Thứ năm 28/05/2026 23:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng nhu cầu phát triển báo chí trong giai đoạn hiện nay

Trong bài viết này, tác giả sơ lược những kết quả đạt được trong quá trình triển khai thi hành Luật Báo chí năm 2016, đồng thời, nêu lên những vướng mắc, bất cập trên thực tiễn thực hiện, trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về nội dung này.

1. Luật Báo chí năm 2016 - Những kết quả đạt được

Luật Báo chí năm 2016 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, Kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. So với Luật Báo chí năm 1999, Luật Báo chí năm 2016 có 32 điều xây dựng mới và sửa đổi, bổ sung 29 điều. Luật Báo chí năm 2016 có nhiều điểm mới cơ bản, quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; đối tượng thành lập cơ quan báo chí; quyền tác nghiệp của báo chí; đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; liên kết trong hoạt động báo chí; hoạt động kinh doanh dịch vụ của cơ quan báo chí; cải chính và xử lý vi phạm trong lĩnh vực báo chí…

Triển khai hướng dẫn thi hành Luật Báo chí năm 2016, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chú trọng, chủ động xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Đến nay, các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí đã được ban hành với 02 nghị định (Nghị định số 08/2017/NĐ-CP ngày 08/02/2017 của Chính phủ quy định về lưu chiểu điện tử đối với loại hình báo nói, báo hình và báo điện tử độc lập với cơ quan báo chí; Nghị định số 09/2017/NĐ-CP ngày 09/02/2017 của Chính phủ quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước) và 04 thông tư (03 thông tư do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành: Thông tư số 36/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016 quy định chi tiết về việc cấp phép hoạt động và chế độ báo cáo đối với loại hình báo nói, báo hình; Thông tư số 41/2020/TT-BTTTT ngày 24/12/2020 quy định chi tiết và hướng dẫn việc cấp giấy phép hoạt động báo in và báo điện tử, xuất bản thêm ấn phẩm, mở chuyên trang của báo điện tử, xuất bản phụ trương, xuất bản bản tin, xuất bản đặc san (thay thế Thông tư số 48/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016); Thông tư số 31/2021/TT-BTTTT ngày 31/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục cấp, đổi, cấp lại và thu hồi thẻ nhà báo (thay thế Thông tư số 49/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016) và 01 thông tư do Bộ Tài chính ban hành: Thông tư số 81/2017/TT-BTC ngày 09/8/2017 quy định chế độ thù lao cho người đọc, nghe, xem để kiểm tra báo chí lưu chiểu).

Hiện nay, cả nước có 06 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực (Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam - VTV, Đài Tiếng nói Việt Nam - VOV, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân dân). Có 15 cơ quan báo chí (11 báo, 03 tạp chí và Đài Truyền hình Kỹ thuật số - VTC) nằm trong cơ quan truyền thông chủ lực đa phương tiện. Ngoài ra, còn có 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí (319 tạp chí khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật). Cả nước có 72 cơ quan hoạt động phát thanh (báo nói), truyền hình (báo hình), gồm: 02 đài quốc gia (VOV và VTV); 64 đài tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 01 Đài Truyền hình Kỹ thuật số - VTC (trực thuộc Đài VOV) và 05 đơn vị hoạt động truyền hình (Báo Nhân dân, Truyền hình Quốc hội, Truyền hình An ninh nhân dân, Truyền hình Thông tấn - VNews, Phát thanh - Truyền hình Quân đội). Trong 72 đài phát - thanh truyền hình, có 03 đơn vị là VTV, Vnews và Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh được cấp giấy phép biên tập kênh truyền hình nước ngoài. Hiện nay, số trang thông tin điện tử tổng hợp đã được cấp phép, còn hoạt động là 1.924 trang (riêng năm 2023 cấp giấy phép cho 90 trang. Số trang thông tin điện tử tổng hợp của cơ quan báo chí còn hoạt động là 136 trang). Theo thống kê, nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí hiện nay khoảng 41.000 người[1].

Có thể nói, sau gần 08 năm thi hành, Luật Báo chí năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý để hoạt động báo chí và các hoạt động liên quan đến báo chí phát triển, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của nhân dân được bảo đảm và phát huy trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; đồng thời nhanh chóng, kịp thời điều chỉnh nhiều vấn đề nảy sinh; đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong hoạt động báo chí; từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về báo chí trong giai đoạn vừa qua; tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Luật Báo chí năm 2016 tạo điều kiện cho hoạt động nghiệp vụ báo chí, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu và hợp tác, hỗ trợ cơ quan báo chí, phóng viên tác nghiệp.

2. Thực trạng quy định của Luật Báo chí năm 2016

Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của khoa học, công nghệ, truyền thông hiện đại dẫn đến những yêu cầu, đòi hỏi cao hơn trong lĩnh vực báo chí đã làm cho hành lang pháp lý về báo chí trong nhiều trường hợp không còn phù hợp với thực tế, cần phải hoàn thiện để điều chỉnh, quản lý kịp thời, phù hợp hoạt động báo chí, cụ thể:

Một là, chưa lượng hóa rõ ràng giữa báo điện tử và tạp chí điện tử.

Theo quy định tại khoản 3 và khoản 6 Điều 3 Luật Báo chí năm 2016, báo in gồm báo in và tạp chí in; báo điện tử gồm báo điện tử và tạp chí điện tử. Khoản 15 Điều 3 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Tạp chí điện tử là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng”. Quy định này mới chỉ dừng lại ở phân định loại hình, chưa cụ thể về đặc điểm, tính chất của nội dung thông tin, chưa có sự phân biệt và lượng hóa rõ ràng giữa báo điện tử và tạp chí điện tử dẫn tới trên thực tế có tình trạng cơ quan tạp chí lợi dụng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nói chung của báo chí để hoạt động như cơ quan báo, không phù hợp với tính chất của tạp chí. Theo thông tin từ Bộ Thông tin và Truyền thông, trong tháng 3/2024, các đơn vị chức năng của Bộ đã ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với nhiều cơ quan báo chí, trang tin điện tử vi phạm, có thể kể đến như[2]: Quyết định số 52/QĐ-XPVPHC ngày 25/3/2024 của Cục trưởng Cục Báo chí, xử phạt Tạp chí Doanh nghiệp và Thương hiệu nông thôn số tiền 135 triệu đồng với 08 lỗi vi phạm trong hoạt động báo chí; Quyết định số 23/QĐ-XPVPHC ngày 01/4/2024 của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông, xử phạt vi phạm hành chính đối với Tạp chí Kinh doanh và Biên mậu Việt Nam với số tiền 50 triệu đồng về hành vi thực hiện không đúng tôn chỉ, mục đích ghi trong giấy phép hoạt động báo chí gây ảnh hưởng ít nghiêm trọng và Quyết định số 22/QĐ-XPVPHC đối với Tổng biên tập Tạp chí với số tiền 04 triệu đồng về hành vi cử nhà báo, phóng viên hoạt động báo chí không đúng tôn chỉ, mục đích ghi trong giấy phép hoạt động báo chí…

Hai là, quy định về cơ quan quản lý nhà nước về báo chí còn chưa rõ ràng.

Khoản 4 Điều 7 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về báo chí tại địa phương”. Cụm từ “báo chí tại địa phương” chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau: Các cơ quan báo chí của địa phương (có cơ quan chủ quản là cơ quan, tổ chức của địa phương) hay các cơ quan báo chí có trụ sở đặt trên địa bàn (kể cả của trung ương và địa phương khác), gây khó khăn trong hoạt động quản lý nhà nước.

Ba là, quy định về nhập khẩu, xuất khẩu báo chí chưa rõ ràng.

Các cam kết quốc tế trong WTO, Hiệp định CPTPP, Hiệp định EVFTA và các hiệp định thương mại thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên đều có cam kết không mở cửa việc tổ chức nước ngoài được thành lập cơ quan báo chí tại Việt Nam. Đồng thời, cho phép hoạt động nhập khẩu báo chí in nước ngoài, không mở cửa thị trường cho cá nhân, tổ chức được nhập khẩu trực tiếp báo, tạp chí in vào thị trường Việt Nam[3].

Điều 54 Luật Báo chí năm 2016 quy định: Báo in xuất bản hợp pháp tại Việt Nam được phép xuất khẩu ra nước ngoài; việc nhập khẩu báo in được thực hiện thông qua cơ sở xuất khẩu, nhập khẩu báo chí do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép; cơ sở nhập khẩu báo in phải đăng ký danh mục báo chí nhập khẩu với Bộ Thông tin và Truyền thông trước khi nhập khẩu; người đứng đầu cơ sở nhập khẩu báo in phải tổ chức kiểm tra nội dung báo chí nhập khẩu trước khi phát hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung báo in mà mình nhập khẩu.

Tuy nhiên, Luật Báo chí năm 2016 chưa nêu rõ điều kiện để cấp giấy phép cho cơ sở xuất khẩu, nhập khẩu báo chí. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở nhập khẩu báo chí là rất quan trọng, vì phải tổ chức kiểm tra nội dung của báo chí nhập khẩu trước khi phát hành, cũng như chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung báo chí mà mình nhập khẩu, nhưng điều kiện đối với người đứng đầu cơ sở nhập khẩu báo chí cũng chưa được quy định rõ ràng. Trách nhiệm người đứng đầu cơ sở nhập khẩu báo chí cũng có nét tương đồng với trách nhiệm của Tổng biên tập một cơ quan báo chí trong việc đảm bảo chất lượng của sản phẩm báo chí khi đến với bạn đọc.

Thực trạng này khiến cho cơ quan quản lý nhà nước gặp vướng mắc khi xét duyệt hồ sơ đề nghị cấp phép cho cơ sở xuất khẩu, nhập khẩu báo chí, gây khó khăn cho người dân, tổ chức trong xã hội khi có mong muốn đặt mua báo chí nước ngoài để phục vụ cho các nhu cầu chính đáng, đặc biệt là với các sản phẩm báo in chuyên ngành, tạp chí khoa học. Pháp luật hiện hành xác định hoạt động nhập khẩu báo chí không phải là hoạt động kinh doanh (hoạt động kinh doanh chỉ bắt đầu khi sản phẩm báo chí được nhập khẩu và kiểm định nội dung, phát hành), nhưng hiện nay, tất cả các cơ sở nhập khẩu báo in đều là doanh nghiệp. Điều này dẫn tới sự không công bằng đối với hoạt động kinh doanh báo chí nhập khẩu theo quy định của pháp luật về đầu tư. Với các doanh nghiệp có năng lực và có nhu cầu nhập khẩu báo in sẽ gặp vướng mắc trong quá trình xin cấp phép nhập khẩu báo chí.

Tính đến thời điểm hiện tại, cả nước có 07 doanh nghiệp đang tham gia vào hoạt động nhập khẩu báo in, trong đó, 04 doanh nghiệp có nguồn gốc là doanh nghiệp Nhà nước đã được Bộ Văn hóa - Thông tin chấp thuận cho phép hoạt động trước năm 2016 và 03 doanh nghiệp còn lại (Công ty TNHH Sách Á Châu, Công ty cổ phần Hợp nhất Quốc tế và Công ty TNHH Sách thật) được Bộ Thông tin và Truyền thông chấp thuận sau khi Luật Báo chí năm 2016 ra đời. Theo thống kê, tổng số tựa báo và tạp chí in được nhập khẩu trong 03 năm gần đây (từ năm 2021 đến năm 2023) là 37.715 (trung bình hàng năm số tựa báo và tạp chí in nhập khẩu là 12.571). Trên thế giới, theo số liệu năm 2020, đối với tạp chí, dữ liệu trích dẫn bao gồm khoảng 21.500 tạp chí khoa học có chất lượng của hơn 250 chuyên ngành khoa học và nghiên cứu trên thế giới[4].

Bốn là, chưa điều chỉnh hoạt động của cơ quan báo chí trên môi trường số.

Hiện nay, theo quy định của Luật Báo chí năm 2016, Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện cấp giấy phép hoạt động báo chí điện tử trên tên miền. Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý nội dung báo trên tên miền đó. Với sự phát triển của công nghệ, hiện nay, có nhiều cơ quan báo chí có các kênh truyền thông của mình trên mạng xã hội: Facebook, Youtube, Tiktok... Đây là một xu thế tất yếu của quá trình chuyển đổi số báo chí để lan tỏa nội dung báo chí đến người đọc theo những phương thức mới, khai thác nguồn thu quảng cáo bổ sung từ phương thức này. Trong hệ sinh thái truyền thông của Báo Thanh niên, cơ quan sở hữu 09 kênh mạng xã hội khác nhau, trong đó có 03 kênh Facebook, 05 kênh Youtube, 01 kênh Lotus và 01 kênh TikTok. Các kênh đều đạt được độ nhận diện và tương tác cao với tổng hơn 10 triệu lượt theo dõi đa nền tảng. Những cơ quan báo chí đặc thù như Báo Quân đội nhân dân cũng đi đầu và đạt được hiệu quả cao trong quá trình xây dựng nội dung trên mạng xã hội. Facebook của Báo Quân đội nhân dân đã có “tick xanh” chỉ sau một năm hoạt động, kênh TikTok của Báo cũng đã đạt mốc 800 nghìn người theo dõi, mục tiêu là đạt một triệu người trong năm 2024[5]. Tuy nhiên, các kênh, tài khoản trên mạng xã hội trong nước và xuyên biên giới của các cơ quan báo chí hiện nay vẫn đang coi và quản lý như kênh, tài khoản thông thường giống các kênh, tài khoản khác; đồng thời, khi có nội dung vi phạm, cơ quan quản lý xử lý theo quy định của pháp luật về thông tin điện tử, chưa có cơ sở xử phạt theo quy định pháp luật về báo chí.

3. Một số kiến nghị, đề xuất khi sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí năm 2016

Thứ nhất, phân biệt và lượng hóa rõ ràng giữa báo điện tử và tạp chí điện tử: Khắc phục hạn chế của quy định hiện hành, pháp luật về báo chí cần sửa đổi, quy định cụ thể các nội hàm, khái niệm báo in, tạp chí in, báo điện tử và tạp chí điện tử để có các quy định điều chỉnh phù hợp. Sửa đổi, bổ sung, quy định rõ về báo, tạp chí, có sự phân biệt và lượng hóa rõ ràng giữa báo điện tử và tạp chí điện tử.

Thứ hai, quy định rõ hơn về cơ quan quản lý nhà nước về báo chí tại địa phương: Để nâng cao hiệu quả quản lý lĩnh vực báo chí, đặc biệt là tại địa phương, theo tác giả, cần sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 7 Luật Báo năm 2016 chí theo hướng quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước về báo chí của địa phương; sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của Luật Báo chí để phân cấp cho các địa phương xử lý các thủ tục hành chính như: Cấp giấy phép, sửa đổi, bổ sung giấy phép, chấp thuận thay đổi nội dung ghi trong giấy phép xuất bản thêm ấn phẩm đối với cơ quan báo chí của địa phương; cấp giấy phép, sửa đổi, bổ sung giấy phép, chấp thuận thay đổi nội dung ghi trong giấy phép xuất bản phụ trương đối với cơ quan báo chí của địa phương; cấp giấy phép, chấp thuận thay đổi nội dung ghi trong giấy phép xuất bản đặc san đối với cơ quan, tổ chức ở địa phương…

Thứ ba, bổ sung quy định về hoạt động của cơ quan báo chí trên môi trường số: Chuyển đổi số báo chí là vấn đề sống còn, chuyển đổi từ báo chí, truyền thông truyền thống sang báo chí đa phương tiện, đa nền tảng, đa dịch vụ, xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại, nhằm thực hiện được sứ mệnh dẫn dắt, định hướng xã hội trên không gian mạng, góp phần giữ vững chủ quyền thông tin quốc gia trên không gian mạng.

Ngày 06/4/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược “Chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” tại Quyết định số 348/QĐ-TTg ngày 06/4/2023. Nền tảng số là phương tiện truyền dẫn thông tin, do đó, cần mở rộng không gian hoạt động của báo chí để lan tỏa nội dung báo chí đến người đọc theo những phương thức mới. Báo chí cần được cấp phép hoạt động với tên miền và trên các nền tảng. Hoạt động trên bất kỳ phương tiện/cách thức nào chủ thể vẫn là cơ quan báo chí và hoạt động báo chí. Theo tác giả, cần bổ sung trong Luật Báo chí 01 mục/chương về báo chí hoạt động trên môi trường số, trong đó xác định nền tảng số là phương tiện truyền dẫn thông tin. Nhà nước thừa nhận, khuyến khích, tạo điều kiện để báo chí hoạt động, lan tỏa thông tin trên nền tảng số. Việc hoạt động trên nền tảng số cơ quan báo chí đăng ký/thông báo, kết nối hệ thống với cơ quan quản lý nhà nước về báo chí để được hỗ trợ và tạo điều kiện cho công tác quản lý nhà nước. Mạng xã hội, nền tảng sử dụng tin/bài của cơ quan báo chí phải trả bản quyền theo quy định. Hoạt động trên nền tảng số của cơ quan báo chí tuân thủ các quy định pháp luật về báo chí.

Thứ tư, bổ sung các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu báo chí: Để tăng cường năng lực thẩm định nội dung nhập khẩu, kiểm soát thông tin cho các cơ sở nhập khẩu báo chí, tạo ra môi trường minh bạch cho thị trường nhập khẩu báo chí, tăng khả năng tiếp cận của người dân tới tri thức đối với các sản phẩm nhập khẩu và tăng cơ hội tham gia vào hoạt động nhập khẩu báo chí của các đơn vị, theo tác giả, các cơ quan chức năng nên nghiên cứu, bổ sung quy định tại Điều 54 Luật Báo chí năm 2016 về điều kiện cấp phép đối với cơ sở xuất khẩu, nhập khẩu báo chí (trong đó có cả tiêu chuẩn của người đứng đầu cơ sở) và cho phép cơ quan báo được nhập khẩu báo in và không cần phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép hoạt động nhập khẩu báo in; đồng thời, yêu cầu nghĩa vụ báo cáo của cơ sở xuất khẩu, nhập khẩu báo chí; bổ sung quy định trong Điều 54 Luật Báo chí năm 2016 về việc xuất khẩu nội dung báo nói, báo hình./.

TS. Nguyễn Tuấn Hải

Học viện Tư pháp

[1]. https://nvsk.vnanet.vn/cong-tac-bao-chi-nam-2023-nhieu-ket-qua-noi-bat-1-137874.vna.

[2].https://vtv.vn/cong-nghe/xu-phat-hang-loat-don-vi-vi-pham-trong-linh-vuc-thong-tin-va-truyen-thong-20240408212332694.htm.

[3]. https://cspl.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=138795.

[4]. Clarivate Plc đã phát hành bản cập nhật năm 2023 cho báo cáo Trích dẫn Tạp Chí (JRC) Research Information.

[5]. https://nguoilambao.vn/xu-huong-to-chuc-noi-dung-tren-mang-xa-hoi-cua-co-quan-bao-chi-hien-nay.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: