Thứ tư 23/09/2026 09:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công

Tóm tắt: Bài viết đưa ra những nghiên cứu về sự cần thiết của cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công; đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về cơ chế này trên cơ sở nghiên cứu hai lĩnh vực y tế và giáo dục; đề xuất năm nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công.

Abstract: The article puts forth studies on the necessity of feedback mechanisms from public service users; evaluates the real law situation and law enforcement on this mechanism on the basis of two areas of health and education; and proposes five groups of solutions to improve the feedback mechanisms from publicservice users.

1. Sự cần thiết xây dựng cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công

Dịch vụ công là dịch vụ phục vụ nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước có trách nhiệm cung ứng cho xã hội (Nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyền cho khu vực tư) theo nguyên tắc công bằng và hiệu quả. Trong đó, dịch vụ sự nghiệp công (DVSNC) là một loại dịch vụ công hướng đến phục vụ các nhu cầu cơ bản về phát triển cá nhân con người, bao gồm các dịch vụ phục vụ phát triển trí lực, thể lực của cá nhân, phát triển xã hội.

Đối với việc phát triển DVSNC ở Việt Nam hiện nay, thực hiện chủ trương của Đảng “con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”[1], quản lý nhà nước về DVSNC đã và đang đặt ra nhiều thách thức lớn. Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết về vấn đề này, một mặt khẳng định chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa DVSNC, mặt khác, đưa ra những định hướng đổi mới đơn vị sự nghiệp công, như: Thông báo kết luận số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị; Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương VII (khóa XI)… Trong bối cảnh hiện nay, việc cung ứng DVSNC ở Việt Nam vẫn chủ yếu do Nhà nước đảm nhận, theo thống kê của Bộ Nội vụ đến tháng 6/2014, cả nước có trên 50.000 đơn vị sự nghiệp công lập; số lượng viên chức là 1.995.414 người. Thực tế trên cho thấy, trong nền kinh tế thị trường, khi DVSNC do khu vực tư cung ứng chiếm tỷ lệ không cao, quy mô nhỏ, mà việc cung ứng của các đơn vị sự nghiệp công lại gần như chiếm vị trí độc quyền, để nâng cao chất lượng DVSNC, không thể chỉ dựa vào các công cụ thanh tra, kiểm tra, giám sát từ phía Nhà nước. Việc hoàn thiện cơ chế phản hồi của khách hàng là vấn đề rất cấp thiết hiện nay. Phản hồi của người sử dụng DVSNC thường thể hiện dưới ba hình thức: Tham gia xây dựng thể chế cung ứng DVSNC; phản hồi về cách thức cung ứng và chất lượng DVSNC; khiếu nại về DVSNC.

Để xây dựng cơ chế phản hồi của khách hàng sử dụng DVSNC, các quốc gia thường quan tâm giải quyết các vấn đề sau:

(i) Xây dựng và công khai các tiêu chuẩn DVSNC;

(ii) Công khai, minh bạch các thủ tục tiếp cận DVSNC;

(iii) Đa dạng cách lấy ý kiến khách hàng như: Lập hộp thư góp ý của khách hàng; thông báo công khai số điện thoại hoặc email để khách hàng kiến nghị; công chức, viên chức tiếp xúc với khách hàng phải đeo biển có ghi tên, đơn vị công tác, mã số…; mở các cuộc thăm dò ý kiến khách hàng; bố trí lịch tiếp công dân của thủ trưởng cơ quan, tổ chức cung ứng dịch vụ công…

(iv) Xây dựng một cơ chế giải quyết khiếu nại dễ dàng tiếp cận đối với người sử dụng; vận hành đơn giản, quy định rõ trách nhiệm và thủ tục; công khai và được phổ biến rộng rãi trong công chúng; giải quyết khiếu nại nhanh chóng minh bạch kết quả xử lý; có thể thiết lập cơ chế điều tra khiếu nại độc lập; bảo vệ người khiếu nại, chống việc trù dập.

2. Thực trạng cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công ở Việt Nam hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được

Theo lý thuyết của Hirschman, đứng trước dịch vụ, sản phẩm không đáp ứng yêu cầu về chất lượng khách hàng có hai lựa chọn là “khiếu nại” và “từ bỏ” hoặc vừa “khiếu nại”, vừa “từ bỏ”[2]. Từ sau đổi mới đến nay, với chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, các DVSNC do khu vực tư cung ứng đã ngày càng được mở rộng hơn, đáp ứng phần nào nhu cầu đa dạng của các đối tượng khách hàng. Khi chất lượng DVSNC do đơn vị sự nghiệp công cung ứng không đáp ứng được yêu cầu, một bộ phận khách hàng chuyển sang sử dụng DVSNC do khu vực tư cung ứng hoặc sử dụng DVSNC ở nước ngoài để thay thế DVSNC. Bộ phận này không lớn và tập trung ở những đối tượng có điều kiện về kinh tế. Phần còn lại là đại đa số người dân không hài lòng với chất lượng dịch vụ nhưng không có sự lựa chọn khác hoặc không đủ khả năng để đánh giá chất lượng dịch vụ nên yên tâm sử dụng. Khi không hài lòng về chất lượng DVSNC, mỗi bộ phận khách hàng có những cách phản hồi khác nhau hoặc là từ bỏ không khiếu nại; hoặc chấp nhận và khiếu nại; hoặc vừa từ bỏ vừa khiếu nại. Lựa chọn cách phản ứng nào phụ thuộc rất lớn vào nhận thức và sự hoàn thiện của cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC.

Nghiên cứu về cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC có thể thấy:

- Về xây dựng và công khai tiêu chuẩn DVSNC: Trong thời gian qua, cùng với quá trình xã hội hóa DVSNC, các tiêu chuẩn DVSNC đã được xây dựng ở nhiều lĩnh vực như giáo dục, khoa học, công nghệ... nhưng các tiêu chuẩn này, nhìn chung được quy định theo những quy chuẩn của quản lý nhà nước, nên bước đầu đem lại những chuẩn mực trong quản lý nhà nước về chất lượng DVSNC. Đặc biệt trong lĩnh vực y tế, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 hướng dẫn quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện với nguyên tắc “Lấy người bệnh làm trung tâm”. Tiếp đó, ngày 18/11/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam (phiên bản 2.0) kèm theo Quyết định số 6858/QĐ-BYT, gồm 83 tiêu chí cụ thể về chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn cho người bệnh; điều kiện cơ sở vật chất cho người bệnh; điều kiện chăm sóc người bệnh... Bộ tiêu chí này có ưu điểm là rất dễ dàng đánh giá cho đối tượng sử dụng dịch vụ, nên việc sử dụng trong lộ trình thực hiện Đề án giảm tải bệnh viện giai đoạn 2013 - 2020 đã và đang đem lại những thay đổi quan trọng về chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại các bệnh viện.

- Xây dựng và công khai thủ tục tiếp cận DVSNC: Thực hiện chủ trương chung về cải cách hành chính, các thủ tục tiếp cận dịch vụ công đã có những thay đổi đáng kể về tính minh bạch, đơn giản, dễ tiếp cận. Chẳng hạn, thủ tục tiếp cận các đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp bộ theo hình thức đấu thầu; thủ tục tiếp cận dịch vụ giáo dục mầm non, tiểu học, thể thao... cũng đã và đang hướng tới minh bạch hóa, phần nào hạn chế những chi phí không chính thức khi tiếp cận dịch vụ.

- Đa dạng cách lấy ý kiến khách hàng: Để không ngừng nâng cao chất lượng DVSNC, các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị trực tiếp cung ứng DVSNC thời gian qua đã rất coi trọng việc mở rộng các hình thức tiếp nhận ý kiến phản hồi của người dân về chất lượng DVSNC. Đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công, đa dạng cách lấy ý kiến của khách hàng chính là việc thực hiện Kết luận số 65-KL/TW ngày 04/02/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập… Trên cơ sở đó, nhiều hình thức tiếp nhận ý kiến phản hồi của nhân dân về dịch vụ công nói chung và DVSNC nói riêng đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện, mang lại niềm tin cho xã hội. Chẳng hạn, việc công bố số điện thoại, email, trang cá nhân của lãnh đạo các cơ quan hành chính nhà nước, số điện thoại đường dây nóng, lịch tiếp công dân tại các đơn vị cung cấp DVSNC; gặp mặt, đối thoại trực tiếp với người sử dụng dịch vụ... Đặc biệt, theo yêu cầu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, hình thức khảo sát chỉ số hài lòng của người dân về dịch vụ công nói chung trong đó có DVSNC do các đơn vị sự nghiệp công cung ứng đã mang lại những thay đổi quan trọng trong tư duy về mối quan hệ giữa Nhà nước, cá nhân và tổ chức sử dụng dịch vụ công. Mục tiêu của Chương trình là đến năm 2020, có trên 80% người dân hài lòng về dịch vụ y tế, giáo dục do các đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng. Thực hiện yêu cầu này, thời gian qua, các ngành y tế, giáo dục đã ban hành nhiều văn bản tổ chức thực hiện[3].

- Về cơ chế giải quyết khiếu nại: Hiện nay, khi khách hàng sử dụng các DVSNC, do đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng, mà bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp thì có thể sử dụng quyền khiếu nại hoặc khiếu kiện tới các chủ thể có thẩm quyền theo Luật Khiếu nại năm 2011, Nghị định số 75/2015/NĐ-CP và Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Theo đó, các quyết định, hành vi của các chủ thể trong đơn vị sự nghiệp công lập được gọi chung là các quyết định hành chính, hành vi hành chính và thủ tục giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện này được áp dụng chung với thủ tục giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước. Còn khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa chủ thể sử dụng với cá nhân, tổ chức cung ứng DVSNC do khu vực tư cung ứng thì giải quyết bằng thủ tục tố tụng dân sự.

Thực tế trên cho thấy, các nội dung trong cơ chế phản hồi của khách hàng về sử dụng DVSNC đã hình thành tương đối đồng bộ và đang ngày càng hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng DVSNC.

2.2. Những tồn tại và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được như trên, cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC cũng còn bộc lộ không ít bất cập:

- Các tiêu chuẩn về DVSNC trong nhiều lĩnh vực còn thiếu rõ ràng, minh bạch và người sử dụng dịch vụ khó kiểm soát.

- Thủ tục tiếp cận DVSNC công do các đơn vị sự nghiệp công cung ứng vẫn còn khá phức tạp và thiếu tính minh bạch. Các chi phí phi chính thức khi tiếp cận dịch vụ sự nghiệp công này vẫn tồn tại, gây ra tình trạng mất công bằng và bức xúc trong dư luận.

- Các hình thức phản hồi về DVSNC đã được bổ sung ngày càng đầy đủ nhưng vẫn còn hình thức, chưa thu hút được các ý kiến phản hồi của người dân; cơ chế phản hồi còn chậm trễ; quyền lợi của người phản hồi chưa được bảo vệ hiệu quả… Tư duy ban phát trong cung cấp DVSNC dẫn đến thái độ cửa quyền, hách dịch đối với người sử dụng dịch vụ trong các đơn vị sự nghiệp công vẫn còn tồn tại.

- Cơ chế giải quyết khiếu nại về DVSNC đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng còn rất nhiều phiền hà, chưa hiệu quả và chưa đem lại niềm tin cho người có quyền và lợi ích bị xâm phạm.

Những tồn tại trên có thể được lý giải bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, tư duy độc quyền cung ứng DVSNC thời tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại trong cơ chế quản lý các đơn vị sự nghiệp công hiện nay, thể hiện trong cơ chế quản lý biên chế, tài chính, tổ chức và hoạt động của các cơ quan chủ quản với đơn vị sự nghiệp công. Cơ chế này tồn tại làm cho các đơn vị sự nghiệp công thiếu động lực nâng cao chất lượng DVSNC trong cạnh tranh với các DVSN ở khu vực tư nhân. Đồng thời, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công cũng vì thế mà không được củng cố và đề cao, mất đi sức ép quan trọng đối với các tổ chức này trong việc nâng cao chất lượng DVSNC. Tư duy độc quyền chính là nguyên nhân của tình trạng hách dịch, cửa quyền trong cung ứng DVSNC; tình trạng thiếu minh bạch về trình tự thủ tục làm tăng chi phí không chính thức của chủ thể sử dụng DVSNC.

Với các cơ quan quản lý nhà nước về DVSNC, là chủ thể chịu trách nhiệm về DVSNC thuộc ngành, lĩnh vực nhất định. Khi tư duy độc quyền về cung ứng DVSNC vẫn còn tồn tại, thì việc chủ động hoàn thiện cơ chế phản hồi của chủ thể sử dụng DVSNC trong việc xây dựng kế hoạch, chính sách, tiêu chuẩn về DVSNC cũng chưa được chú trọng.

Thứ hai, nhận thức về chất lượng DVSNC của nhân dân nhìn chung còn hạn chế. Việc giám sát chất lượng DVSNC để có những phản hồi, khiếu nại gặp nhiều khó khăn. Lý do quan trọng là do đặc thù của DVSNC là những hoạt động chuyên môn, để đánh giá cần những người thực sự có chuyên môn về ngành, lĩnh vực đó. Trong khi cơ chế giải quyết khiếu nại của các đơn vị sự nghiệp công lập nhiều khi chưa rõ ràng, minh bạch, thậm chí còn có hiện tượng bao che trong xử lý, làm cho người sử dụng nghi ngờ về chất lượng DVSNC. Tình trạng hành hung bác sỹ ở một số bệnh viện công thời gian qua là một minh chứng quan trọng cho nhận định này.

Thêm vào đó, việc hầu hết các đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng DVSNC, nhưng lại tiếp cận từ góc độ chủ thể quản lý, chưa xuất phát từ những yêu cầu mà người sử dụng dịch vụ phải được đáp ứng khi sử dụng dịch vụ (ngoại trừ tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện do Bộ Y tế ban hành) là nguyên nhân làm cho đối tượng sử dụng gặp khó khăn trong phản hồi về DVSNC.

Thứ ba, việc áp dụng cơ chế giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước vào các đơn vị sự nghiệp công là không phù hợp, gây ra nhiều khó khăn, chậm trễ không cần thiết, ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng. Hơn nữa, cùng là cơ chế giải quyết khiếu nại nhưng đối với DVSNC do khu vực tư cung ứng lại giải quyết bằng thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự là không bình đẳng. Mặc dù, việc khiếu nại các quyết định, hành vi của đơn vị cung ứng DVSNC với khách hàng giải quyết bằng thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự là phù hợp. Khi đó, chủ thể cung ứng và chủ thể sử dụng dịch vụ đều bình đẳng tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại. Cơ chế này mang lại niềm tin cho người khiếu nại, nhưng đơn vị sự nghiệp công lập lại không được áp dụng. Điều này không phù hợp với mục tiêu của quá trình xã hội hoá là tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa công và tư.

3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, việc hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC phải trở thành mục tiêu, động lực thường xuyên của các cơ quan quản lý cũng như các đơn vị sự nghiệp công. Điều này chỉ có thể có được khi các cơ quan, tổ chức này phải là những chủ thể chịu trách nhiệm về chất lượng DVSNC. Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ công cũng như các đơn vị cung ứng DVSNC. Tách bạch trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước với các đơn vị sự nghiệp công, xoá bỏ chế độ chủ quản của cơ quan quản lý nhà nước với đơn vị sự nghiệp công. Từ đó, tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp công, đẩy mạnh xã hội hóa DVSNC và cạnh tranh công - tư trong cung ứng dịch vụ.

Thứ hai, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về trách nhiệm cung ứng DVSNC của Nhà nước như là trách nhiệm bảo đảm các quyền về an sinh xã hội, quyền về văn hóa - xã hội… của công dân. Nhà nước công bố những cam kết về tiêu chuẩn DVSNC với toàn xã hội. Hoàn thiện các quy định pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong cung ứng DVSNC theo hướng Nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm và công dân là người có quyền được hưởng DVSNC đảm bảo chất lượng. Từ đó, tăng cường tính chủ động của công dân trong phản hồi về DVSNC.

Thứ ba, đơn giản hóa và minh bạch các thủ tục tiếp cận DVSNC, hạn chế những phát sinh tiêu cực trong quá trình này. Đồng thời, hoàn thiện và công bố công khai các tiêu chuẩn chất lượng DVSNC làm cơ sở cho công tác thanh, kiểm tra của các cơ quan nhà nước cũng như quyền giám sát của nhân dân.

Thứ tư, tăng cường tính hiệu quả của các hình thức lấy ý kiến của người sử dụng DVSNC. Hoàn thiện cơ chế xác định chỉ số hài lòng của người sử dụng DVSNC, tránh tình trạng thực hiện một cách hình thức như đang diễn ra ở một số các DVSNC làm giảm lòng tin của nhân dân. Hơn nữa, trong điều kiện việc cung cấp DVSNC vẫn còn mang tính độc quyền thì việc lấy ý kiến của khách hàng cần có cơ chế để khách hàng được bảo vệ khỏi sự trù dập của đơn vị cung ứng.

Thứ năm, xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại phù hợp đối với đơn vị sự nghiệp công với tính chất là một đơn vị cung ứng dịch vụ: Đây là giải pháp cần thiết trong bối cảnh nâng cao tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công. Giải pháp này giúp các đơn vị sự nghiệp công chủ động xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại hiệu quả, tạo niềm tin cho khách hàng.

Thứ sáu, đẩy mạnh việc xã hội hoá DVSNC, thúc đẩy cạnh tranh công - tư: Đây là giải pháp quan trọng, tạo sức ép mạnh mẽ nâng cao chất lượng DVSNC tại các đơn vị sự nghiệp công. Khi đó, nhu cầu hướng đến thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, buộc các đơn vị sự nghiệp công phải hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC như là điều kiện sống còn của tổ chức.

TS. Vũ Ngọc Hà & TS. Trần Thị Thanh Mai

Học viện Hành chính Khu vực I

Tài liệu tham khảo:

[1]. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020.

[2]. PGS. TS. Nguyễn Hồng Sơn (2010), Lý thuyết của Hirschman về cơ chế phản hồi trong nền kinh tế thị trường và một số hàm ý cho việc phát triển dịch vụ công ở Việt Nam, Tạp chí khoa học, nguồn: https://js.vnu.edu.vn/EAB/article/view/879.

[3]. Xem thêm: Quyết định số 4939/QĐ-BYT ngày 15/9/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công, giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 2329/QĐ-BGDĐT ngày 11/7/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Bộ công cụ khảo sát và tài liệu hướng dẫn triển khai đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: