Thứ bảy 13/12/2025 14:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công

Tóm tắt: Bài viết đưa ra những nghiên cứu về sự cần thiết của cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công; đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về cơ chế này trên cơ sở nghiên cứu hai lĩnh vực y tế và giáo dục; đề xuất năm nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công.

Abstract: The article puts forth studies on the necessity of feedback mechanisms from public service users; evaluates the real law situation and law enforcement on this mechanism on the basis of two areas of health and education; and proposes five groups of solutions to improve the feedback mechanisms from publicservice users.

1. Sự cần thiết xây dựng cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công

Dịch vụ công là dịch vụ phục vụ nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước có trách nhiệm cung ứng cho xã hội (Nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyền cho khu vực tư) theo nguyên tắc công bằng và hiệu quả. Trong đó, dịch vụ sự nghiệp công (DVSNC) là một loại dịch vụ công hướng đến phục vụ các nhu cầu cơ bản về phát triển cá nhân con người, bao gồm các dịch vụ phục vụ phát triển trí lực, thể lực của cá nhân, phát triển xã hội.

Đối với việc phát triển DVSNC ở Việt Nam hiện nay, thực hiện chủ trương của Đảng “con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”[1], quản lý nhà nước về DVSNC đã và đang đặt ra nhiều thách thức lớn. Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết về vấn đề này, một mặt khẳng định chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa DVSNC, mặt khác, đưa ra những định hướng đổi mới đơn vị sự nghiệp công, như: Thông báo kết luận số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị; Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương VII (khóa XI)… Trong bối cảnh hiện nay, việc cung ứng DVSNC ở Việt Nam vẫn chủ yếu do Nhà nước đảm nhận, theo thống kê của Bộ Nội vụ đến tháng 6/2014, cả nước có trên 50.000 đơn vị sự nghiệp công lập; số lượng viên chức là 1.995.414 người. Thực tế trên cho thấy, trong nền kinh tế thị trường, khi DVSNC do khu vực tư cung ứng chiếm tỷ lệ không cao, quy mô nhỏ, mà việc cung ứng của các đơn vị sự nghiệp công lại gần như chiếm vị trí độc quyền, để nâng cao chất lượng DVSNC, không thể chỉ dựa vào các công cụ thanh tra, kiểm tra, giám sát từ phía Nhà nước. Việc hoàn thiện cơ chế phản hồi của khách hàng là vấn đề rất cấp thiết hiện nay. Phản hồi của người sử dụng DVSNC thường thể hiện dưới ba hình thức: Tham gia xây dựng thể chế cung ứng DVSNC; phản hồi về cách thức cung ứng và chất lượng DVSNC; khiếu nại về DVSNC.

Để xây dựng cơ chế phản hồi của khách hàng sử dụng DVSNC, các quốc gia thường quan tâm giải quyết các vấn đề sau:

(i) Xây dựng và công khai các tiêu chuẩn DVSNC;

(ii) Công khai, minh bạch các thủ tục tiếp cận DVSNC;

(iii) Đa dạng cách lấy ý kiến khách hàng như: Lập hộp thư góp ý của khách hàng; thông báo công khai số điện thoại hoặc email để khách hàng kiến nghị; công chức, viên chức tiếp xúc với khách hàng phải đeo biển có ghi tên, đơn vị công tác, mã số…; mở các cuộc thăm dò ý kiến khách hàng; bố trí lịch tiếp công dân của thủ trưởng cơ quan, tổ chức cung ứng dịch vụ công…

(iv) Xây dựng một cơ chế giải quyết khiếu nại dễ dàng tiếp cận đối với người sử dụng; vận hành đơn giản, quy định rõ trách nhiệm và thủ tục; công khai và được phổ biến rộng rãi trong công chúng; giải quyết khiếu nại nhanh chóng minh bạch kết quả xử lý; có thể thiết lập cơ chế điều tra khiếu nại độc lập; bảo vệ người khiếu nại, chống việc trù dập.

2. Thực trạng cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công ở Việt Nam hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được

Theo lý thuyết của Hirschman, đứng trước dịch vụ, sản phẩm không đáp ứng yêu cầu về chất lượng khách hàng có hai lựa chọn là “khiếu nại” và “từ bỏ” hoặc vừa “khiếu nại”, vừa “từ bỏ”[2]. Từ sau đổi mới đến nay, với chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, các DVSNC do khu vực tư cung ứng đã ngày càng được mở rộng hơn, đáp ứng phần nào nhu cầu đa dạng của các đối tượng khách hàng. Khi chất lượng DVSNC do đơn vị sự nghiệp công cung ứng không đáp ứng được yêu cầu, một bộ phận khách hàng chuyển sang sử dụng DVSNC do khu vực tư cung ứng hoặc sử dụng DVSNC ở nước ngoài để thay thế DVSNC. Bộ phận này không lớn và tập trung ở những đối tượng có điều kiện về kinh tế. Phần còn lại là đại đa số người dân không hài lòng với chất lượng dịch vụ nhưng không có sự lựa chọn khác hoặc không đủ khả năng để đánh giá chất lượng dịch vụ nên yên tâm sử dụng. Khi không hài lòng về chất lượng DVSNC, mỗi bộ phận khách hàng có những cách phản hồi khác nhau hoặc là từ bỏ không khiếu nại; hoặc chấp nhận và khiếu nại; hoặc vừa từ bỏ vừa khiếu nại. Lựa chọn cách phản ứng nào phụ thuộc rất lớn vào nhận thức và sự hoàn thiện của cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC.

Nghiên cứu về cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC có thể thấy:

- Về xây dựng và công khai tiêu chuẩn DVSNC: Trong thời gian qua, cùng với quá trình xã hội hóa DVSNC, các tiêu chuẩn DVSNC đã được xây dựng ở nhiều lĩnh vực như giáo dục, khoa học, công nghệ... nhưng các tiêu chuẩn này, nhìn chung được quy định theo những quy chuẩn của quản lý nhà nước, nên bước đầu đem lại những chuẩn mực trong quản lý nhà nước về chất lượng DVSNC. Đặc biệt trong lĩnh vực y tế, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 hướng dẫn quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện với nguyên tắc “Lấy người bệnh làm trung tâm”. Tiếp đó, ngày 18/11/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam (phiên bản 2.0) kèm theo Quyết định số 6858/QĐ-BYT, gồm 83 tiêu chí cụ thể về chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn cho người bệnh; điều kiện cơ sở vật chất cho người bệnh; điều kiện chăm sóc người bệnh... Bộ tiêu chí này có ưu điểm là rất dễ dàng đánh giá cho đối tượng sử dụng dịch vụ, nên việc sử dụng trong lộ trình thực hiện Đề án giảm tải bệnh viện giai đoạn 2013 - 2020 đã và đang đem lại những thay đổi quan trọng về chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại các bệnh viện.

- Xây dựng và công khai thủ tục tiếp cận DVSNC: Thực hiện chủ trương chung về cải cách hành chính, các thủ tục tiếp cận dịch vụ công đã có những thay đổi đáng kể về tính minh bạch, đơn giản, dễ tiếp cận. Chẳng hạn, thủ tục tiếp cận các đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp bộ theo hình thức đấu thầu; thủ tục tiếp cận dịch vụ giáo dục mầm non, tiểu học, thể thao... cũng đã và đang hướng tới minh bạch hóa, phần nào hạn chế những chi phí không chính thức khi tiếp cận dịch vụ.

- Đa dạng cách lấy ý kiến khách hàng: Để không ngừng nâng cao chất lượng DVSNC, các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị trực tiếp cung ứng DVSNC thời gian qua đã rất coi trọng việc mở rộng các hình thức tiếp nhận ý kiến phản hồi của người dân về chất lượng DVSNC. Đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công, đa dạng cách lấy ý kiến của khách hàng chính là việc thực hiện Kết luận số 65-KL/TW ngày 04/02/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập… Trên cơ sở đó, nhiều hình thức tiếp nhận ý kiến phản hồi của nhân dân về dịch vụ công nói chung và DVSNC nói riêng đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện, mang lại niềm tin cho xã hội. Chẳng hạn, việc công bố số điện thoại, email, trang cá nhân của lãnh đạo các cơ quan hành chính nhà nước, số điện thoại đường dây nóng, lịch tiếp công dân tại các đơn vị cung cấp DVSNC; gặp mặt, đối thoại trực tiếp với người sử dụng dịch vụ... Đặc biệt, theo yêu cầu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, hình thức khảo sát chỉ số hài lòng của người dân về dịch vụ công nói chung trong đó có DVSNC do các đơn vị sự nghiệp công cung ứng đã mang lại những thay đổi quan trọng trong tư duy về mối quan hệ giữa Nhà nước, cá nhân và tổ chức sử dụng dịch vụ công. Mục tiêu của Chương trình là đến năm 2020, có trên 80% người dân hài lòng về dịch vụ y tế, giáo dục do các đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng. Thực hiện yêu cầu này, thời gian qua, các ngành y tế, giáo dục đã ban hành nhiều văn bản tổ chức thực hiện[3].

- Về cơ chế giải quyết khiếu nại: Hiện nay, khi khách hàng sử dụng các DVSNC, do đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng, mà bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp thì có thể sử dụng quyền khiếu nại hoặc khiếu kiện tới các chủ thể có thẩm quyền theo Luật Khiếu nại năm 2011, Nghị định số 75/2015/NĐ-CP và Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Theo đó, các quyết định, hành vi của các chủ thể trong đơn vị sự nghiệp công lập được gọi chung là các quyết định hành chính, hành vi hành chính và thủ tục giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện này được áp dụng chung với thủ tục giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước. Còn khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa chủ thể sử dụng với cá nhân, tổ chức cung ứng DVSNC do khu vực tư cung ứng thì giải quyết bằng thủ tục tố tụng dân sự.

Thực tế trên cho thấy, các nội dung trong cơ chế phản hồi của khách hàng về sử dụng DVSNC đã hình thành tương đối đồng bộ và đang ngày càng hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng DVSNC.

2.2. Những tồn tại và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được như trên, cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC cũng còn bộc lộ không ít bất cập:

- Các tiêu chuẩn về DVSNC trong nhiều lĩnh vực còn thiếu rõ ràng, minh bạch và người sử dụng dịch vụ khó kiểm soát.

- Thủ tục tiếp cận DVSNC công do các đơn vị sự nghiệp công cung ứng vẫn còn khá phức tạp và thiếu tính minh bạch. Các chi phí phi chính thức khi tiếp cận dịch vụ sự nghiệp công này vẫn tồn tại, gây ra tình trạng mất công bằng và bức xúc trong dư luận.

- Các hình thức phản hồi về DVSNC đã được bổ sung ngày càng đầy đủ nhưng vẫn còn hình thức, chưa thu hút được các ý kiến phản hồi của người dân; cơ chế phản hồi còn chậm trễ; quyền lợi của người phản hồi chưa được bảo vệ hiệu quả… Tư duy ban phát trong cung cấp DVSNC dẫn đến thái độ cửa quyền, hách dịch đối với người sử dụng dịch vụ trong các đơn vị sự nghiệp công vẫn còn tồn tại.

- Cơ chế giải quyết khiếu nại về DVSNC đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng còn rất nhiều phiền hà, chưa hiệu quả và chưa đem lại niềm tin cho người có quyền và lợi ích bị xâm phạm.

Những tồn tại trên có thể được lý giải bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, tư duy độc quyền cung ứng DVSNC thời tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại trong cơ chế quản lý các đơn vị sự nghiệp công hiện nay, thể hiện trong cơ chế quản lý biên chế, tài chính, tổ chức và hoạt động của các cơ quan chủ quản với đơn vị sự nghiệp công. Cơ chế này tồn tại làm cho các đơn vị sự nghiệp công thiếu động lực nâng cao chất lượng DVSNC trong cạnh tranh với các DVSN ở khu vực tư nhân. Đồng thời, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công cũng vì thế mà không được củng cố và đề cao, mất đi sức ép quan trọng đối với các tổ chức này trong việc nâng cao chất lượng DVSNC. Tư duy độc quyền chính là nguyên nhân của tình trạng hách dịch, cửa quyền trong cung ứng DVSNC; tình trạng thiếu minh bạch về trình tự thủ tục làm tăng chi phí không chính thức của chủ thể sử dụng DVSNC.

Với các cơ quan quản lý nhà nước về DVSNC, là chủ thể chịu trách nhiệm về DVSNC thuộc ngành, lĩnh vực nhất định. Khi tư duy độc quyền về cung ứng DVSNC vẫn còn tồn tại, thì việc chủ động hoàn thiện cơ chế phản hồi của chủ thể sử dụng DVSNC trong việc xây dựng kế hoạch, chính sách, tiêu chuẩn về DVSNC cũng chưa được chú trọng.

Thứ hai, nhận thức về chất lượng DVSNC của nhân dân nhìn chung còn hạn chế. Việc giám sát chất lượng DVSNC để có những phản hồi, khiếu nại gặp nhiều khó khăn. Lý do quan trọng là do đặc thù của DVSNC là những hoạt động chuyên môn, để đánh giá cần những người thực sự có chuyên môn về ngành, lĩnh vực đó. Trong khi cơ chế giải quyết khiếu nại của các đơn vị sự nghiệp công lập nhiều khi chưa rõ ràng, minh bạch, thậm chí còn có hiện tượng bao che trong xử lý, làm cho người sử dụng nghi ngờ về chất lượng DVSNC. Tình trạng hành hung bác sỹ ở một số bệnh viện công thời gian qua là một minh chứng quan trọng cho nhận định này.

Thêm vào đó, việc hầu hết các đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng DVSNC, nhưng lại tiếp cận từ góc độ chủ thể quản lý, chưa xuất phát từ những yêu cầu mà người sử dụng dịch vụ phải được đáp ứng khi sử dụng dịch vụ (ngoại trừ tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện do Bộ Y tế ban hành) là nguyên nhân làm cho đối tượng sử dụng gặp khó khăn trong phản hồi về DVSNC.

Thứ ba, việc áp dụng cơ chế giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước vào các đơn vị sự nghiệp công là không phù hợp, gây ra nhiều khó khăn, chậm trễ không cần thiết, ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng. Hơn nữa, cùng là cơ chế giải quyết khiếu nại nhưng đối với DVSNC do khu vực tư cung ứng lại giải quyết bằng thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự là không bình đẳng. Mặc dù, việc khiếu nại các quyết định, hành vi của đơn vị cung ứng DVSNC với khách hàng giải quyết bằng thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự là phù hợp. Khi đó, chủ thể cung ứng và chủ thể sử dụng dịch vụ đều bình đẳng tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại. Cơ chế này mang lại niềm tin cho người khiếu nại, nhưng đơn vị sự nghiệp công lập lại không được áp dụng. Điều này không phù hợp với mục tiêu của quá trình xã hội hoá là tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa công và tư.

3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng dịch vụ sự nghiệp công

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, việc hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC phải trở thành mục tiêu, động lực thường xuyên của các cơ quan quản lý cũng như các đơn vị sự nghiệp công. Điều này chỉ có thể có được khi các cơ quan, tổ chức này phải là những chủ thể chịu trách nhiệm về chất lượng DVSNC. Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ công cũng như các đơn vị cung ứng DVSNC. Tách bạch trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước với các đơn vị sự nghiệp công, xoá bỏ chế độ chủ quản của cơ quan quản lý nhà nước với đơn vị sự nghiệp công. Từ đó, tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp công, đẩy mạnh xã hội hóa DVSNC và cạnh tranh công - tư trong cung ứng dịch vụ.

Thứ hai, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về trách nhiệm cung ứng DVSNC của Nhà nước như là trách nhiệm bảo đảm các quyền về an sinh xã hội, quyền về văn hóa - xã hội… của công dân. Nhà nước công bố những cam kết về tiêu chuẩn DVSNC với toàn xã hội. Hoàn thiện các quy định pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong cung ứng DVSNC theo hướng Nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm và công dân là người có quyền được hưởng DVSNC đảm bảo chất lượng. Từ đó, tăng cường tính chủ động của công dân trong phản hồi về DVSNC.

Thứ ba, đơn giản hóa và minh bạch các thủ tục tiếp cận DVSNC, hạn chế những phát sinh tiêu cực trong quá trình này. Đồng thời, hoàn thiện và công bố công khai các tiêu chuẩn chất lượng DVSNC làm cơ sở cho công tác thanh, kiểm tra của các cơ quan nhà nước cũng như quyền giám sát của nhân dân.

Thứ tư, tăng cường tính hiệu quả của các hình thức lấy ý kiến của người sử dụng DVSNC. Hoàn thiện cơ chế xác định chỉ số hài lòng của người sử dụng DVSNC, tránh tình trạng thực hiện một cách hình thức như đang diễn ra ở một số các DVSNC làm giảm lòng tin của nhân dân. Hơn nữa, trong điều kiện việc cung cấp DVSNC vẫn còn mang tính độc quyền thì việc lấy ý kiến của khách hàng cần có cơ chế để khách hàng được bảo vệ khỏi sự trù dập của đơn vị cung ứng.

Thứ năm, xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại phù hợp đối với đơn vị sự nghiệp công với tính chất là một đơn vị cung ứng dịch vụ: Đây là giải pháp cần thiết trong bối cảnh nâng cao tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công. Giải pháp này giúp các đơn vị sự nghiệp công chủ động xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại hiệu quả, tạo niềm tin cho khách hàng.

Thứ sáu, đẩy mạnh việc xã hội hoá DVSNC, thúc đẩy cạnh tranh công - tư: Đây là giải pháp quan trọng, tạo sức ép mạnh mẽ nâng cao chất lượng DVSNC tại các đơn vị sự nghiệp công. Khi đó, nhu cầu hướng đến thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, buộc các đơn vị sự nghiệp công phải hoàn thiện cơ chế phản hồi của người sử dụng DVSNC như là điều kiện sống còn của tổ chức.

TS. Vũ Ngọc Hà & TS. Trần Thị Thanh Mai

Học viện Hành chính Khu vực I

Tài liệu tham khảo:

[1]. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020.

[2]. PGS. TS. Nguyễn Hồng Sơn (2010), Lý thuyết của Hirschman về cơ chế phản hồi trong nền kinh tế thị trường và một số hàm ý cho việc phát triển dịch vụ công ở Việt Nam, Tạp chí khoa học, nguồn: https://js.vnu.edu.vn/EAB/article/view/879.

[3]. Xem thêm: Quyết định số 4939/QĐ-BYT ngày 15/9/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công, giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 2329/QĐ-BGDĐT ngày 11/7/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Bộ công cụ khảo sát và tài liệu hướng dẫn triển khai đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.

Theo dõi chúng tôi trên: