Thứ năm 08/10/2026 08:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm trong Bộ Luật Tố tụng hình sự

Tóm tắt: Bài viết đề cập tới một số hạn chế, bất cập trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm, từ đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Abstract: The article mentions some limitations and inadequacies in the Penal Code of 2015, particularly in the regulations on criminal trial in first instance and from this to propose amendments and completion of regulations on criminal trial in first instance.

Phiên tòa hình sự sơ thẩm là hình thức tố tụng của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Phiên tòa hình sự sơ thẩm là nơi mà các bên thực thi chức năng tố tụng của mình một cách công khai và đầy đủ nhất. Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là người thực hiện chức năng buộc tội - thực hành quyền công tố trước phiên tòa. Bị cáo và người bào chữa của họ là bên thực hành chức năng bào chữa trong sự bảo hộ đầy đủ của pháp luật tố tụng. Và cuối cùng, Tòa án sẽ nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét xử, là chủ thể phán xét, xác định bị cáo có tội hay không có tội cũng như áp dụng loại và mức hình phạt cụ thể trong trường hợp bị cáo có tội. Bản chất của hoạt động xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm chính là sự kiểm tra kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong các giai đoạn tố tụng trước đó. Việc xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm được thực hiện một cách công bằng, khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật sẽ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Ngược lại, nếu việc xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm không chính xác, không công bằng, không khách quan sẽ có thể dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, gây oan sai cho người vô tội, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tính nghiêm minh của pháp luật cũng như trật tự xã hội.

Để đảm bảo hiệu quả của công tác xét xử sơ thẩm hình sự, đòi hỏi quy định pháp luật về trình tự, thủ tục xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm phải rõ ràng, cụ thể, bao quát được các tình huống có thể xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, dù đã được sửa đổi, bổ sung bởi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nhưng những quy định pháp luật về phiên tòa hình sự sơ thẩm vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, dẫn đến việc xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, việc đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về phiên tòa hình sự sơ thẩm là nhu cầu cấp thiết hiện nay.

1. Một số bất cập của pháp luật về phiên tòa hình sự sơ thẩm

Một là, thủ tục bắt đầu phiên tòa

Đây là phần mở đầu của phiên tòa xét xử được quy định từ Điều 300 đến Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thủ tục bắt đầu phiên tòa được mở đầu bằng việc chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa rồi đọc Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Sau khi thư ký báo cáo danh sách những người có mặt, vắng mặt tại phiên tòa thì tùy theo lý do vắng mặt có chính đáng hay không mà hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử hay hoãn phiên tòa. Thủ tục bắt đầu phiên tòa theo quy định hiện hành là khá rõ ràng, cụ thể và hợp lý. Tuy nhiên, Điều 303, Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trách nhiệm cam đoan làm tròn nhiệm vụ, khai trung thực của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người làm chứng nhưng chưa rõ ràng, vì vậy, cần quy định cụ thể hơn về thủ tục, hình thức thực hiện cam đoan như tuyên thệ trước Tòa án hay ký xác nhận cam đoan... nhằm nâng cao trách nhiệm tôn trọng sự thật của các chủ thể này.

Hai là, thủ tục tranh tụng tại phiên tòa

Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa bao gồm thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, được quy định từ Điều 306 đến Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thủ tục xét hỏi được mở đầu bằng việc kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày những ý kiến bổ sung, nếu có. Sau đó, hội đồng xét xử sẽ để cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến của mình về bản cáo trạng và các tình tiết của vụ án rồi mới hỏi thêm về những điểm nào đó mà họ trình bày chưa đủ hoặc có mâu thuẫn. Sau khi kết thúc việc xét hỏi, phiên tòa hình sự sơ thẩm sẽ chuyển sang thủ tục tranh luận. Kiểm sát viên trình bày lời luận tội của mình, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung của cáo trạng hay rút bớt một phần nội dung truy tố của cáo trạng hoặc kết luận bị cáo phạm tội nhẹ hơn, đồng thời đề nghị loại hình phạt, mức hình phạt cũng như các biện pháp tư pháp khác. Sau lời luận tội của kiểm sát viên, bị cáo hoặc người bào chữa cho bị cáo sẽ trình bày lời bào chữa, bị cáo có quyền trình bày ý kiến bổ sung vào lời bào chữa. Tiếp theo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ lần lượt được trình bày ý kiến về việc luận tội của kiểm sát viên và đưa ra các đề nghị để bảo vệ quyền lợi của mình, cũng như nếu có người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì người này được quyền đề nghị, trình bày ý kiến của mình đối với lời luận tội và ý kiến để bảo vệ quyền lợi cho người mà mình nhận bảo vệ. Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến, người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, chủ tọa phiên tòa không hạn chế thời gian tranh luận và phải tạo điều kiện thuận lợi để cho những người tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến của mình, nhưng chủ tọa có quyền cắt những ý kiến không liên quan hoặc những ý kiến trùng lặp đã được đối đáp rồi. Đồng thời, chủ tọa cũng có quyền yêu cầu kiểm sát viên phải đối đáp lại những ý kiến yêu cầu của người bào chữa hoặc của những người tham gia tố tụng khác nếu như những ý kiến đó chưa được tranh luận. Đây là quy định mới được bổ sung nhằm đảm bảo cho việc xét xử được công bằng dân chủ, đáp ứng yêu cầu tranh tụng mà chiến lược cải cách tư pháp đã đề ra. Quy định này góp phần khắc phục những tồn tại trước đây khi tranh luận, nhiều trường hợp kiểm sát viên không đưa ra được những lập luận để phản bác với ý kiến của bị cáo, của người bào chữa cho bị cáo hoặc của những người khác, không đối đáp mà chỉ trả lời giữ nguyên ý kiến luận tội hoặc giữ nguyên quyết định truy tố. Tuy nhiên, quy định về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm vẫn còn một số bất cập sau đây:

- Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Chủ tọa phiên tòa phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem ai có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không”. Quy định này nhằm bảo đảm sự bình đẳng trước Tòa án giữa đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc giải quyết các yêu cầu, cung cấp nguồn chứng cứ cũng như đưa ra chứng cứ trực tiếp. Tuy nhiên, yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét chỉ được giải quyết khi tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa nhưng lại không được quy định trong phần thủ tục tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, khi vụ án đang tiến hành thủ tục tranh tụng mà người tham gia tố tụng muốn yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét thì lại không có căn cứ để hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu.

- Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Tòa án có thể vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng và khi tiến hành xét hỏi thì hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, trong trường hợp chứng cứ được công bố trong lời khai của người làm chứng mâu thuẫn với các chứng cứ mà Tòa án thu được trực tiếp tại phiên tòa mà việc giải quyết được mâu thuẫn đòi hỏi phải triệu tập thêm người làm chứng. Nếu kiểm sát viên hoặc người tham gia tố tụng có yêu cầu thì yêu cầu này sẽ không thể được chấp nhận, vì việc giải quyết yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét chỉ tiến hành ở phần thủ tục bắt đầu phiên tòa.

- Theo quy định tại Điều 302 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì việc thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký phiên tòa, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật chỉ được đặt ra tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa. Trong trường hợp căn cứ để thay đổi những người nêu trên đã xuất hiện từ thủ tục bắt đầu phiên tòa nhưng đến khi phiên tòa chuyển sang thủ tục tranh tụng, thì những người có quyền đề nghị mới phát hiện có các căn cứ này đề nghị thay đổi. Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 lại không quy định về việc cho phép trở lại phần thủ tục mà chỉ cho phép trở lại phần xét hỏi (Điều 323 Bộ luật Tố tụng hình sự) được quy định ở phần thủ tục tranh tụng, như vậy có thể ảnh hưởng quyền của bị cáo và ảnh đến chất lượng xét xử.

- Theo quy định hiện hành, thì việc xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện chủ yếu bởi hội đồng xét xử. Việc xét hỏi nhằm làm rõ những tình tiết dùng làm chứng cứ để truy tố bị cáo lại không phải là nhiệm vụ chính của Viện kiểm sát mà phụ thuộc vào hội đồng xét xử. Quy định như trên là không hợp lý, vì Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội nên tại phiên tòa, kiểm sát viên phải thực hiện việc xét hỏi để bảo vệ sự buộc tội đó, người bào chữa thực hiện chức năng gỡ tội, nên họ được thực hiện việc xét hỏi để bào chữa cho bị cáo. Trong khi đó, Tòa án đóng vai trò “trung gian”, chỉ xét xử và ra phán quyết trong phạm vi giới hạn của sự buộc tội. Vì vậy, trách nhiệm xác định các tình tiết buộc tội thuộc về Viện kiểm sát; trách nhiệm xác định các tình tiết gỡ tội thuộc về người bào chữa bị cáo; trách nhiệm xác định đầy đủ, khách quan các tình tiết buộc tội cũng như gỡ tội thuộc về Tòa án. Cho nên, khi tiến hành thủ tục xét hỏi, hội đồng xét xử chỉ lắng nghe và chủ tọa phiên tòa chỉ giữ quyền điều hành phiên tòa, quyết định cho ai hỏi ai, duy trì thời gian hỏi và có quyền cắt các ý kiến các câu hỏi không đúng trọng tâm. Hội đồng xét xử không được có những lời lẽ khẳng định hay phủ định bất cứ một vấn đề nào mà các bên tham gia tranh tụng nêu ra, cũng như không được đánh giá, nhận xét đúng sai ngay tại phiên tòa. Bởi lẽ, chức năng của Tòa án là xét xử thông qua việc xét hỏi, nghe các bên tranh luận, hội đồng xét xử sẽ đưa ra phán quyết bằng bản án nêu rõ hành vi của bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Việc hội đồng xét xử thể hiện quan điểm ngay tại phiên tòa sẽ ảnh hưởng đến việc tranh tụng giữa các bên, làm giảm hiệu quả tranh luận.

Ba là, thủ tục nghị án và tuyên án

Theo quy định tại Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Chỉ có thẩm phán và hội thẩm mới có quyền nghị án…” và “…các thành viên của hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề một…”. Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn chưa quy định cụ thể về trường hợp nghị án nhưng không đạt được kết quả đa số như luật định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “... Nếu không có ý kiến nào chiếm đa số thì phải thảo luận và biểu quyết lại từng ý kiến của các thành viên hội đồng xét xử đã đưa ra để xác định ý kiến chiếm đa số...”. Như vậy, trong trường hợp đã biểu quyết lại nhưng các thành viên của hội đồng xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm, thì vẫn chưa có phương án cụ thể để giải quyết. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 7 Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì hội đồng xét xử có quyền ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 18 và Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”. Việc quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của hội đồng xét xử hiện nay là không hợp lý vì những lý do sau đây:

- Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, thì Tòa án có hai chức năng là: Chức năng xét xử và chức năng thực hiện quyền tư pháp, trong khi đó, chức năng khởi tố vụ án hình sự không phải là nội dung của một trong hai chức năng này; đó là một nội dung trong chức năng buộc tội. Theo quy định hiện hành, Tòa án không được thực hiện chức năng buộc tội.

- Quy định cho phép Tòa án khởi tố vụ án sẽ không đảm bảo tính độc lập, khách quan của Tòa án trong việc giải quyết vụ án. Việc pháp luật tố tụng hình sự cho phép Tòa án phát động tố tụng (khởi tố vụ án) sau đó cũng chính Tòa án là chủ thể có thẩm quyền xét xử vụ án đó thì yếu tố độc lập, khách quan của Tòa án sẽ khó được đảm bảo.

- Thực tiễn cho thấy, Tòa án hiếm khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nên quy định này hầu như ít được thực hiện trên thực tế. Nếu Tòa án muốn ra được quyết định khởi tố vụ án hình sự, thì Tòa án cần phải tiến hành hoạt động kiểm tra, xác minh các thông tin về tội phạm để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không. Việc này đòi hỏi phải có thời gian và phải tiến hành nhiều hoạt động khác nhau, có thể là những hoạt động rất phức tạp để củng cố hồ sơ, chứng cứ, tài liệu. Hơn nữa, việc quyết định khởi tố cũng rất khó chính xác nếu chưa kiểm tra, xác minh lại những thông tin về tội phạm và người phạm tội mới chỉ được phản ánh qua lời khai của người tham gia tố tụng hoặc những tài liệu đã có trong hồ sơ, thì việc kiểm tra xác minh lại các thông tin này bằng các hoạt động ngoài phiên tòa cũng khiến việc đưa ra quyết định khởi tố vụ án khó khăn hơn.

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án, như vậy, sau khi hội đồng xét xử đã ra quyết định khởi tố vụ án, sau khi điều tra thấy không có căn cứ khởi tố theo quy định Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì ai là người sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, vì thẩm quyền của hội đồng xét xử vụ án đó đã kết thúc sau khi tuyên án.

2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về phiên tòa sơ thẩm hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp mà Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra là: Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Để thực hiện được nhiệm vụ nêu trên, thì việc hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự về phiên tòa hình sự sơ thẩm là vấn đề được ưu tiên thực hiện hàng đầu. Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, quy định cụ thể về trách nhiệm cam đoan làm tròn nhiệm vụ, khai trung thực của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người làm chứng tại Điều 303 và Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới thì việc cam đoan làm tròn nhiệm vụ, khai trung thực của những người nêu trên phải được thể hiện bằng văn bản và được đọc trực tiếp tại phiên tòa. Do đó, nhằm cụ thể hơn nữa trách nhiệm cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người làm chứng để nâng cao trách nhiệm tôn trọng sự thật của những chủ thể này, tác giả đề xuất việc cam đoan phải được thể hiện bằng văn bản, có chữ ký xác nhận của người cam đoan và phải được họ đọc trực tiếp tại phiên tòa trước khi làm nhiệm vụ. Văn bản cam đoan phải có nội dung sau: (i) Cam đoan của người làm chứng: “Tôi cam đoan tôi sẽ nói sự thật, toàn bộ sự thật và không phải là cái gì khác ngoài sự thật mà tôi được biết, nếu có điều gì sai trái trong lời nói của tôi, tôi sẽ chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật”; (ii) Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản: “Tôi cam đoan tôi sẽ làm tròn nhiệm vụ được giao, nếu có điều gì sai sót, tôi sẽ chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật”.

Thứ hai, sửa đổi các quy định về thủ tục xét hỏi theo hướng Tòa án chỉ là nơi phân xử, quyết định của hội đồng xét xử dựa trên kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa

Theo quan điểm của tác giả, thì trình tự xét hỏi quy định tại Điều 307 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần sửa đổi theo hướng: Kiểm sát viên xét hỏi trước, tiếp theo là người bào chữa, người bảo vệ quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tiến hành xét hỏi. Kiểm sát viên hỏi về các tình tiết liên quan đến việc buộc tội; người bào chữa hỏi về các tình tiết liên quan đến việc gỡ tội; người bảo vệ quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà mình bảo vệ. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác xét hỏi về những tình tiết có liên quan đến mình. Nếu thấy tình tiết có mâu thuẫn thì hội đồng xét xử có quyền trực tiếp xét hỏi để làm rõ mâu thuẫn giữa các tình tiết. Khoản 2 Điều 307 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần được sửa đổi như sau: “Khi xét hỏi từng người, kiểm sát viên hỏi trước rồi đến người bào chữa, người bảo vệ quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền xét hỏi về những tình tiết có liên quan đến mình. Sau khi các bên hỏi xong, chủ tọa phiên tòa và các thành viên hội đồng xét xử có quyền hỏi nếu thấy có tình tiết mâu thuẫn”.

Thứ ba, bổ sung các quy định về việc cho phép triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét; cho phép đưa ra yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký phiên tòa, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật khi tiến hành tố tụng trong bất kỳ giai đoạn nào tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì các yêu cầu nói trên chỉ được quy định tại thủ tục bắt đầu phiên tòa. Vì vậy, nếu các yêu cầu này phát sinh sau khi phiên tòa đã chuyển sang thủ tục tranh tụng thì những người có quyền đề nghị sẽ không có các căn cứ để thực hiện các yêu cầu nói trên. Các yêu cầu liên quan đến triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký phiên tòa, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như đảm bảo sự khách quan, vô tư của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Vì vậy, tác giả kiến nghị bổ sung quy định như sau: “Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định mọi yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét và mọi đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ”.

Thứ tư, bãi bỏ quy định cho phép Hội đồng xét xử quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm

Quy định về việc hội đồng xét xử có thẩm quyền khởi tố vụ án trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về chức năng của Tòa án, không đảm bảo tính độc lập, khách quan của Tòa án trong việc giải quyết vụ án cũng như phù hợp với thực tiễn khi hội đồng xét xử hầu như không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trên thực tế .

ThS. Lê Thanh Phong

Tòa án nhân dân Quận 7, TP. Hồ Chí Minh

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm mua bán người trong bối cảnh hội nhập quốc tế Một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay Đưa Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vào cuộc sống theo lời Bác Hồ Một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Luật Hợp tác xã Những vấn đề cần chứng minh trong tố tụng hành chính Công tác phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-Pu-Chia đánh bạc thực trạng và giải pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: