Thứ ba 03/03/2026 07:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam gắn với việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XVI

Sáng ngày 22/11/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Diễn đàn xây dựng pháp luật lần thứ nhất “Hoàn thiện thể chế, pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn. Trong khuôn khổ Diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đã trình bày tham luận với chủ đề: “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới gắn với việc xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XVI”. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu tham luận của Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú tại Diễn đàn.
Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam gắn với việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XVI

Quang cảnh khai mạc Diễn đàn.

Ảnh: Phạm Thắng.

Kính thưa đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội,

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo Quốc hội, Lãnh đạo Chính phủ, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng,

Kính thưa quý vị đại biểu và khách quý,

Trên cơ sở Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, từ tháng 8/2025 đến nay, Bộ Tư pháp đã và đang phối hợp với các cơ quan của Quốc hội; các bộ, ngành, chuyên gia, người làm thực tiễn nghiên cứu, xây dựng Đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” để có thể trình Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật vào tháng 12/2025.

Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy có ba vấn đề đặt ra; ba hạn chế, bất cập của cấu trúc hiện hành; từ đó dự kiến đề xuất năm định hướng và năm giải pháp chính để hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật.

Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam gắn với việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XVI

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú trình bày tham luận tại Diễn đàn.

Ảnh: Phạm Thắng.

Ba vấn đề đặt ra

Thứ nhất, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật không chỉ đơn thuần là sắp xếp lại các văn bản pháp luật hiện có mà còn bao gồm quá trình đổi mới tư duy về cách tổ chức hệ thống pháp luật như một chỉnh thể thống nhất, gồm nhiều thành tố luôn vận động, phát triển. Cấu trúc hệ thống pháp luật là bản thiết kế tổ chức, vận hành các thành tố của chỉnh thể đó; còn hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật phải hướng tới đề xuất khung cấu trúc tổng thể (gồm cấu trúc nội dung, cấu trúc hình thức, cơ chế vận hành) khoa học, hiện đại, hợp lý, bao phủ được những vấn đề mới, “phi truyền thống” phát sinh; góp phần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch, công bằng, khả thi, kiến tạo.

Thứ hai, cấu trúc hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới phải là cấu trúc mở của một hệ sinh thái sáng tạo, luôn tiếp thu phản hồi từ thực tiễn và hoàn thiện liên tục, bảo đảm đồng bộ giữa các tầng đường lối, chiến lược của Đảng, tầng chính sách, pháp luật của Nhà nước và tầng vận hành chính sách, pháp luật của các chủ thể liên quan.

Thứ ba, các nguyên tắc thiết kế và vận hành cấu trúc hệ thống pháp luật phải phù hợp với mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời tiệm cận các nguyên tắc phổ biến ở những quốc gia đã thành công trong việc sử dụng thể chế, pháp luật để thúc đẩy phát triển. Các tiêu chí đánh giá cấu trúc hệ thống pháp luật (gồm: thống nhất nội tại; đồng bộ, bao quát, hiệu lực, khả thi; minh bạch, dễ tiếp cận; linh hoạt, thích ứng và kiến tạo phát triển) vừa là công cụ để nhận diện những bất cập, hạn chế của cấu trúc hiện hành vừa là cơ sở đề xuất nghiên cứu về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới phù hợp với những quyết sách chiến lược của Đại hội XIV của Đảng.

Bên cạnh đó, một sản phẩm quan trọng của Đề án là dự kiến Danh mục văn bản luật đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới trong giai đoạn 2026 - 2031 (và những năm tiếp theo), là cơ sở tham khảo để xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.

Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam gắn với việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XVI

Quảng cảnh Diễn đàn.

Ảnh: Phạm Thắng.

Ba hạn chế, bất cập

Trong suốt 80 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay cũng còn ba hạn chế, bất cập chính. Cụ thể:

Về cấu trúc nội dung: Độ bao phủ, sự cân đối và hài hòa giữa các lĩnh vực còn hạn chế, một số lĩnh vực còn thiếu, thậm chí chưa có luật điều chỉnh; trong một số trường hợp chưa phân định rõ phạm vi điều chỉnh của văn bản luật cùng thứ bậc; giữa văn bản luật với văn bản dưới luật dẫn đến sự chồng chéo, “bỏ trống”, giảm hiệu lực và tính khả thi của cả hệ thống.

Về cấu trúc hình thức: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều tầng nấc, một số chủ thể sử dụng nhiều loại văn bản để ban hành, số lượng văn bản dưới luật còn lớn; trong một số trường hợp, chưa xác định rõ thứ bậc hiệu lực (giá trị pháp lý) của các văn bản quy phạm pháp luật; việc thừa nhận vai trò và việc áp dụng các nguồn pháp luật bổ trợ (như án lệ, tập quán…) còn hạn chế; mối quan hệ hiệu lực giữa các nguồn pháp luật có khía cạnh còn chưa rõ.

Về cơ chế vận hành: Kỹ thuật và giá trị hiệu lực hợp nhất, pháp điển văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế; cơ chế theo dõi, đánh giá thi hành pháp luật chưa hiệu quả; quy định về đánh giá tác động sau khi ban hành chưa đầy đủ; kỹ thuật lập pháp trong một số trường hợp chưa thống nhất; hạ tầng công nghệ, dữ liệu chưa được đầu tư đúng mức…

Dự kiến năm định hướng hoàn thiện

Thứ nhất, xây dựng cấu trúc hệ thống pháp luật bao quát đầy đủ, cân đối, hài hòa một cách hợp lý giữa các lĩnh vực, qua đó bảo đảm sự đồng bộ giữa tư duy phân định lĩnh vực thể chế phát triển của Đảng trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV với tư duy phân định nhóm lĩnh vực pháp luật trong hệ thống pháp luật.

Thứ hai, thúc đẩy hình thành lĩnh vực pháp luật mới bên cạnh các lĩnh vực pháp luật hiện có để đáp ứng yêu cầu kiến tạo, dẫn dắt của pháp luật trước những phát triển mới của khoa học, công nghệ và các vấn đề mới khác của đời sống kinh tế - xã hội.

Thứ ba, lấy Hiến pháp và một số bộ luật, luật có tính chất nền tảng, rường cột làm trung tâm của cả hệ thống pháp luật, các luật khác được thiết kế theo chức năng phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với Hiến pháp và các văn bản luật nền tảng, rường cột. Bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành khi có quy định khác nhưng không trái với nguyên tắc cơ bản của luật chung, đồng thời kiểm soát, loại bỏ sự trùng lặp về nội dung giữa luật chung và luật chuyên ngành.

Thứ tư, nghiên cứu giảm bớt tầng nấc của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; thu hẹp loại văn bản quy phạm pháp luật mà một cơ quan có thẩm quyền ban hành, theo hướng mỗi cơ quan chỉ ban hành một loại văn bản quy phạm pháp luật…

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, hợp nhất và pháp điển, các công cụ và phương pháp theo dõi, đánh giá thi hành pháp luật sau ban hành; hiện đại hóa hạ tầng, ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm tính liên thông, phản hồi và phản ứng chính sách, pháp luật linh hoạt, kịp thời.

Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam gắn với việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XVI

Toàn cảnh khai mạc Diễn đàn.

Ảnh: Phạm Thắng.

Năm giải pháp chính

Một là, đổi mới và vận dụng hợp lý tư duy phân loại luật công/luật tư; luật chung/luật chuyên ngành ngay trong khi thiết kế các quy phạm pháp luật thuộc từng lĩnh vực pháp luật, từng văn bản quy phạm pháp luật cụ thể, bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với các nguyên tắc chung thiết kế và vận hành cấu trúc hệ thống pháp luật.

Hai là, tổng rà soát hệ thống pháp luật hiện hành, xác định lại vị trí và chức năng của từng văn bản luật, theo các nguyên tắc phân tầng hiệu lực, phân lớp chức năng trong mỗi lĩnh vực pháp luật. Qua đó, bảo đảm vị trí tối thượng của Hiến pháp, các văn bản luật trụ cột, luật chung giữ vai trò định hướng nguyên tắc, có tính ổn định cao; kịp thời đề xuất cắt giảm, loại bỏ các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp, các quy định không còn phù hợp với thực tiễn.

Đồng thời xác định rõ nhu cầu và điều kiện ban hành các văn bản luật mới, nhất là các luật quy định các biện pháp, cơ chế đặc thù, vượt trội, khuyến khích phát triển các lĩnh vực, địa bàn, nhóm đối tượng, “luật thử nghiệm có kiểm soát”… phù hợp với vai trò kiến tạo phát triển, quản trị quốc gia hiện đại của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Ưu tiên đưa vào chương trình lập pháp năm 2026 những văn bản luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền ba cấp.

Bà là, rà soát, giảm bớt hình thức văn bản quy phạm pháp luật theo hướng mỗi cơ quan ban hành một loại văn bản quy phạm pháp luật, phù hợp với việc phân quyền, phân cấp trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Chuẩn hóa và minh bạch việc thừa nhận giá trị áp dụng của các nguồn pháp luật bổ trợ, như tập quán trong nước và tập quán quốc tế, án lệ, lẽ công bằng (thậm chí cả “luật mềm”) phù hợp với Hiến pháp và pháp luật; đồng thời tiếp tục khẳng định nguyên tắc ưu tiên áp dụng văn bản quy phạm pháp luật so với các nguồn pháp luật bổ trợ.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế đẩy nhanh việc thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng thành pháp luật; làm rõ vai trò và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đối với những vấn đề lập pháp có tính chất chiến lược quốc gia.

Hoàn thiện quy trình lập pháp, chuyên nghiệp hóa công tác soạn thảo luật, chú trọng nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu chính sách. Nghiên cứu, ban hành các bộ tài liệu hướng dẫn hoặc bộ quy chuẩn kỹ thuật lập pháp quốc gia để thống nhất sử dụng trong toàn quốc.

Đổi mới mạnh mẽ công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển quy phạm pháp luật theo hướng giúp các chủ thể dễ dàng tra cứu, áp dụng, giảm thiểu chi phí tuân thủ pháp luật.

Năm là, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo toàn diện từ khâu xây dựng cho đến khâu thi hành pháp luật; đánh giá văn bản luật sau ban hành phải trở thành nhiệm vụ bắt buộc đối với cơ quan được giao chủ trì soạn thảo và tổ chức thi hành; xây dựng và vận hành các cơ sở dữ liệu quốc gia “mở” về xây dựng và thi hành pháp luật, tiếp nhận và phản hồi kịp thời ý kiến của người dân, doanh nghiệp về chính sách, pháp luật và tổ chức thi hành trong suốt vòng đời pháp luật.

Tóm lại, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật với việc thiết lập một chỉnh thể hài hòa giữa cấu trúc nội dung, cấu trúc hình thức được thiết kế, vận hành thông suốt, nhất quán theo các nguyên tắc pháp quyền là cơ sở để hệ thống pháp luật thực sự trở thành nền tảng pháp lý: vừa ổn định, thống nhất với tính thượng tôn Hiến pháp; vừa linh hoạt, thích ứng với thực tiễn, củng cố niềm tin và an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia; đồng hành và “dẫn dắt” sự phát triển bền vững của đất nước.

Việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới với các nội dung nêu trên có quan hệ chặt chẽ với việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XVI. Vì vậy, chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan của Quốc hội, của các bộ, ngành, chuyên gia, người làm thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện Đề án.

Xin trân trọng cảm ơn.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: