Thứ ba 21/04/2026 23:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm trong Bộ Luật Tố tụng hình sự

Tóm tắt: Bài viết đề cập tới một số hạn chế, bất cập trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm, từ đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Abstract: The article mentions some limitations and inadequacies in the Penal Code of 2015, particularly in the regulations on criminal trial in first instance and from this to propose amendments and completion of regulations on criminal trial in first instance.

Phiên tòa hình sự sơ thẩm là hình thức tố tụng của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Phiên tòa hình sự sơ thẩm là nơi mà các bên thực thi chức năng tố tụng của mình một cách công khai và đầy đủ nhất. Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là người thực hiện chức năng buộc tội - thực hành quyền công tố trước phiên tòa. Bị cáo và người bào chữa của họ là bên thực hành chức năng bào chữa trong sự bảo hộ đầy đủ của pháp luật tố tụng. Và cuối cùng, Tòa án sẽ nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét xử, là chủ thể phán xét, xác định bị cáo có tội hay không có tội cũng như áp dụng loại và mức hình phạt cụ thể trong trường hợp bị cáo có tội. Bản chất của hoạt động xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm chính là sự kiểm tra kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong các giai đoạn tố tụng trước đó. Việc xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm được thực hiện một cách công bằng, khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật sẽ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Ngược lại, nếu việc xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm không chính xác, không công bằng, không khách quan sẽ có thể dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, gây oan sai cho người vô tội, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tính nghiêm minh của pháp luật cũng như trật tự xã hội.

Để đảm bảo hiệu quả của công tác xét xử sơ thẩm hình sự, đòi hỏi quy định pháp luật về trình tự, thủ tục xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm phải rõ ràng, cụ thể, bao quát được các tình huống có thể xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, dù đã được sửa đổi, bổ sung bởi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nhưng những quy định pháp luật về phiên tòa hình sự sơ thẩm vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, dẫn đến việc xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, việc đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về phiên tòa hình sự sơ thẩm là nhu cầu cấp thiết hiện nay.

1. Một số bất cập của pháp luật về phiên tòa hình sự sơ thẩm

Một là, thủ tục bắt đầu phiên tòa

Đây là phần mở đầu của phiên tòa xét xử được quy định từ Điều 300 đến Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thủ tục bắt đầu phiên tòa được mở đầu bằng việc chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa rồi đọc Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Sau khi thư ký báo cáo danh sách những người có mặt, vắng mặt tại phiên tòa thì tùy theo lý do vắng mặt có chính đáng hay không mà hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử hay hoãn phiên tòa. Thủ tục bắt đầu phiên tòa theo quy định hiện hành là khá rõ ràng, cụ thể và hợp lý. Tuy nhiên, Điều 303, Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trách nhiệm cam đoan làm tròn nhiệm vụ, khai trung thực của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người làm chứng nhưng chưa rõ ràng, vì vậy, cần quy định cụ thể hơn về thủ tục, hình thức thực hiện cam đoan như tuyên thệ trước Tòa án hay ký xác nhận cam đoan... nhằm nâng cao trách nhiệm tôn trọng sự thật của các chủ thể này.

Hai là, thủ tục tranh tụng tại phiên tòa

Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa bao gồm thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, được quy định từ Điều 306 đến Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thủ tục xét hỏi được mở đầu bằng việc kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày những ý kiến bổ sung, nếu có. Sau đó, hội đồng xét xử sẽ để cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến của mình về bản cáo trạng và các tình tiết của vụ án rồi mới hỏi thêm về những điểm nào đó mà họ trình bày chưa đủ hoặc có mâu thuẫn. Sau khi kết thúc việc xét hỏi, phiên tòa hình sự sơ thẩm sẽ chuyển sang thủ tục tranh luận. Kiểm sát viên trình bày lời luận tội của mình, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung của cáo trạng hay rút bớt một phần nội dung truy tố của cáo trạng hoặc kết luận bị cáo phạm tội nhẹ hơn, đồng thời đề nghị loại hình phạt, mức hình phạt cũng như các biện pháp tư pháp khác. Sau lời luận tội của kiểm sát viên, bị cáo hoặc người bào chữa cho bị cáo sẽ trình bày lời bào chữa, bị cáo có quyền trình bày ý kiến bổ sung vào lời bào chữa. Tiếp theo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ lần lượt được trình bày ý kiến về việc luận tội của kiểm sát viên và đưa ra các đề nghị để bảo vệ quyền lợi của mình, cũng như nếu có người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì người này được quyền đề nghị, trình bày ý kiến của mình đối với lời luận tội và ý kiến để bảo vệ quyền lợi cho người mà mình nhận bảo vệ. Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến, người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, chủ tọa phiên tòa không hạn chế thời gian tranh luận và phải tạo điều kiện thuận lợi để cho những người tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến của mình, nhưng chủ tọa có quyền cắt những ý kiến không liên quan hoặc những ý kiến trùng lặp đã được đối đáp rồi. Đồng thời, chủ tọa cũng có quyền yêu cầu kiểm sát viên phải đối đáp lại những ý kiến yêu cầu của người bào chữa hoặc của những người tham gia tố tụng khác nếu như những ý kiến đó chưa được tranh luận. Đây là quy định mới được bổ sung nhằm đảm bảo cho việc xét xử được công bằng dân chủ, đáp ứng yêu cầu tranh tụng mà chiến lược cải cách tư pháp đã đề ra. Quy định này góp phần khắc phục những tồn tại trước đây khi tranh luận, nhiều trường hợp kiểm sát viên không đưa ra được những lập luận để phản bác với ý kiến của bị cáo, của người bào chữa cho bị cáo hoặc của những người khác, không đối đáp mà chỉ trả lời giữ nguyên ý kiến luận tội hoặc giữ nguyên quyết định truy tố. Tuy nhiên, quy định về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm vẫn còn một số bất cập sau đây:

- Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Chủ tọa phiên tòa phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem ai có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không”. Quy định này nhằm bảo đảm sự bình đẳng trước Tòa án giữa đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc giải quyết các yêu cầu, cung cấp nguồn chứng cứ cũng như đưa ra chứng cứ trực tiếp. Tuy nhiên, yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét chỉ được giải quyết khi tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa nhưng lại không được quy định trong phần thủ tục tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, khi vụ án đang tiến hành thủ tục tranh tụng mà người tham gia tố tụng muốn yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét thì lại không có căn cứ để hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu.

- Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Tòa án có thể vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng và khi tiến hành xét hỏi thì hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, trong trường hợp chứng cứ được công bố trong lời khai của người làm chứng mâu thuẫn với các chứng cứ mà Tòa án thu được trực tiếp tại phiên tòa mà việc giải quyết được mâu thuẫn đòi hỏi phải triệu tập thêm người làm chứng. Nếu kiểm sát viên hoặc người tham gia tố tụng có yêu cầu thì yêu cầu này sẽ không thể được chấp nhận, vì việc giải quyết yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét chỉ tiến hành ở phần thủ tục bắt đầu phiên tòa.

- Theo quy định tại Điều 302 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì việc thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký phiên tòa, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật chỉ được đặt ra tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa. Trong trường hợp căn cứ để thay đổi những người nêu trên đã xuất hiện từ thủ tục bắt đầu phiên tòa nhưng đến khi phiên tòa chuyển sang thủ tục tranh tụng, thì những người có quyền đề nghị mới phát hiện có các căn cứ này đề nghị thay đổi. Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 lại không quy định về việc cho phép trở lại phần thủ tục mà chỉ cho phép trở lại phần xét hỏi (Điều 323 Bộ luật Tố tụng hình sự) được quy định ở phần thủ tục tranh tụng, như vậy có thể ảnh hưởng quyền của bị cáo và ảnh đến chất lượng xét xử.

- Theo quy định hiện hành, thì việc xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện chủ yếu bởi hội đồng xét xử. Việc xét hỏi nhằm làm rõ những tình tiết dùng làm chứng cứ để truy tố bị cáo lại không phải là nhiệm vụ chính của Viện kiểm sát mà phụ thuộc vào hội đồng xét xử. Quy định như trên là không hợp lý, vì Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội nên tại phiên tòa, kiểm sát viên phải thực hiện việc xét hỏi để bảo vệ sự buộc tội đó, người bào chữa thực hiện chức năng gỡ tội, nên họ được thực hiện việc xét hỏi để bào chữa cho bị cáo. Trong khi đó, Tòa án đóng vai trò “trung gian”, chỉ xét xử và ra phán quyết trong phạm vi giới hạn của sự buộc tội. Vì vậy, trách nhiệm xác định các tình tiết buộc tội thuộc về Viện kiểm sát; trách nhiệm xác định các tình tiết gỡ tội thuộc về người bào chữa bị cáo; trách nhiệm xác định đầy đủ, khách quan các tình tiết buộc tội cũng như gỡ tội thuộc về Tòa án. Cho nên, khi tiến hành thủ tục xét hỏi, hội đồng xét xử chỉ lắng nghe và chủ tọa phiên tòa chỉ giữ quyền điều hành phiên tòa, quyết định cho ai hỏi ai, duy trì thời gian hỏi và có quyền cắt các ý kiến các câu hỏi không đúng trọng tâm. Hội đồng xét xử không được có những lời lẽ khẳng định hay phủ định bất cứ một vấn đề nào mà các bên tham gia tranh tụng nêu ra, cũng như không được đánh giá, nhận xét đúng sai ngay tại phiên tòa. Bởi lẽ, chức năng của Tòa án là xét xử thông qua việc xét hỏi, nghe các bên tranh luận, hội đồng xét xử sẽ đưa ra phán quyết bằng bản án nêu rõ hành vi của bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Việc hội đồng xét xử thể hiện quan điểm ngay tại phiên tòa sẽ ảnh hưởng đến việc tranh tụng giữa các bên, làm giảm hiệu quả tranh luận.

Ba là, thủ tục nghị án và tuyên án

Theo quy định tại Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Chỉ có thẩm phán và hội thẩm mới có quyền nghị án…” và “…các thành viên của hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề một…”. Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn chưa quy định cụ thể về trường hợp nghị án nhưng không đạt được kết quả đa số như luật định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “... Nếu không có ý kiến nào chiếm đa số thì phải thảo luận và biểu quyết lại từng ý kiến của các thành viên hội đồng xét xử đã đưa ra để xác định ý kiến chiếm đa số...”. Như vậy, trong trường hợp đã biểu quyết lại nhưng các thành viên của hội đồng xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm, thì vẫn chưa có phương án cụ thể để giải quyết. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 7 Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì hội đồng xét xử có quyền ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 18 và Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”. Việc quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của hội đồng xét xử hiện nay là không hợp lý vì những lý do sau đây:

- Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, thì Tòa án có hai chức năng là: Chức năng xét xử và chức năng thực hiện quyền tư pháp, trong khi đó, chức năng khởi tố vụ án hình sự không phải là nội dung của một trong hai chức năng này; đó là một nội dung trong chức năng buộc tội. Theo quy định hiện hành, Tòa án không được thực hiện chức năng buộc tội.

- Quy định cho phép Tòa án khởi tố vụ án sẽ không đảm bảo tính độc lập, khách quan của Tòa án trong việc giải quyết vụ án. Việc pháp luật tố tụng hình sự cho phép Tòa án phát động tố tụng (khởi tố vụ án) sau đó cũng chính Tòa án là chủ thể có thẩm quyền xét xử vụ án đó thì yếu tố độc lập, khách quan của Tòa án sẽ khó được đảm bảo.

- Thực tiễn cho thấy, Tòa án hiếm khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nên quy định này hầu như ít được thực hiện trên thực tế. Nếu Tòa án muốn ra được quyết định khởi tố vụ án hình sự, thì Tòa án cần phải tiến hành hoạt động kiểm tra, xác minh các thông tin về tội phạm để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không. Việc này đòi hỏi phải có thời gian và phải tiến hành nhiều hoạt động khác nhau, có thể là những hoạt động rất phức tạp để củng cố hồ sơ, chứng cứ, tài liệu. Hơn nữa, việc quyết định khởi tố cũng rất khó chính xác nếu chưa kiểm tra, xác minh lại những thông tin về tội phạm và người phạm tội mới chỉ được phản ánh qua lời khai của người tham gia tố tụng hoặc những tài liệu đã có trong hồ sơ, thì việc kiểm tra xác minh lại các thông tin này bằng các hoạt động ngoài phiên tòa cũng khiến việc đưa ra quyết định khởi tố vụ án khó khăn hơn.

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án, như vậy, sau khi hội đồng xét xử đã ra quyết định khởi tố vụ án, sau khi điều tra thấy không có căn cứ khởi tố theo quy định Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì ai là người sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, vì thẩm quyền của hội đồng xét xử vụ án đó đã kết thúc sau khi tuyên án.

2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về phiên tòa sơ thẩm hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp mà Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra là: Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Để thực hiện được nhiệm vụ nêu trên, thì việc hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự về phiên tòa hình sự sơ thẩm là vấn đề được ưu tiên thực hiện hàng đầu. Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, quy định cụ thể về trách nhiệm cam đoan làm tròn nhiệm vụ, khai trung thực của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người làm chứng tại Điều 303 và Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới thì việc cam đoan làm tròn nhiệm vụ, khai trung thực của những người nêu trên phải được thể hiện bằng văn bản và được đọc trực tiếp tại phiên tòa. Do đó, nhằm cụ thể hơn nữa trách nhiệm cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người làm chứng để nâng cao trách nhiệm tôn trọng sự thật của những chủ thể này, tác giả đề xuất việc cam đoan phải được thể hiện bằng văn bản, có chữ ký xác nhận của người cam đoan và phải được họ đọc trực tiếp tại phiên tòa trước khi làm nhiệm vụ. Văn bản cam đoan phải có nội dung sau: (i) Cam đoan của người làm chứng: “Tôi cam đoan tôi sẽ nói sự thật, toàn bộ sự thật và không phải là cái gì khác ngoài sự thật mà tôi được biết, nếu có điều gì sai trái trong lời nói của tôi, tôi sẽ chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật”; (ii) Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản: “Tôi cam đoan tôi sẽ làm tròn nhiệm vụ được giao, nếu có điều gì sai sót, tôi sẽ chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật”.

Thứ hai, sửa đổi các quy định về thủ tục xét hỏi theo hướng Tòa án chỉ là nơi phân xử, quyết định của hội đồng xét xử dựa trên kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa

Theo quan điểm của tác giả, thì trình tự xét hỏi quy định tại Điều 307 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần sửa đổi theo hướng: Kiểm sát viên xét hỏi trước, tiếp theo là người bào chữa, người bảo vệ quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tiến hành xét hỏi. Kiểm sát viên hỏi về các tình tiết liên quan đến việc buộc tội; người bào chữa hỏi về các tình tiết liên quan đến việc gỡ tội; người bảo vệ quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà mình bảo vệ. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác xét hỏi về những tình tiết có liên quan đến mình. Nếu thấy tình tiết có mâu thuẫn thì hội đồng xét xử có quyền trực tiếp xét hỏi để làm rõ mâu thuẫn giữa các tình tiết. Khoản 2 Điều 307 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần được sửa đổi như sau: “Khi xét hỏi từng người, kiểm sát viên hỏi trước rồi đến người bào chữa, người bảo vệ quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền xét hỏi về những tình tiết có liên quan đến mình. Sau khi các bên hỏi xong, chủ tọa phiên tòa và các thành viên hội đồng xét xử có quyền hỏi nếu thấy có tình tiết mâu thuẫn”.

Thứ ba, bổ sung các quy định về việc cho phép triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét; cho phép đưa ra yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký phiên tòa, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật khi tiến hành tố tụng trong bất kỳ giai đoạn nào tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì các yêu cầu nói trên chỉ được quy định tại thủ tục bắt đầu phiên tòa. Vì vậy, nếu các yêu cầu này phát sinh sau khi phiên tòa đã chuyển sang thủ tục tranh tụng thì những người có quyền đề nghị sẽ không có các căn cứ để thực hiện các yêu cầu nói trên. Các yêu cầu liên quan đến triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký phiên tòa, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như đảm bảo sự khách quan, vô tư của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Vì vậy, tác giả kiến nghị bổ sung quy định như sau: “Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định mọi yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét và mọi đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ”.

Thứ tư, bãi bỏ quy định cho phép Hội đồng xét xử quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm

Quy định về việc hội đồng xét xử có thẩm quyền khởi tố vụ án trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về chức năng của Tòa án, không đảm bảo tính độc lập, khách quan của Tòa án trong việc giải quyết vụ án cũng như phù hợp với thực tiễn khi hội đồng xét xử hầu như không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trên thực tế .

ThS. Lê Thanh Phong

Tòa án nhân dân Quận 7, TP. Hồ Chí Minh

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm mua bán người trong bối cảnh hội nhập quốc tế Một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay Đưa Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vào cuộc sống theo lời Bác Hồ Một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Luật Hợp tác xã Những vấn đề cần chứng minh trong tố tụng hành chính Công tác phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-Pu-Chia đánh bạc thực trạng và giải pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: