơ sở, chúng tôi có một số kiến nghị sau đây:

Thứ nhất, quy định thống nhất các chức danh của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo hướng tăng cường kiêm nhiệm

Trước hết, chúng tôi kiến nghị sử dụng thống nhất thuật ngữ “cán bộ không chuyên trách cấp xã” khi quy định về những người hoạt động không chuyên trách cấp xã trong các văn bản chính thức của nhà nước[13]. Việc sử dụng thuật ngữ “cán bộ không chuyên trách cấp xã” là phù hợp. Điều này không chỉ phù hợp với quy định trong văn bản của Đảng[14] mà còn phù hợp với tâm lý, nguyện vọng của nhóm đối tượng này. Bởi lẽ, khi sử dụng thuật ngữ “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” sẽ tạo nên tâm lý phân biệt giữa những người làm việc tại cấp xã vì cán bộ, công chức cấp xã được gọi là “cán bộ, công chức” trong khi đó nhóm đối tượng còn lại được gọi là “những người”.

Trên cơ sở lựa chọn thống nhất sử dụng thuật ngữ “cán bộ không chuyên trách cấp xã”, cơ quan có thẩm quyền cần đưa ra quy định cụ thể về cán bộ không chuyên trách cấp xã để phân biệt với cán bộ, công chức, cấp xã. Theo đó, cán bộ không chuyên trách cấp xã được xác định là những người làm việc tại các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, không phải là cán bộ, công chức cấp xã; họ không hưởng lương từ ngân sách mà chỉ hưởng khoản phụ cấp theo quy định. Cán bộ không chuyên trách cấp xã là những người chỉ tham gia việc công trong một phần thời gian lao động, trong số họ có những người được bầu cử giữ chức danh hoặc được tuyển chọn làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị cấp xã.

Vì vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung quy định về định nghĩa “cán bộ không chuyên trách cấp xã” để phân biệt với cán bộ cấp xã, công chức cấp xã như sau: “Cán bộ không chuyên trách cấp xã là công dân Việt Nam được bầu cử vào chức danh hoặc được tuyển chọn ký hợp đồng lao động vào làm việc một phần thời gian trong Đảng ủy, UBND và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội ở cấp xã, không phải là cán bộ, công chức cấp xã”.

Bên cạnh đó, chúng tôi kiến nghị quy định thống nhất tên gọi các chức danh để tránh tình trạng mỗi địa phương quy định một cách thiếu thống nhất như hiện nay. Cần có quy định cụ thể chức danh của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã theo hướng kiêm nhiệm. Để thực hiện điều này chúng tôi kiến nghị sửa đổi khoản 4 Điều 84 Luật Cán bộ, công chức thành như sau “Chính phủ quy định chức danh, khung số lượng, chế độ, chính sách đối với cán bộ không chuyên trách ở cấp xã”. Điều khoản được sửa đổi này quy định Chính phủ sẽ là cơ quan có thẩm quyền quy định về chức danh của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã để đảm bảo tính thống nhất trên cả nước.

Các địa phương căn cứ vào quy định này, ban hành văn bản thay thế quy định cũ về số lượng, chức danh của đội ngũ này theo hướng những chức danh nào trung ương đã quy định thống nhất thì triển khai thực hiện, những chức danh nào trung ương xác định là các chức danh đặc thù thì căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương quy định chức danh cho phù hợp. Việc quy định thống nhất các chức danh sẽ góp phần tạo ra sự thống nhất trong hoạt động quản lý nhà nước, bên cạnh đó việc quy định thống nhất các chức danh sẽ góp phần tạo ra đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách với những chức danh phù hợp với thực tiễn, là cơ sở quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ này.

Mặt khác, các cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn thống nhất việc thực hiện kiêm nhiệm các chức danh không chuyên trách cấp xã. Bởi lẽ, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở, trong đó xác định: “Tăng cường kiêm nhiệm công việc, khoán quỹ phụ cấp để giảm dần số lượng những người hoạt động không chuyên trách gắn với việc tăng thu nhập của cán bộ công chức cấp xã”. Do đó Chính phủ có thể bổ sung quy định “các chức danh cán bộ không chuyên trách cấp xã có thể được kiêm nhiệm” và hướng dẫn cụ thể việc kiêm nhiệm này, kèm theo quy định, hướng dẫn về chế độ phụ cấp cho việc thực hiện kiêm nhiệm này. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc tiết kiệm nguồn ngân sách hiện có để nâng cao mức chi trả phụ cấp cho đội ngũ này và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

Thứ hai, xây dựng và pháp lý hóa quy trình tuyển chọn những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là đội ngũ dự bị của cán bộ và công chức cấp xã nên việc tuyển dụng cần tính đến độ tuổi, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất, năng lực của nhóm đối tượng này. Các chức danh khối Đảng, đoàn thể cần cán bộ có năng lực, kinh nghiệm lãnh đạo, công tác vận động quần chúng, công tác tôn giáo…; các chức danh còn lại phải có trình độ quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ phù hợp các lĩnh vực công tác của cấp xã. Vì vậy, cần xây dựng quy định và pháp lý hóa quy trình tuyển chọn những người hoạt động không chuyên trách cấp xã để lựa chọn được những người đủ phẩm chất, năng lực. Do đó, chúng tôi kiến nghị ban hành quy định về tuyển chọn các chức danh này.

Việc tuyển chọn những người hoạt động không chuyên trách thông qua bầu cử dựa trên quy trình nhân sự, bầu cử của Trung ương và Điều lệ của tổ chức đối với từng chức danh[15]. Các chức danh này được quy định trong Điều lệ hoạt động của các tổ chức này. Vì vậy cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội này hướng dẫn quy trình thống nhất để bầu ra những cán bộ tiêu biểu của tổ chức để trở thành những người hoạt động không chuyên trách cấp xã.

Đặc biệt, đối với các chức danh không chuyên trách không thông qua bầu cử, thì Chính phủ, Bộ Nội vụ cần ban hành quy định về tiêu chuẩn, xây dựng quy trình tuyển chọn các chức danh này qua xét tuyển (hoặc về lâu dài có thể tổ chức thi tuyển). Chúng tôi đề xuất trước mắt có thể quy định việc xét tuyển các chức danh này trên cơ sở thành lập Hội đồng xét tuyển để tuyển chọn. Theo đó Hội đồng xét tuyển những người hoạt động không chuyên trách thuộc khối Đảng[16] có thể do Bí thư Đảng uỷ cấp xã làm Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng tuyển chọn những người hoạt động không chuyên trách thuộc khối chính quyền[17] có thể do Chủ tịch UBND cấp xã làm Chủ tịch Hội đồng.Căn cứ vào quy định về tiêu chuẩn và năng lực của từng chức danh Hội đồng tuyển chọn lựa chọn những người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn giữ các chức danh và có biên bản gửi UBND cấp xã. Căn cứ biên bản của Hội đồng tuyển chọn, Chủ tịch UBND cấp xã có văn bản đề nghị UBND cấp huyện quyết định bổ nhiệm người giữ chức danh Phó Trưởng Công an, Chỉ huy phó Ban Chỉ huy quân sự cấp xã sau khi thống nhất với Trưởng Công an, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện và gửi kết quả đến Chủ tịch UBND cấp xã. Đề nghị UBND cấp huyện thẩm định, phê duyệt số lượng, tiêu chuẩn của các chức danh còn lại và gửi kết quả thẩm định, phê duyệt đến UBND cấp xã. Căn cứ văn bản thẩm định, quyết định, Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện ký hợp đồng lao động đối với những người hoạt động không chuyên trách.

Thứ ba, nghiên cứu ban hành quy định về chế độ làm việc của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Hiện nay các quy định pháp lý hiện hành chỉ mới quy định đội ngũ cán bộ, công chức làm việc theo giờ hành chín 8 giờ/ngày. Tuy nhiên đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã thì vẫn chưa có quy định nào về chế độ, giờ giấc làm việc của nhóm đối tượng này. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ngày 18/3/2002 về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã kết luận “cán bộ không chuyên trách chỉ tham gia việc công trong một phần thời gian lao động”. Do đó, Chính phủ cần ban hành quy định về thời gian làm việc cho đội ngũ này cho phù hợp.

Việc ban hành quy định về chế độ làm việc của đội ngũ này là sự cụ thể hóa của cơ quan nhà nước những vấn đề đã được kết luận tại Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX. Hiện nay, một số địa phương quy định những người hoạt động không chuyên trách làm việc giống như cán bộ công chức cấp xã là không phù hợp, ví dụ như Quyết định số 39/2012/QĐ-UBND ngày 11/9/2012 của UBND tỉnh Bình Dương về quy định về chế độ quản lý cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tỉnh Bình Dương trong đó quy định “Thời gian làm việc theo quy định của Nhà nước: Tuần làm việc 40 giờ (5 ngày). Ngoài ra, khi có yêu cầu, cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã phải chấp hành sự phân công làm thêm ngày thứ bảy hoặc ngoài giờ”. Quy định này là không phù hợp, do đó, Chính phủ cần ban hành quy định về thời gian làm việc của những người hoạt động không chuyên trách để đảm bảo những quy định về thời gian làm việc phù hợp với các quan điểm chỉ đạo của Đảng, phù hợp với tính chất lao động của nhóm đối tượng này.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện các quy định về chính sách cho những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Hoàn thiện chính sách liên quan đến những người hoạt động không chuyên trách cấp xã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cơ sở, nhằm tạo động lực thật sự cho đối tượng này trong hoạt động. Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương cải cách đồng bộ hệ thống chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức, đặc biệt là đội ngũ cấp cơ sở, việc cải cách phải tiến hành đồng bộ nhưng trước hết là cải cách mạnh mẽ chính sách tiền lương. Theo đó, chính sách tiền lương, phụ cấp phải hợp lý nhằm góp phần thực sự có tác dụng khuyến khích để họ luôn nâng cao trình độ, năng lực công tác và động cơ làm việc.

Do đó, việc nghiên cứu xây dựng chế độ liên quan đến tiền lương, phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là một vấn đề mang tính cần thiết về lâu dài nhất thiết phải tiến hành. Ở đây chúng tôi kiến nghị xem xét chuyển quy định “phụ cấp” cho những người hoạt động không chuyên trách thành “lương” để đảm bảo sự công bằng vì khi quy định “lương” thì theo thời gian làm việc “lương” này sẽ tăng theo hệ số của thang, bảng lương được nhưng khi quy định phụ cấp thì sau thời gian làm việc phụ cấp của các chức danh này vẫn không được tăng. Trước mắt, khi chưa xây dựng chế độ tiền lương cho đội ngũ này thì trên cơ sở quỹ phụ cấp được khoán có thể nghiên cứu xây dựng quy định về thang hệ số phụ cấp cho các chức danh, theo hướng sau thời gian công tác thì mức phụ cấp của các chức danh này có thể tăng lên theo mức hệ số tương ứng.

Ngoài ra, chúng tôi cũng kiến nghị nghiên cứu xem xét quy định các chức danh không chuyên trách cũng được hưởng phụ cấp chức vụ, phụ cấp theo loại xã và phụ cấp công vụ. Bởi lẽ nhiều chức danh có tính chất công việc như đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, trong khi đó đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được hưởng các khoản phụ cấp này. Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định về chính sách liên quan đến lương, phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cần quan tâm tiếp tục hoàn thiện các quy định về bảo hiểm xã hội, các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cho các chức danh này.

Thứ năm, nghiên cứu bổ sung quy định ưu tiên tuyển dụng và quy định việc xét tuyển chuyển những người không chuyên trách ở cấp xã thành cán bộ, công chức cấp xã

Đội ngũ những hoạt động không chuyên trách cấp xã là một bộ phận của đội ngũ cán bộ cơ sở, có vai trò và vị trí quan trọng trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Thực tế cho thấy đội ngũ này là lực lượng song hành cùng với đội ngũ cán bộ cấp xã, công chức cấp xã trong thực hiện nhiệm vụ.

Thực tế cho thấy, sau thời gian công tác, rèn luyện nếu có nhu cầu cần bổ sung đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thì chính quyền các cấp có thể tìm nguồn bổ sung từ chính lực lượng những người hoạt động không chuyên trách. Việc lựa chọn lực lượng những người hoạt động không chuyên trách làm nguồn bổ sung cho các chức danh cán bộ, công chức cấp xã có ý nghĩa quan trọng vì đội ngũ này trong quá trình công tác ở địa phương sẽ nắm bắt rõ những vấn đề thực tế phát sinh tại địa phương. Hơn thế nữa, trong quá trình giải quyết công việc cùng với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thì lực lượng những người hoạt động không chuyên trách cũng đã tích lũy, học hỏi nhiều kinh nghiệm phục vụ có hiệu quả cho công việc.

Chính vì vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung quy định xem xét ưu tiên những người hoạt động không chuyên trách cấp xã trong tuyển dụng làm công chức cấp xã; xem xét bổ sung quy định xét tuyển chuyển những người không chuyên trách cấp xã thành cán bộ, công chức cấp xã khi hệ thống chính trị cấp cơ sở có nhu cầu tuyển dụng cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã đáp ứng tiêu chuẩn của chức danh cần tuyển dụng.

3. Kết luận

Đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách cấp xã là một bộ phận không tách rời độ ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở, đội ngũ này là lực lượng quan trọng cùng với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp đưa chủ trương, quan điểm của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống. Do đó nếu được quan tâm đúng mức, đội ngũ này sẽ có đóng góp tích cực trong việc cùng với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tham mưu cho lãnh đạo, chính quyền địa phương thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tại địa phương.

Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải đi liền xây dựng đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách cấp xã để có thể xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân. Thiết nghĩ việc hoàn thiện những quy định liên quan đến những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã là cần thiết, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị cấp cơ sở trong giai đoạn hiện nay.

ThS. Nguyễn Đặng Phương Truyền
Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh


[1] Cán bộ cơ sở là thuật ngữ dùng để chỉ đội ngũ cán bộ cấp xã, công chức cấp xã và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã.

[2] Tác giả sử dụng thuật ngữ “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” trong bài viết này theo cách gọi chính thức trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

[3] Xem thêm bài viết “Xác định chức danh của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, Nguyễn Đặng Phương Truyền, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 16(272), tháng 8/2014, tr47-52.

[4] Xem khoản 3 điều 8 Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ.

[5]Thuật ngữ “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” được đề cập chính thức lần đầu tiên trong Luật Cán bộ, công chức tại khoản 4 Điều 84 “Chính phủ quy định khung số lượng, chế độ, chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”. Cụ thể hóa quy định này Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách, đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

[6] Nghị định số 121/2003/NĐ-CP liệt kê cụ thể các chức danh cán bộ không chuyên trách cấp xã bao gồm: “Trưởng Ban Tổ chức đảng, Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và 01 cán bộ Văn phòng Đảng ủy; Phó Trưởng công an ( nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Phó Chỉ huy trưởng quân sự; Cán bộ kế hoạch - giao thông - thủy lợi - nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; Cán bộ lao động - thương binh và xã hội; Cán bộ dân số - gia đình và trẻ em; Thủ quỹ - văn thư - lưu trữ; Cán bộ phụ trách đài truyền thanh; Cán bộ quản lý nhà văn hóa; Phó Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc; Phó các đoàn thể cấp xã : Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh; Chủ tịch Hội Người cao tuổi; Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam”.

[7] Nghị định này được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 08/4/2013.

[8] Cấp xã loại 1 được khoán quỹ phụ cấp bằng 20,3 tháng lương tối thiểu chung; Cấp xã loại 2 được khoán quỹ phụ cấp bằng 18,6 tháng lương tối thiểu chung; Cấp xã loại 3 được khoán quỹ phụ cấp bằng 17,6 tháng lương tối thiểu chung.

[9] Xem khoản 3, điều 1 Nghị định số 29/2013/NĐ-CP.

[10] Xem khoản 2 Điều 14 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP.

[11] Xem điểm i, khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[12]Theo Điều 7 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP thì phụ cấp chức vụ được quy định như sau: Bí thư đảng uỷ: 0,30; Phó Bí thư đảng uỷ, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND: 0,25; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND: 0,20; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh: 0,15. Theo Điều 9 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP thì phụ cấp theo loại xã chỉ áp dụng đối với cán bộ cấp xã (không áp dụng đối với công chức), xã loại 1 hưởng mức phụ cấp 10%, xã loại 2 hưởng mức phụ cấp 5% mức lương hiện hưởng.

[13] Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước XHCN và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội (tài liệu Bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp khối Đảng, Đoàn thể năm 2013).

[14] Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ngày 18/3/2002 về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn xác định hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách.

[15] Các chức danh Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra, Phó chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Nông dân, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ, Chủ tịch Hội Người cao tuổi.

[16] Các chức danh không chuyên trách thuộc khối Đảng như: cán bộ tuyên giáo; cán bộ tổ chức; cán bộ dân vận; cán bộ Văn phòng Đảng ủy…

[17] Chức danh không chuyên trách thuộc khối chính quyền bao gồm Phó Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng Công an chính quy), Phó Chỉ huy trưởng Quân sự; các chức danh phụ trách các lĩnh vực (kinh tế, dân số, gia đình, trẻ em, văn hoá – thể dục, thể thao,...)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.

Theo dõi chúng tôi trên: