Thứ bảy 14/03/2026 22:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công

Tóm tắt: Bài viết đưa ra những nghiên cứu về sự cần thiết của cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công; đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về cơ chế này trên cơ sở nghiên cứu hai lĩnh vực y tế và giáo dục; đề xuất năm nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công.

Abstract: The article puts forth studies on the necessity of feedback mechanisms from public service users; evaluates the real law situation and law enforcement on this mechanism on the basis of two areas of health and education; and proposes five groups of solutions to improve the feedback mechanisms from publicservice users.

1. Sự cần thiết xây dựng cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công

Dịch vụ công là dịch vụ phục vụ nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước có trách nhiệm cung ứng cho xã hội (Nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyền cho khu vực tư) theo nguyên tắc công bằng và hiệu quả. Trong đó, dịch vụ sự nghiệp công (DVSNC) là một loại dịch vụ công hướng đến phục vụ các nhu cầu cơ bản về phát triển cá nhân con người, bao gồm các dịch vụ phục vụ phát triển trí lực, thể lực của cá nhân, phát triển xã hội.

Đối với việc phát triển DVSNC ở Việt Nam hiện nay, thực hiện chủ trương của Đảng “con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”[1], quản lý nhà nước về DVSNC đã và đang đặt ra nhiều thách thức lớn. Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết về vấn đề này, một mặt khẳng định chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa DVSNC, mặt khác, đưa ra những định hướng đổi mới đơn vị sự nghiệp công, như: Thông báo kết luận số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị; Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương VII (khóa XI)… Trong bối cảnh hiện nay, việc cung ứng DVSNC ở Việt Nam vẫn chủ yếu do Nhà nước đảm nhận, theo thống kê của Bộ Nội vụ đến tháng 6/2014, cả nước có trên 50.000 đơn vị sự nghiệp công lập; số lượng viên chức là 1.995.414 người. Thực tế trên cho thấy, trong nền kinh tế thị trường, khi DVSNC do khu vực tư cung ứng chiếm tỷ lệ không cao, quy mô nhỏ, mà việc cung ứng của các đơn vị sự nghiệp công lại gần như chiếm vị trí độc quyền, để nâng cao chất lượng DVSNC, không thể chỉ dựa vào các công cụ thanh tra, kiểm tra, giám sát từ phía Nhà nước. Việc hoàn thiện cơ chế phản hồi của khách hàng là vấn đề rất cấp thiết hiện nay. Phản hồi của người sử dụng DVSNC thường thể hiện dưới ba hình thức: Tham gia xây dựng thể chế cung ứng DVSNC; phản hồi về cách thức cung ứng và chất lượng DVSNC; khiếu nại về DVSNC.

Để xây dựng cơ chế phản hồi của khách hàng sử dụng DVSNC, các quốc gia thường quan tâm giải quyết các vấn đề sau:

(i) Xây dựng và công khai các tiêu chuẩn DVSNC;

(ii) Công khai, minh bạch các thủ tục tiếp cận DVSNC;

(iii) Đa dạng cách lấy ý kiến khách hàng như: Lập hộp thư góp ý của khách hàng; thông báo công khai số điện thoại hoặc email để khách hàng kiến nghị; công chức, viên chức tiếp xúc với khách hàng phải đeo biển có ghi tên, đơn vị công tác, mã số…; mở các cuộc thăm dò ý kiến khách hàng; bố trí lịch tiếp công dân của thủ trưởng cơ quan, tổ chức cung ứng dịch vụ công…

(iv) Xây dựng một cơ chế giải quyết khiếu nại dễ dàng tiếp cận đối với người sử dụng; vận hành đơn giản, quy định rõ trách nhiệm và thủ tục; công khai và được phổ biến rộng rãi trong công chúng; giải quyết khiếu nại nhanh chóng minh bạch kết quả xử lý; có thể thiết lập cơ chế điều tra khiếu nại độc lập; bảo vệ người khiếu nại, chống việc trù dập.

2. Thực trạng cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công ở Việt Nam hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được

Theo lý thuyết của Hirschman, đứng trước dịch vụ, sản phẩm không đáp ứng yêu cầu về chất lượng khách hàng có hai lựa chọn là “khiếu nại” và “từ bỏ” hoặc vừa “khiếu nại”, vừa “từ bỏ”[2]. Từ sau đổi mới đến nay, với chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, các DVSNC do khu vực tư cung ứng đã ngày càng được mở rộng hơn, đáp ứng phần nào nhu cầu đa dạng của các đối tượng khách hàng. Khi chất lượng DVSNC do đơn vị sự nghiệp công cung ứng không đáp ứng được yêu cầu, một bộ phận khách hàng chuyển sang sử dụng DVSNC do khu vực tư cung ứng hoặc sử dụng DVSNC ở nước ngoài để thay thế DVSNC. Bộ phận này không lớn và tập trung ở những đối tượng có điều kiện về kinh tế. Phần còn lại là đại đa số người dân không hài lòng với chất lượng dịch vụ nhưng không có sự lựa chọn khác hoặc không đủ khả năng để đánh giá chất lượng dịch vụ nên yên tâm sử dụng. Khi không hài lòng về chất lượng DVSNC, mỗi bộ phận khách hàng có những cách phản hồi khác nhau hoặc là từ bỏ không khiếu nại; hoặc chấp nhận và khiếu nại; hoặc vừa từ bỏ vừa khiếu nại. Lựa chọn cách phản ứng nào phụ thuộc rất lớn vào nhận thức và sự hoàn thiện của cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC.

Nghiên cứu về cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC có thể thấy:

- Về xây dựng và công khai tiêu chuẩn DVSNC: Trong thời gian qua, cùng với quá trình xã hội hóa DVSNC, các tiêu chuẩn DVSNC đã được xây dựng ở nhiều lĩnh vực như giáo dục, khoa học, công nghệ... nhưng các tiêu chuẩn này, nhìn chung được quy định theo những quy chuẩn của quản lý nhà nước, nên bước đầu đem lại những chuẩn mực trong quản lý nhà nước về chất lượng DVSNC. Đặc biệt trong lĩnh vực y tế, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 hướng dẫn quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện với nguyên tắc “Lấy người bệnh làm trung tâm”. Tiếp đó, ngày 18/11/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam (phiên bản 2.0) kèm theo Quyết định số 6858/QĐ-BYT, gồm 83 tiêu chí cụ thể về chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn cho người bệnh; điều kiện cơ sở vật chất cho người bệnh; điều kiện chăm sóc người bệnh... Bộ tiêu chí này có ưu điểm là rất dễ dàng đánh giá cho đối tượng sử dụng dịch vụ, nên việc sử dụng trong lộ trình thực hiện Đề án giảm tải bệnh viện giai đoạn 2013 - 2020 đã và đang đem lại những thay đổi quan trọng về chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại các bệnh viện.

- Xây dựng và công khai thủ tục tiếp cận DVSNC: Thực hiện chủ trương chung về cải cách hành chính, các thủ tục tiếp cận dịch vụ công đã có những thay đổi đáng kể về tính minh bạch, đơn giản, dễ tiếp cận. Chẳng hạn, thủ tục tiếp cận các đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp bộ theo hình thức đấu thầu; thủ tục tiếp cận dịch vụ giáo dục mầm non, tiểu học, thể thao... cũng đã và đang hướng tới minh bạch hóa, phần nào hạn chế những chi phí không chính thức khi tiếp cận dịch vụ.

- Đa dạng cách lấy ý kiến khách hàng: Để không ngừng nâng cao chất lượng DVSNC, các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị trực tiếp cung ứng DVSNC thời gian qua đã rất coi trọng việc mở rộng các hình thức tiếp nhận ý kiến phản hồi của người dân về chất lượng DVSNC. Đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công, đa dạng cách lấy ý kiến của khách hàng chính là việc thực hiện Kết luận số 65-KL/TW ngày 04/02/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập… Trên cơ sở đó, nhiều hình thức tiếp nhận ý kiến phản hồi của nhân dân về dịch vụ công nói chung và DVSNC nói riêng đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện, mang lại niềm tin cho xã hội. Chẳng hạn, việc công bố số điện thoại, email, trang cá nhân của lãnh đạo các cơ quan hành chính nhà nước, số điện thoại đường dây nóng, lịch tiếp công dân tại các đơn vị cung cấp DVSNC; gặp mặt, đối thoại trực tiếp với người sử dụng dịch vụ... Đặc biệt, theo yêu cầu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, hình thức khảo sát chỉ số hài lòng của người dân về dịch vụ công nói chung trong đó có DVSNC do các đơn vị sự nghiệp công cung ứng đã mang lại những thay đổi quan trọng trong tư duy về mối quan hệ giữa Nhà nước, cá nhân và tổ chức sử dụng dịch vụ công. Mục tiêu của Chương trình là đến năm 2020, có trên 80% người dân hài lòng về dịch vụ y tế, giáo dục do các đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng. Thực hiện yêu cầu này, thời gian qua, các ngành y tế, giáo dục đã ban hành nhiều văn bản tổ chức thực hiện[3].

- Về cơ chế giải quyết khiếu nại: Hiện nay, khi khách hàng sử dụng các DVSNC, do đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng, mà bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp thì có thể sử dụng quyền khiếu nại hoặc khiếu kiện tới các chủ thể có thẩm quyền theo Luật Khiếu nại năm 2011, Nghị định số 75/2015/NĐ-CP và Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Theo đó, các quyết định, hành vi của các chủ thể trong đơn vị sự nghiệp công lập được gọi chung là các quyết định hành chính, hành vi hành chính và thủ tục giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện này được áp dụng chung với thủ tục giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước. Còn khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa chủ thể sử dụng với cá nhân, tổ chức cung ứng DVSNC do khu vực tư cung ứng thì giải quyết bằng thủ tục tố tụng dân sự.

Thực tế trên cho thấy, các nội dung trong cơ chế phản hồi của khách hàng về sử dụng DVSNC đã hình thành tương đối đồng bộ và đang ngày càng hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng DVSNC.

2.2. Những tồn tại và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được như trên, cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC cũng còn bộc lộ không ít bất cập:

- Các tiêu chuẩn về DVSNC trong nhiều lĩnh vực còn thiếu rõ ràng, minh bạch và người sử dụng dịch vụ khó kiểm soát.

- Thủ tục tiếp cận DVSNC công do các đơn vị sự nghiệp công cung ứng vẫn còn khá phức tạp và thiếu tính minh bạch. Các chi phí phi chính thức khi tiếp cận dịch vụ sự nghiệp công này vẫn tồn tại, gây ra tình trạng mất công bằng và bức xúc trong dư luận.

- Các hình thức phản hồi về DVSNC đã được bổ sung ngày càng đầy đủ nhưng vẫn còn hình thức, chưa thu hút được các ý kiến phản hồi của người dân; cơ chế phản hồi còn chậm trễ; quyền lợi của người phản hồi chưa được bảo vệ hiệu quả… Tư duy ban phát trong cung cấp DVSNC dẫn đến thái độ cửa quyền, hách dịch đối với người sử dụng dịch vụ trong các đơn vị sự nghiệp công vẫn còn tồn tại.

- Cơ chế giải quyết khiếu nại về DVSNC đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng còn rất nhiều phiền hà, chưa hiệu quả và chưa đem lại niềm tin cho người có quyền và lợi ích bị xâm phạm.

Những tồn tại trên có thể được lý giải bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, tư duy độc quyền cung ứng DVSNC thời tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại trong cơ chế quản lý các đơn vị sự nghiệp công hiện nay, thể hiện trong cơ chế quản lý biên chế, tài chính, tổ chức và hoạt động của các cơ quan chủ quản với đơn vị sự nghiệp công. Cơ chế này tồn tại làm cho các đơn vị sự nghiệp công thiếu động lực nâng cao chất lượng DVSNC trong cạnh tranh với các DVSN ở khu vực tư nhân. Đồng thời, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công cũng vì thế mà không được củng cố và đề cao, mất đi sức ép quan trọng đối với các tổ chức này trong việc nâng cao chất lượng DVSNC. Tư duy độc quyền chính là nguyên nhân của tình trạng hách dịch, cửa quyền trong cung ứng DVSNC; tình trạng thiếu minh bạch về trình tự thủ tục làm tăng chi phí không chính thức của chủ thể sử dụng DVSNC.

Với các cơ quan quản lý nhà nước về DVSNC, là chủ thể chịu trách nhiệm về DVSNC thuộc ngành, lĩnh vực nhất định. Khi tư duy độc quyền về cung ứng DVSNC vẫn còn tồn tại, thì việc chủ động hoàn thiện cơ chế phản hồi của chủ thể sử dụng DVSNC trong việc xây dựng kế hoạch, chính sách, tiêu chuẩn về DVSNC cũng chưa được chú trọng.

Thứ hai, nhận thức về chất lượng DVSNC của nhân dân nhìn chung còn hạn chế. Việc giám sát chất lượng DVSNC để có những phản hồi, khiếu nại gặp nhiều khó khăn. Lý do quan trọng là do đặc thù của DVSNC là những hoạt động chuyên môn, để đánh giá cần những người thực sự có chuyên môn về ngành, lĩnh vực đó. Trong khi cơ chế giải quyết khiếu nại của các đơn vị sự nghiệp công lập nhiều khi chưa rõ ràng, minh bạch, thậm chí còn có hiện tượng bao che trong xử lý, làm cho người sử dụng nghi ngờ về chất lượng DVSNC. Tình trạng hành hung bác sỹ ở một số bệnh viện công thời gian qua là một minh chứng quan trọng cho nhận định này.

Thêm vào đó, việc hầu hết các đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng DVSNC, nhưng lại tiếp cận từ góc độ chủ thể quản lý, chưa xuất phát từ những yêu cầu mà người sử dụng dịch vụ phải được đáp ứng khi sử dụng dịch vụ (ngoại trừ tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện do Bộ Y tế ban hành) là nguyên nhân làm cho đối tượng sử dụng gặp khó khăn trong phản hồi về DVSNC.

Thứ ba, việc áp dụng cơ chế giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước vào các đơn vị sự nghiệp công là không phù hợp, gây ra nhiều khó khăn, chậm trễ không cần thiết, ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng. Hơn nữa, cùng là cơ chế giải quyết khiếu nại nhưng đối với DVSNC do khu vực tư cung ứng lại giải quyết bằng thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự là không bình đẳng. Mặc dù, việc khiếu nại các quyết định, hành vi của đơn vị cung ứng DVSNC với khách hàng giải quyết bằng thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự là phù hợp. Khi đó, chủ thể cung ứng và chủ thể sử dụng dịch vụ đều bình đẳng tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại. Cơ chế này mang lại niềm tin cho người khiếu nại, nhưng đơn vị sự nghiệp công lập lại không được áp dụng. Điều này không phù hợp với mục tiêu của quá trình xã hội hoá là tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa công và tư.

3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, việc hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC phải trở thành mục tiêu, động lực thường xuyên của các cơ quan quản lý cũng như các đơn vị sự nghiệp công. Điều này chỉ có thể có được khi các cơ quan, tổ chức này phải là những chủ thể chịu trách nhiệm về chất lượng DVSNC. Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ công cũng như các đơn vị cung ứng DVSNC. Tách bạch trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước với các đơn vị sự nghiệp công, xoá bỏ chế độ chủ quản của cơ quan quản lý nhà nước với đơn vị sự nghiệp công. Từ đó, tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp công, đẩy mạnh xã hội hóa DVSNC và cạnh tranh công - tư trong cung ứng dịch vụ.

Thứ hai, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về trách nhiệm cung ứng DVSNC của Nhà nước như là trách nhiệm bảo đảm các quyền về an sinh xã hội, quyền về văn hóa - xã hội… của công dân. Nhà nước công bố những cam kết về tiêu chuẩn DVSNC với toàn xã hội. Hoàn thiện các quy định pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong cung ứng DVSNC theo hướng Nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm và công dân là người có quyền được hưởng DVSNC đảm bảo chất lượng. Từ đó, tăng cường tính chủ động của công dân trong phản hồi về DVSNC.

Thứ ba, đơn giản hóa và minh bạch các thủ tục tiếp cận DVSNC, hạn chế những phát sinh tiêu cực trong quá trình này. Đồng thời, hoàn thiện và công bố công khai các tiêu chuẩn chất lượng DVSNC làm cơ sở cho công tác thanh, kiểm tra của các cơ quan nhà nước cũng như quyền giám sát của nhân dân.

Thứ tư, tăng cường tính hiệu quả của các hình thức lấy ý kiến của người sử dụng DVSNC. Hoàn thiện cơ chế xác định chỉ số hài lòng của người sử dụng DVSNC, tránh tình trạng thực hiện một cách hình thức như đang diễn ra ở một số các DVSNC làm giảm lòng tin của nhân dân. Hơn nữa, trong điều kiện việc cung cấp DVSNC vẫn còn mang tính độc quyền thì việc lấy ý kiến của khách hàng cần có cơ chế để khách hàng được bảo vệ khỏi sự trù dập của đơn vị cung ứng.

Thứ năm, xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại phù hợp đối với đơn vị sự nghiệp công với tính chất là một đơn vị cung ứng dịch vụ: Đây là giải pháp cần thiết trong bối cảnh nâng cao tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công. Giải pháp này giúp các đơn vị sự nghiệp công chủ động xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại hiệu quả, tạo niềm tin cho khách hàng.

Thứ sáu, đẩy mạnh việc xã hội hoá DVSNC, thúc đẩy cạnh tranh công - tư: Đây là giải pháp quan trọng, tạo sức ép mạnh mẽ nâng cao chất lượng DVSNC tại các đơn vị sự nghiệp công. Khi đó, nhu cầu hướng đến thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, buộc các đơn vị sự nghiệp công phải hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC như là điều kiện sống còn của tổ chức.

TS. Vũ Ngọc Hà & TS. Trần Thị Thanh Mai

Học viện Hành chính Khu vực I

Tài liệu tham khảo:

[1]. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020.

[2]. PGS. TS. Nguyễn Hồng Sơn (2010), Lý thuyết của Hirschman về cơ chế phản hồi trong nền kinh tế thị trường và một số hàm ý cho việc phát triển dịch vụ công ở Việt Nam, Tạp chí khoa học, nguồn: https://js.vnu.edu.vn/EAB/article/view/879.

[3]. Xem thêm: Quyết định số 4939/QĐ-BYT ngày 15/9/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công, giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 2329/QĐ-BGDĐT ngày 11/7/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Bộ công cụ khảo sát và tài liệu hướng dẫn triển khai đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: