Thứ tư 26/08/2026 14:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về điều tra tội phạm xuyên quốc gia

Bài viết phân tích, đánh giá khái quát thực trạng hệ thống cơ sở pháp lý về điều tra tội phạm xuyên quốc gia ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng hoàn thiện cơ sở pháp lý về vấn đề này, góp phần tạo thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền áp dụng vào quá trình điều tra tội phạm.


1. Thực trạng cơ sở pháp lý về điều tra tội phạm xuyên quốc gia ở Việt Nam hiện nay

Trong những năm qua, tình hình tội phạm xuyên quốc gia có liên quan đến Việt Nam diễn biến khá phức tạp, ngày càng gia tăng về số vụ, số đối tượng phạm tội, trong đó nhiều hoạt động phạm tội xuyên quốc gia mới đã nảy sinh như tội phạm rửa tiền, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, tội phạm tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài… Đặc biệt, do ham lợi, các đối tượng trong và ngoài nước đã đẩy mạnh việc móc nối, liên kết, hình thành đường dây tội phạm xuyên quốc gia hoạt động chuyên nghiệp và thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trước tình hình này, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra tội phạm xuyên quốc gia cũng như đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã chủ động xây dựng, ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật cũng như tham gia, ký kết các điều ước quốc tế đa phương, song phương điều chỉnh trực tiếp toàn bộ quá trình điều tra tội phạm xuyên quốc gia.

Hiện nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong nước điều chỉnh trực tiếp toàn bộ quá trình điều tra tội phạm xuyên quốc gia gồm: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011; Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012… Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật này đã quy định cụ thể về từng tội phạm, trong đó quy định cụ thể về một số tội phạm có tính chất xuyên quốc gia; quy định về từng hoạt động mà cơ quan có thẩm quyền điều tra được áp dụng trong quá trình điều tra tội phạm xuyên quốc gia; quy định về việc hợp tác quốc tế trong điều tra tội phạm xuyên quốc gia… Đặc biệt, các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự hiện hành đã nội luật hóa các quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 (Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia) như nội luật hóa hành vi tham gia nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm bao gồm cả pháp nhân thương mại; bổ sung chế định về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; cụ thể hóa các quy định về hợp tác quốc tế, trong đó đã xác định giá trị pháp lý của tài liệu, đồ vật thu thập được qua hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, xử lý tài sản do phạm tội mà có; bổ sung các quy định về việc phối hợp điều tra, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt...

Về các điều ước quốc tế đa phương, tính đến hiện nay, Việt Nam là thành viên của các công ước của Liên Hợp quốc về phòng, chống ma túy, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống tham nhũng và Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN. Đồng thời, Việt Nam đã ký kết 12 hiệp định tương trợ tư pháp chung bao gồm cả lĩnh vực dân sự và hình sự, 11 hiệp định chuyên biệt tương trợ tư pháp về hình sự và 14 hiệp định chuyên biệt về dẫn độ tội phạm với các nước trên thế giới. Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam, Bộ Công an Việt Nam đã ký kết với Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Nội vụ của các nước trên thế giới các hiệp định, thỏa thuận quốc tế về hiệp định, văn bản thỏa thuận liên quan đến phòng, chống tội phạm nói chung, phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia nói riêng... Nội dung các điều ước quốc tế nói trên là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền điều tra thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế trong điều tra tội phạm xuyên quốc gia.

Mặc dù, cơ sở pháp lý quy định về điều tra tội phạm xuyên quốc gia nói trên đã giúp các cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng, giải quyết điều tra vụ án hình sự về các tội phạm này. Tuy nhiên, trong thực tiễn điều tra tội phạm này, các cơ quan có thẩm quyền vẫn còn gặp phải một số khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả các hoạt động điều tra, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật. Cụ thể:

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam chưa giải thích cụ thể thuật ngữ “tội phạm xuyên quốc gia”. Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chỉ có Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 có đề cập đến thuật ngữ “tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia” khi đưa ra quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng tại Điều 19 và Điều 26. Tuy nhiên, thuật ngữ “tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia” nói riêng, “tội phạm xuyên quốc gia” nói chung chưa được giải thích trong Luật này. Điều đó đã dẫn đến có những cách hiểu và quan điểm khác nhau về tội phạm xuyên quốc gia cũng như việc vận dụng vào thực tiễn điều tra tội phạm này cũng có sự khác nhau giữa các chủ thể có thẩm quyền.

Thứ hai, quy định về thẩm quyền điều tra tội phạm xuyên quốc gia, điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài giữa Cơ quan điều tra của Công an nhân dân trong Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 chưa đảm bảo sự thống nhất. Theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, trong lực lượng Công an nhân dân, cơ quan có thẩm quyền điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài gồm Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh; thẩm quyền điều tra tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an. Tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ luật hình sự quốc tế, các thuật ngữ “tội phạm xuyên quốc gia” và “tội phạm có yếu tố nước ngoài” có sự giao thoa với nhau. Tội phạm xuyên quốc gia luôn luôn có yếu tố nước ngoài, còn tội phạm có yếu tố nước ngoài không hoàn toàn đều là tội phạm xuyên quốc gia. Theo cách tiếp cận này, Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh có thẩm quyền điều tra tội phạm xuyên quốc gia nói riêng, điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài nói chung. Mặt khác, thực tiễn điều tra vụ án hình sự trong thời gian qua cho thấy, Cơ quan an ninh điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh đã thụ lý điều tra nhiều vụ án hình sự về tội phạm xuyên quốc gia như tội phạm buôn lậu, tội phạm tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, tội phạm về ma túy... Do đó, việc quy định như trên chưa phù hợp trong việc phân định cụ thể về thẩm quyền điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm xuyên quốc gia.

Thứ ba, chế định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về các biện pháp, hoạt động điều tra còn thiếu văn bản hướng dẫn thực thi. Thực tiễn cho thấy, so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung, thay thế nhiều chế định về các biện pháp, hoạt động điều tra như: Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp; biện pháp phong tỏa tài khoản; biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân; xử lý tài sản do phạm tội mà có; phối hợp điều tra, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt… Tuy nhiên, nhiều quy định về các biện pháp, hoạt động điều tra còn chưa có văn bản hướng dẫn thực thi của cơ quan có thẩm quyền. Điều đó đã làm cho cơ quan có thẩm quyền điều tra tội phạm xuyên quốc gia gặp lúng túng trong thực tiễn áp dụng các quy định này.

Thứ tư, một số quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 còn bất cập, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền áp dụng vào thực tiễn điều tra tội phạm xuyên quốc gia. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 điều chỉnh hoạt động tương trợ tư pháp trong 04 lĩnh vực là dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài. Đối với lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự, hiện nay việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi từng hoạt động cụ thể được quy định trong của Luật Tương trợ tư pháp còn chậm. Trong khi đó, các quy định về tương trợ tư pháp hình sự còn tản mạn ở các chương; một số quy định còn chung chung, chưa cụ thể như chưa có quy định về trách nhiệm của từng cơ quan trong thực hiện quan hệ phối hợp thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm. Bên cạnh đó, một số quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 chưa tương thích với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về các hoạt động hợp tác quốc tế như việc xem xét, xử lý yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ mâu thuẫn với quy định không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị từ chối dẫn độ theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp...

Thứ năm, số lượng các điều ước quốc tế song phương giữa Việt Nam ký kết với các quốc gia trên thế giới về tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ tội phạm còn hạn chế. Thực tiễn điều tra tội phạm xuyên quốc gia cho thấy, các cơ quan có thẩm quyền chủ yếu căn cứ vào điều ước quốc tế song phương làm căn cứ pháp lý thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế với cơ quan thực thi pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, số lượng các quốc gia mà Việt Nam đã ký kết các điều ước quốc tế song phương về phòng, chống tội phạm cũng như điều ước song phương tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ tội phạm còn hạn chế. Các nước mà Việt Nam đã ký kết hiệp định song phương về vấn đề nói trên chủ yếu là các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây. Nhiều hiệp định được ký kết trước khi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành, cho nên một số nội dung không còn phù hợp.

2. Đề xuất góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về điều tra tội phạm xuyên quốc gia

Trong thời gian tới, trước những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, của nền kinh tế thị trường, tình hình tội phạm xuyên quốc gia liên quan đến Việt Nam tiếp tục diễn biến ngày càng phức tạp. Đặc biệt, trong thời gian tới, hoạt động phạm tội xuyên quốc gia sẽ được các đối tượng khai thác, ứng dụng triệt để thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Do đó, số lượng vụ án, số đối tượng phạm tội xuyên quốc gia ngày càng gia tăng, tội phạm xuyên quốc gia xảy ra ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới, hậu quả của tội phạm sẽ ngày càng nghiêm trọng. Trước tình hình này, yêu cầu hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý quy định về điều tra tội phạm xuyên quốc gia nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra tội phạm này là việc làm hết sức cấp thiết. Muốn vậy, trong thời gian tới các cơ quan có thẩm quyền cần chú ý thực hiện tốt một số vấn đề sau đây:

Một là, tiếp tục nội luật hóa các quy định của Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Trong thời gian tới, cơ quan có thẩm quyền cần tập hợp, phân tích, đánh giá những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật hình sự đối với thực tiễn điều tra tội phạm xuyên quốc gia để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Mặt khác, tiếp tục nghiên cứu nội luật hóa quy định Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vào quy định của Bộ luật Hình sự. Theo đó, đối với một số tội phạm có thể có tính chất xuyên quốc gia được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành thì bổ sung tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với trường hợp hành vi phạm tội do nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện. Đồng thời, nghiên cứu, chỉnh sửa các điều luật về hành vi tham nhũng (trong đó tập trung vào tội đưa hối lộ, nhận hối lộ), hành vi rửa tiền, hành vi cản trở công lý sao cho phù hợp với Công ước, pháp luật Việt Nam.

Hai là, bổ sung điều khoản giải thích các thuật ngữ “tội phạm có yếu tố nước ngoài”, “tội phạm xuyên quốc gia”, “tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia” trong Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015. Việc giải thích các thuật ngữ này sẽ góp phần thống nhất nhận thức cho toàn bộ các cơ quan có thẩm quyền điều tra xác định đúng vụ án về tội phạm đang điều tra, từ đó áp dụng hiệu quả các điều ước quốc tế đa phương, song phương mà Việt Nam đã tham gia, ký kết. Để đưa ra được khái niệm về các thuật ngữ nói trên đòi hỏi các nhà lập pháp phải căn cứ vào thực tiễn công tác điều tra cũng như bám sát vào điều ước quốc tế đa phương có đề cập đến lĩnh vực này, trong đó tập trung là Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Dựa vào giải thích về các thuật ngữ nói trên, các nhà lập pháp tiếp tục xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn trong xác định phạm vi thẩm quyền điều tra của các cơ quan có thẩm quyền sao cho phù hợp với thực tiễn và quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

Ba là, tiếp tục xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng, ban hành hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, trong đó tập trung vào các biện pháp, hoạt động tố tụng hình sự mới như các biện pháp ngăn chặn mới, các biện pháp cưỡng chế, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt... Đặc biệt, đối với các quy định trong Chương XXXV, Chương XXXVI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần có văn bản hướng dẫn thi hành quy định cụ thể về các hoạt động hợp tác quốc tế khác theo quy định tại khoản 2 Điều 493; quy định cụ thể về nội dung, hình thức và thủ tục hợp tác quốc tế trong các hoạt động như tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án; trường hợp phối hợp điều tra chung, thực hiện các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt... Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục nghiên cứu, nội luật hóa bổ sung biện pháp vận chuyển có kiểm soát là một trong các biện pháp điều tra đặc biệt có sự hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia; bổ sung trường hợp cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể lấy lời khai người làm chứng hoặc chuyên gia đang cư trú tại nước ngoài qua hình thức video trực tuyến và ngược lại theo đúng tinh thần Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Bốn là, ban hành văn bản hướng dẫn thực thi các quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần khẩn trương nghiên cứu, chỉnh sửa các quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng như các điều ước quốc tế đa phương, song phương mà Việt Nam đã tham gia, ký kết. Đồng thời, cần nhanh chóng xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thực thi quy định của Luật Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự. Các văn bản hướng dẫn này tập trung quy định rõ về trình tự, thủ tục thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm. Mặt khác, về lâu dài có thể nghiên cứu xây dựng các luật độc lập như Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, Luật Dẫn độ và chuyển giao người bị kết án phạt tù. Việc xây dựng các đạo luật độc lập này phải căn cứ vào quy định của Luật Tương trợ tư pháp hiện hành, thực tiễn áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền tố tụng của Việt Nam, các điều ước quốc tế đa phương và song phương mà Việt Nam đã tham gia ký kết và tiếp thu quan điểm của các quốc gia có nền pháp luật tiến bộ trên thế giới.

Năm là, đẩy mạnh việc ký kết các điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ tội phạm và hợp tác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng tích cực tham gia thỏa thuận, ký kết các điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ tội phạm; về hợp tác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Việc ký kết điều ước quốc tế song phương với các quốc gia trên thế giới cần được thực hiện theo hướng ưu tiên ký kết với các quốc gia mà hoạt động phạm tội xuyên quốc gia xảy ra ở quốc gia đó có liên quan đến Việt Nam và ngược lại. Để thỏa thuận, ký kết các điều ước quốc tế song phương nói trên với các quốc gia trên thế giới, các cơ quan chức năng cần cân nhắc đảm bảo lợi ích của Việt Nam, không trái với thông lệ quốc tế.

Sáu là, nghiên cứu rút bảo lưu quy định về dẫn độ tội phạm trong Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Mặc dù, việc bảo lưu quy định về dẫn độ tội phạm không trái với quy định của Công ước, của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, việc bảo lưu quy định về dẫn độ tội phạm sẽ gây những khó khăn cho cơ quan chức năng thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong điều tra tội phạm xuyên quốc gia nói riêng, trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia nói chung. Do đó, thời gian tới các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, đề xuất với cấp có thẩm quyền rút bảo lưu đối với quy định về dẫn độ tội phạm trong Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Việc rút bảo lưu về quy định này sẽ thể hiện được thiện chí hợp tác, cũng như vai trò, vị thế của Việt Nam trong hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Mặt khác, việc rút bảo lưu quy định về dẫn độ tội phạm sẽ giúp cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có căn cứ pháp lý thực hiện dẫn độ tội phạm, nhất là trong trường hợp giữa Việt Nam với các quốc gia có liên quan chưa có hiệp định song phương về dẫn độ tội phạm.

ThS. Sái Ngọc Hưng

Học viện An ninh nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: