Chủ nhật 15/03/2026 04:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về thực hiện biện pháp áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính thuộc chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của bộ đội biên phòng

Bộ đội biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà nước, là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất liền, các hải đảo, vùng biển và tại các cửa khẩu theo phạm vi nhiệm vụ

1. Thực trạng pháp luật về thực hiện biện pháp áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính thuộc chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của bộ đội biên phòng

Bộ đội biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà nước, là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất liền, các hải đảo, vùng biển và tại các cửa khẩu theo phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, trong đó, có thẩm quyền xử phạt các vi phạm hành chính (VPHC) và áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý VPHC, trong đó có biện pháp áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính (TTHC). Cùng với đó, áp giải người vi phạm theo TTHC cũng là một trong hai biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý VPHC được quy định tại Luật xử lý VPHC năm 2012 nhằm tạo cơ sở pháp lý cho người có thẩm quyền xử lý VPHC thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình và bảo đảm cho việc xử lý VPHC nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật. Để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành biện pháp này, ngày 02/10/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 112/2013/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo TTHC và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất (Nghị định số 112/2013/NĐ-CP). Theo đó, chiến sĩ Bộ đội biên phòng đang thi hành công vụ được thực hiện việc áp giải người vi phạm theo TTHC. Khi thực hiện áp giải, chiến sĩ Bộ đội biên phòng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật về việc áp giải người vi phạm theo TTHC. Thực tiễn thực hiện các quy định nêu trên cơ bản là thuận lợi, cơ bản đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của lực lượng Bộ đội Biên phòng; tuy nhiên cũng đã nảy sinh một số khó khăn, vướng mắc nhất định, cụ thể như sau:

Một là, chưa có sự phân biệt rõ ràng, rành mạch giữa biện pháp áp giải người vi phạm theo TTHC với dẫn giải người vi phạm. Thực tiễn cho thấy, các VPHC diễn ra tại địa bàn quản lý của bộ đội biên phòng có số lượng tương đối lớn (chỉ tính riêng trong 04 tháng đầu năm 2015, các đơn vị bộ đội biên phòng đã tiến hành xử phạt VPHC 748 vụ với 1.445 đối tượng; trong đó, phạt tiền 513 vụ với 1.272 đối tượng, thu nộp ngân sách nhà nước 3.462.550.000 VNĐ, bàn giao cho các cơ quan chức năng xử lý theo quy định pháp luật 1.875 vụ với 3.867 đối tượng); chủ yếu các vi phạm này diễn ra ở những điểm cách xa đồn biên phòng như tại đường mòn biên giới, trên sông, suối biên giới hoặc trên vùng biển thuộc thẩm quyền hoặc những nơi có địa hình hiểm trở hay diễn ra vào ban đêm. Riêng đối với các vi phạm pháp luật về xuất, nhập cảnh của công dân nước tiếp giáp, bộ đội biên phòng tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế song phương đã được ký kết rồi trao trả cho công an nước láng giềng. Ngược lại, với vi phạm pháp luật về xuất, nhập cảnh, cư trú trái phép ở bên kia biên giới của người Việt Nam, bộ đội biên phòng thực hiện việc tiếp nhận từ cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng. Để đưa các đối tượng vi phạm về đơn vị bộ đội biên phòng xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển giao cho cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật; việc tiếp nhận công dân Việt Nam từ cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng hay tiến hành các hoạt động cần thiết rồi trao trả đối tượng vi phạm cho công an nước láng giềng, cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên phòng luôn phải tiến hành các biện pháp cần thiết, trong đó có biện pháp dẫn giải người vi phạm.

Dẫn giải người vi phạm không chỉ là một trong những hoạt động thuộc quy trình xử lý VPHC của các đơn vị bộ đội biên phòng, mà còn được thực hiện trong nhiều trường hợp khác và thường do người có thẩm quyền xử phạt VPHC tiến hành, xuất phát từ thực tiễn khách quan như đặc thù về địa bàn quản lý, về tính chất, đặc điểm của các VPHC và yêu cầu bảo đảm xử lý VPHC (không để đối tượng vi phạm bỏ trốn, tẩu tán, tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm)… Quá trình thực hiện hoạt động dẫn giải người vi phạm có vận dụng tổng hợp các biện pháp công tác biên phòng, đặc biệt là vũ trang, trinh sát, vận động quần chúng và có thể sử dụng các loại công cụ, phương tiện hỗ trợ trong trường hợp cần thiết. Do đó, dẫn giải người vi phạm có nhiều điểm tương đồng với biện pháp áp giải người vi phạm theo TTHC về mục đích, cách thức tiến hành nên thực tế đã dẫn đến tình trạng có sự đồng nhất trong cách hiểu và áp dụng hai biện pháp này. Tuy nhiên, xét dưới phương diện pháp lý, theo chúng tôi, giữa hai biện pháp này có sự khác nhau về nội dung, hình thức và thủ tục pháp lý. Nếu "dẫn giải người vi phạm" được hiểu là hoạt động do bất kỳ cá nhân, tổ chức nào tiến hành để đưa người vi phạm đến giao cho người có thẩm quyền tạm giữ người theo TTHC. Trong khi đó, áp giải người vi phạm theo TTHC đòi hỏi phải tuân thủ quy định pháp luật về nguyên tắc, thẩm quyền, trường hợp áp dụng, thủ tục thực hiện một cách chặt chẽ. Còn dưới góc độ khoa học Luật hành chính, áp giải người vi phạm theo TTHC là biện pháp cưỡng chế hành chính thuộc nhóm các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý VPHC, được thực hiện thông qua hoạt động ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật (quyết định áp giải người vi phạm theo TTHC và các loại biên bản), còn dẫn giải người vi phạm xét về bản chất cũng biện pháp cưỡng chế hành chính, mặc dù chưa được thừa nhận chung nhưng có thể phân loại và sắp xếp vào nhóm các biện pháp phòng ngừa hành chính (phòng ngừa hành vi chống người thi hành công vụ, bỏ trốn, trốn tránh việc xử lý).

Hai là, quy định về thủ tục áp giải người vi phạm chưa cụ thể, rõ ràng; một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động của bộ đội biên phòng. Điều 26 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP chưa thể hiện được toàn bộ thủ tục thực hiện việc áp giải như tên gọi của điều luật này. Quy định về ra quyết định áp giải người vi phạm; giao nhận người bị áp giải (kèm theo biên bản giao, nhận); lập biên bản áp giải; lập biên bản về việc người vi phạm bỏ trốn được thể hiện ở các chương, mục khác nhau, dẫn đến nảy sinh cách hiểu không thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, hệ thống biểu mẫu trong xử phạt VPHC lại thiếu hoặc chưa đầy đủ, hoàn thiện các mẫu quyết định áp giải người vi phạm, biên bản áp giải, biên bản giao nhận người VPHC bị áp giải, biên bản về việc người bị áp giải bỏ trốn. Nếu sử dụng các mẫu văn bản như biên bản bàn giao người bị tạm giữ theo TTHC và biên bản giao nhận thì nội dung không phù hợp với quy định về lập biên bản áp giải. Có ý kiến cho rằng, thủ tục áp giải bắt đầu bằng việc người có thẩm quyền ra quyết định về việc áp giải người vi phạm theo TTHC bằng văn bản theo khoản 3 Điều 3 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP. Khi tiến hành áp giải, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải phải tiến hành các hoạt động được quy định từ Điều 26 đến Điều 29 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP. Trong khi đó, một số ý kiến khác lại cho rằng, thủ tục thực hiện việc áp giải chỉ gồm các quy định từ Điều 26 đến Điều 29 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP, trong đó, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải chỉ cần lập biên bản áp giải có cả nội dung giao nhận như quy định tại Điều 28 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP hoặc chỉ cần lập biên bản giao, nhận người bị áp giải.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP, bộ đội biên phòng đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải người vi phạm khi người đó không tự nguyện chấp hành yêu cầu của người có thẩm quyền và thuộc các trường hợp như bị tạm giữ người theo TTHC; đưa trở lại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; người bị trục xuất không tự giác chấp hành quyết định xử phạt trục xuất hoặc có hành vi chống đối, bỏ trốn. Do bộ đội biên phòng không có thẩm quyền quyết định phạt trục xuất nên không thể áp giải người vi phạm trong trường hợp này. Việc đưa người bỏ trốn trở lại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có thể xảy ra, nhưng chủ yếu là dẫn giải và bàn giao cho cơ quan công an cấp huyện, không thực hiện các thủ tục khác, nhất là thủ tục được quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP là “đến địa điểm thực hiện áp giải phải mời đại diện chính quyền địa phương nơi người bị áp giải cư trú hoặc đang bị quản lý, đại diện cơ quan, tổ chức nơi người bị áp giải làm việc, học tập và người chứng kiến”.

Ba là, về thẩm quyền thực hiện việc áp giải người vi phạm theo TTHC. Theo quy định pháp luật, để thực hiện biện pháp áp giải người vi phạm, chiến sĩ bộ đội biên phòng đang thi hành công vụ phải ban hành quyết định áp giải người vi phạm theo TTHC bằng văn bản và phải giao cho người bị áp giải một bản. Tuy nhiên, nếu ban hành quyết định trong trường hợp địa điểm phát hiện vi phạm xa đơn vị thì quyết định này chưa phát huy được hiệu lực pháp lý cao vì không có dấu đơn vị. Còn trường hợp việc áp giải người vi phạm từ đơn vị bộ đội biên phòng đến cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết vụ việc (với các vi phạm không thuộc thẩm quyền giải quyết của bộ đội biên phòng); chuyển vụ việc vi phạm từ cấp đồn biên phòng lên cấp trên giải quyết hoặc áp giải người vi phạm ra khu vực sát đường biên giới để trao trả cho cơ quan có thẩm quyền nước láng giềng, thì việc chiến sĩ bộ đội biên phòng ban hành quyết định áp giải người vi phạm và tổ chức thực hiện là chưa phù hợp với thực tiễn công tác tổ chức, chỉ huy, điều hành của các đơn vị bộ đội biên phòng và công tác đối ngoại.

2. Một số kiến nghị, đề xuất

Để khắc phục các vướng mắc nêu trên và phát huy hiệu quả của biện pháp áp giải người vi phạm theo TTHC trong thực tiễn hoạt động của bộ đội biên phòng, bảo đảm đúng đối tượng, đúng thủ tục, đúng thẩm quyền, theo chúng tôi, trong thời gian tới cần thực hiện một số công việc sau:

- Đề nghị các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng trình lãnh đạo Bộ Quốc phòng ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, rõ ràng thủ tục áp dụng biện pháp áp giải người vi phạm, bao gồm trình tự các bước cần thực hiện trong quá trình áp giải; đồng thời, đề xuất ban hành bổ sung các mẫu biểu về áp giải người vi phạm theo TTHC cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của các đơn vị trong quân đội nhân dân, trong đó có việc thực hiện biện pháp áp giải người vi phạm theo TTHC của bộ đội biên phòng. Bộ Tư lệnh bộ đội biên phòng thường xuyên quan tâm, chú trọng đến việc tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm phổ biến, quán triệt, tập huấn chuyên sâu Luật Xử lý VPHC năm 2012 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, trong đó có các quy định về áp giải người vi phạm theo TTHC cho cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên phòng (sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp không giữ chức vụ từ đội trưởng, trạm trưởng, đội phó, trạm phó trở lên). Nội dung phổ biến, quán triệt, tập huấn cần đi sâu làm rõ sự khác biệt giữa áp giải người vi phạm theo TTHC với dẫn giải người vi phạm, trình tự thực hiện và phương pháp soạn thảo quyết định và các biên bản về áp giải người vi phạm theo TTHC.

- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về áp giải người vi phạm theo TTHC cho phù hợp thực tiễn công tác đấu tranh, xử lý VPHC của bộ đội biên phòng, trong đó cần có giải thích chính thức về thuật ngữ “áp giải người vi phạm theo TTHC”, tránh cách hiểu không đúng, nhầm lẫn biện pháp này với dẫn giải người vi phạm hoặc biện pháp “dẫn giải” trong tố tụng hình sự, thi hành án hình sự; bổ sung trường hợp về người không tự nguyện chấp hành yêu cầu của người có thẩm quyền là người thực hiện hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, hàng cấm qua biên giới; người vi phạm quy chế biên giới; người thực hiện hành vi VPHC ở nơi cách xa đơn vị bộ đội biên phòng và bổ sung thẩm quyền các chức danh quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 40 Luật xử lý VPHC năm 2012, gồm: Đội trưởng các đội công tác đồn biên phòng, trạm trưởng Trạm kiểm soát biên phòng; đồn trưởng Đồn biên phòng, hải đội trưởng Hải đội biên phòng, chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng, chỉ huy trưởng biên phòng cửa khẩu cảng; chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng cấp tỉnh, hải đoàn trưởng hải đoàn biên phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh bộ đội biên phòng và cấp phó của những người này để đảm bảo việc áp dụng biện pháp áp giải người vi phạm trong trường hợp cần thiết trên cơ sở quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định.

- Về quy định thủ tục thực hiện việc áp giải cũng cần làm rõ sự khác biệt giữa thủ tục thực hiện thẩm quyền của chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đang thi hành công vụ và của cấp đội với thủ tục thực hiện thẩm quyền của người chỉ huy ở cấp đồn biên phòng và cấp biên phòng tỉnh. Cụ thể là, chiến sĩ bộ đội biên phòng, đội trưởng các đội công tác đồn biên phòng, trạm trưởng Trạm kiểm soát biên phòng chỉ thực hiện thẩm quyền trong trường hợp địa điểm phát hiện hành vi vi phạm ở xa đơn vị bộ đội biên phòng, địa hình hiểm trở, điều kiện khí hậu, thời tiết không thuận lợi và đối tượng vi phạm có thể lợi dụng để bỏ trốn. Thủ tục thực hiện thẩm quyền của những người này không cần phải ra quyết định áp giải người vi phạm và không cần “đến địa điểm thực hiện áp giải mời đại diện chính quyền địa phương nơi người bị áp giải cư trú hoặc đang bị quản lý, đại diện cơ quan, tổ chức nơi người bị áp giải làm việc, học tập và người chứng kiến”. Việc mời người chứng kiến là cần thiết nhưng phải trong những trường hợp có thể.

- Việc áp giải người vi phạm từ đơn vị bộ đội biên phòng để chuyển giao người vi phạm cho cơ quan, đơn vị có thẩm quyền; cho cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp giáp hay tiếp nhận người Việt Nam vi phạm pháp luật được cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp giáp trao trả phải do người chỉ huy ở cấp đồn biên phòng và cấp biên phòng tỉnh ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định áp giải người vi phạm. Việc thực hiện áp giải chỉ cần có người chứng kiến, không cần mời đại diện chính quyền địa phương nơi người bị áp giải cư trú hoặc đang bị quản lý, đại diện cơ quan, tổ chức nơi người bị áp giải làm việc, học tập chứng kiến việc áp giải.

- Về phương diện kỹ thuật lập quy, đề nghị cần thiết kế, bố cục lại nội dung các quy định từ Điều 26 đến Điều 29 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP cho hợp lý hơn, có thể chia thủ tục thực hiện việc áp giải người vi phạm theo TTHC thành ba giai đoạn: Trước khi áp giải, trong khi áp giải và kết thúc việc áp giải; tách quy định về xử lý trường hợp người bị áp giải có hành vi chống đối, bỏ trốn thành một điều riêng.

ThS. Trần Minh Nguyệt

Khoa Pháp luật, Học viện Biên phòng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: