Thứ tư 26/08/2026 18:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác ở nước ta hiện nay

Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 đã có hiệu lực và đi vào thực tiễn gần 14 năm. Đây là đạo luật lần đầu tiên được ban hành ở nước ta, đã làm thay đổi rất nhiều quan niệm về sự sống, chết của con người Việt Nam. Tuy nhiên, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác của Việt Nam đến nay đã phát sinh những hạn chế cần phải được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng nguyện vọng của người dân về hiến và nhận mô tạng. Trong bài viết, tác giả đưa ra một số giải pháp quan trọng góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.



1. Nên bổ sung việc cho, nhận tế bào vào phạm vi điều chỉnh của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Điều 1 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 (về phạm vi điều chỉnh) có quy định về việc cho, nhận mô, bộ phận cơ thể người nhưng lại không quy định vấn đề cho, nhận tế bào, bởi vì các nhà làm luật quan niệm tế bào là một trong những bộ phận cấu thành mô. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, nếu theo cách giải thích về mô ở khoản 1 Điều 3 của Luật thì không phải trong mọi trường hợp tế bào đều đồng nghĩa với mô, ví dụ như tế bào gốc hay một tế bào đơn lẻ. Do đó, nên bổ sung việc cho, nhận tế bào vào phạm vi điều chỉnh của Luật ở Điều 1, vì Điều 6 của Luật có quy định về quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo, đồng nghĩa với việc tế bào thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.

Hiện nay, việc cho - nhận noãn, tinh trùng, phôi đang là một trong những vấn đề quan trọng và cần phải được quy định chặt chẽ. Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề điều trị bằng tế bào gốc sẽ ngày càng trở nên phổ biến hơn. Theo PGS.TS. Chu Thị Hạnh - Phó Giám đốc Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai, thì tế bào gốc là những tế bào chưa biệt hóa, có khả năng biệt hóa để trở thành các tế bào khác với các chức năng riêng biệt mới. Tế bào gốc trưởng thành (adult stem cell) thu nhận từ tủy xương, mô mỡ… không chỉ có khả năng làm mới mà còn có khả năng biệt hóa thành nhiều kiểu tế bào khác nhau như xương, mỡ, sụn, cơ, gan, thận, tim mạch, tế bào tiết insulin, thần kinh, tế bào khí quản… Đồng thời, tế bào gốc tự thân có tính an toàn cao. Chính vì thế, hiện nay tế bào gốc trưởng thành đang được nghiên cứu ứng dụng điều trị trong rất nhiều bệnh lý. Cũng theo PGS.TS. Chu Thị Hạnh, đến nay, đã có 40 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này và kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy chưa có biến cố bất lợi nào liên quan đến truyền tế bào gốc tự thân từ mô mỡ, tủy xương. Sức khỏe của các bệnh nhân đều có sự cải thiện rõ rệt và có phản hồi tích cực khi được điều trị bằng tế bào gốc[1].

Từ thực tế đó, cần phải có những quy định pháp luật cụ thể và chặt chẽ hơn về vấn đề này, vì việc hiến tế bào còn có thể tạo ra một cơ thể hay một chủ thể pháp luật mới. Vì vậy, nên bổ sung vào Điều 3 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác khái niệm về tế bào theo hướng tế bào là các đơn vị cấu trúc chức năng cơ bản của mọi sinh vật đa bào. Hơn nữa, cần bổ sung quyền lợi cho người tự nguyện hiến tế bào bên cạnh người hiến mô, bộ phận cơ thể, vì việc hiến tế bào cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của người hiến. Người hiến tế bào cần được hưởng quyền lợi khi Nhà nước ta đang cố gắng khuyến khích nhiều người hiến để tạo nguồn mô, tế bào, bộ phận cơ thể cứu chữa người bệnh và phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

2. Bổ sung quy định về người có nguyện vọng hiến bộ phận cơ thể người theo di chúc

Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác năm 2006 không có quy định về nguyện vọng hiến được thể hiện trong di chúc. Trên thực tế, có trường hợp người có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể và xác của mình sau khi chết đã không thực hiện việc đăng ký theo mẫu và thủ tục mà đạo luật này đã quy định thì có được chấp nhận không?

Theo tác giả, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác nên bổ sung quy định về sự kiện này. Pháp luật dân sự nói chung và Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác là hành lang pháp lý cần được mở rộng trong việc khuyến khích cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự được thể hiện nguyện vọng của mình. Đồng thời, cũng là một điều kiện để làm tăng số lượng mô, bộ phận cơ thể người và xác cho ngân hàng mô. Khi đề cập vấn đề này cũng không nên hiểu một cách đơn giản và theo một nghĩa hẹp là di chúc chỉ định đoạt tài sản, còn mô, bộ phận cơ thể người và xác của cá nhân không phải là tài sản nên không thể quy định dịch chuyển những đối tượng này theo di chúc được. Hiểu như vậy là chưa thực sự toàn diện về một quan hệ rất đặc biệt là quan hệ hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác. Bởi vì, nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác của cá nhân được thể hiện bằng nhiều hình thức như có đơn đăng ký hiến theo mẫu quy định và sự thể hiện ý chí của người có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác còn có thể theo một hình thức khác là di chúc. Căn cứ của đề xuất trên là dựa vào quy định tại điểm c khoản 2 Điều 21 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006: “Trường hợp không có thẻ hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết thì việc lấy phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó hoặc vợ, chồng hoặc đại diện các con đã thành niên của người đó”.

Một người khi còn sống đã không đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết nhưng mô, bộ phận cơ thể của người này vẫn được hiến sau khi người này qua đời với điều kiện được những người thân thích của người này đồng ý bằng văn bản và người đại diện các con đã thành niên của người đó thì việc hiến mô, bộ phận cơ thể vẫn được thực hiện. Trong trường hợp này, việc dùng mô, bộ phận cơ thể của người đã chết cho người khác nằm ngoài ý chí của người có mô, bộ phận cơ thể sau khi chết. Việc hiến trong trường hợp này tùy thuộc vào ý chí được thể hiện dưới hình thức văn bản của người là cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó hoặc vợ, chồng của người đó sau khi chết được đem hiến cho người khác. Như vậy, việc người hiến mô, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết cho người khác dưới hình thức di chúc cũng nên được pháp luật quy định cụ thể trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác để điều chỉnh toàn diện hơn và đầy đủ hơn các sự kiện có thể xảy ra trong đời sống xã hội hiện nay.

3. Về vấn đề chết não trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Theo quy định tại Mục 3, Chương III Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 (từ Điều 26 đến Điều 29), chết não là một nội dung đặc biệt quan trọng được quy định thành một mục riêng trong Luật. Theo đó, việc xác định chết não là cơ sở pháp lý để tiến hành lấy mô, tạng của người có thẻ đăng ký hiến mô, tạng sau khi chết. Tuy nhiên, để xác định được chết não phải có đủ 03 chuyên gia (hồi sức cấp cứu, thần kinh hoặc phẫu thuật thần kinh và giám định pháp y) và đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lâm sàng, tiêu chuẩn cận lâm sàng và tiêu chuẩn thời gian. Quy định này là hết sức chặt chẽ, bảo đảm tối đa việc đưa ra kết luận một người đã chết não hay chưa. Tuy nhiên, trên thực tế, đặc biệt là ở các nước phát triển, các điều kiện về cận lâm sàng không nhất thiết, cũng như tiêu chuẩn về thời gian, dẫn tới bắt buộc phải có ba lần xác định chết não và mất tối thiểu 12 giờ tính từ lần xác định chết não đầu tiên là quá dài. Điều này vừa gây tốn kém kinh phí xác định chết não, đồng thời sẽ làm mất cơ hội vàng để lấy được mô, tạng của người hiến chết não. Bên cạnh đó, quy định về chuyên gia pháp y trong Hội đồng xác định chết não cũng cần phải đánh giá lại, vì quy định này gây khó khăn cho các cơ sở y tế nếu không mời được bác sĩ pháp y tham gia trong Hội đồng xác định chết não.

Theo tác giả, Luật không cần thiết bắt buộc phải có sự tham gia của giám định pháp y trong việc xác định chết não, vì thực tế ở Việt Nam cho thấy, số lượng chuyên gia pháp y là không nhiều, đặc biệt là ở một số bệnh viện, cơ sở y tế ở mức trung bình. Nếu quy định như điểm c khoản 2 Điều 27 của Luật sẽ có nhiều trường hợp phải chờ sự có mặt của các chuyên gia pháp y. Do đó, sẽ kéo dài “thời gian vàng” cho phép lấy những bộ phận tạng được hiến ở điều kiện tốt nhất, chỉ bảo quản được trong thời gian ngắn. Ví dụ như, tim chỉ được ghép trong vòng 24 giờ kể từ khi lấy ra khỏi lồng ngực của người hiến, còn thận thì tuy bảo quản để ghép được có thời gian dài hơn nhưng cũng không quá 72 giờ. Việc xác định chết não nên giao cho một hội đồng độc lập gồm các chuyên gia thuộc chuyên khoa hồi sức, hồi sức tích cực nội - ngoại thần kinh đánh giá dựa trên dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng của khoa học kỹ thuật y học hiện đại. Sau khi hội đồng có kết luận thống nhất, thì thủ trưởng sẽ ra quyết định cuối cùng.

4. Cần sửa đổi một số quy định về ngân hàng mô và Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người

Điều 35 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: “1. Ngân hàng mô là cơ sở y tế do cơ quan, tổ chức, cá nhân thành lập. 2. Ngân hàng mô được tiếp nhận, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển mô; cung ứng mô cho các cơ sở y tế hoặc cơ sở nghiên cứu, đào tạo y học và hợp tác quốc tế trong việc trao đổi mô” và khoản 7 còn quy định: “Ngân hàng mô hoạt động không nhằm mục đích thương mại”.

Theo quy định trên, cá nhân cũng có quyền thành lập ngân hàng mô, tương tự như cá nhân có quyền thành lập các loại doanh nghiệp khác. Khoản 5 Điều 35 quy định: “Ngân hàng mô có tư cách pháp nhân và chỉ được hoạt động sau khi có giấy phép của Bộ Y tế”. Điều này sẽ dẫn đến mâu thuẫn sau: (i) Cá nhân thành lập ngân hàng mô nhằm mục đích gì khi pháp luật quy định là ngân hàng mô hoạt động không nhằm mục đích kinh doanh? (ii) Ngân hàng mô được thành lập phải có đủ điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự theo quy định tại khoản 6 Điều 35 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006. Ngân hàng mô của cá nhân phải có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự… mà lại hoạt động không nhằm mục đích thương mại. Quy định này có sự bất cập vì không có sự phân biệt ngân hàng mô với các loại doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác. Nếu một ngân hàng mô của tư nhân được thành lập mà không nhằm mục đích thương mại thì khó có thể tồn tại.

Điều kiện hiện nay ở Việt Nam, ngân hàng mô cần phải do Nhà nước giám sát và chỉ những cơ sở y tế của Nhà nước mới có đủ điều kiện thành lập ngân hàng mô. Ngân hàng mô hoạt động không vì mục đích kinh doanh, cho nên Nhà nước vẫn phải bao cấp. Mục đích chữa bệnh cho nhân dân là cơ bản. Cá nhân không thể có đủ các điều kiện hoạt động khi ngân hàng mô thuộc quyền sở hữu cá nhân được thừa nhận. Nếu quy định cho cá nhân được thành lập ngân hàng mô sẽ xảy ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa cá nhân và các cơ sở y tế của Nhà nước có ngân hàng mô. Những tiêu cực và thương mại hóa có thể phát sinh trong hoạt động ngân hàng mô thuộc các thành phần kinh tế và hình thức sở hữu khác nhau. Điều đó là không thể tránh khỏi và khi đó thị trường mô sẽ diễn ra phức tạp và mục đích thu lợi nhuận từ việc thu gom nguồn mô sẽ diễn ra như các loại hàng hóa tiêu dùng khác. Với những lập luận trên, tác giả cho rằng, cần phải xóa bỏ quy định cho phép cá nhân được thành lập ngân hàng mô.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật, thì chỉ lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống đã đăng ký hiến. Trong trường hợp cấp cứu mà cần phải ghép mô hoặc cần ghép mô cho cha, mẹ, anh, chị, em ruột thì được phép lấy mô của người chưa đăng ký hiến nếu có sự đồng ý của người đó. Quy định này không còn phù hợp ở những điểm sau: (i) Trước đây, người bệnh chỉ được ghép thận khi có người cho cùng nhóm máu thì nay khác nhóm máu cũng có thể ghép được[2]. Việc quy định trong trường hợp cấp cứu mà cần phải ghép mô, bộ phận cơ thể thì những người không cùng huyết thống với người được ghép cũng có thể hiến mô, bộ phận cơ thể để ghép cho người cần phải ghép. (ii) Quy định về việc đăng ký hiến vẫn mang nặng tính hành chính và có thể gây cản trở cho cá nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống. Theo tác giả, việc cá nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người không nhất thiết phải đăng ký.

Khoản 2 Điều 14 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định không đồng nhất ở chỗ: Đoạn 1 khoản 2 quy định “chỉ lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống đã đăng ký hiến” nhưng đoạn 2 khoản này lại quy định “trong trường hợp cấp cứu mà cần phải ghép mô hoặc cần phải ghép mô cho cha, mẹ, anh, chị, em ruột thì được phép lấy mô của người chưa đăng ký hiến nếu có sự đồng ý của người đó”. Hơn nữa, đoạn 2 Điều 14 còn thiếu các quy định về bộ phận cơ thể người sống, nên nó không phù hợp với tên của điều luật là: “Điều kiện, thủ tục lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống”. Với lập luận trên, tác giả đưa ra giải pháp sửa khoản 2 Điều 14 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng như sau: “Lấy mô, bộ phận cơ thể người được thực hiện ở người sống đã đăng ký hoặc không có đăng ký nếu được sự đồng ý bằng văn bản của người hiến”. Quy định như vậy vừa ngắn gọn, vừa chặt chẽ và phạm vi điều chỉnh của điều luật sẽ rộng hơn, phù hợp với đời sống xã hội vốn cần sự linh hoạt và kịp thời. Ngoài ra, còn loại bỏ được những thủ tục hành chính phiền hà, mất thời gian của người hiến.

5. Nên bổ sung quy định về cấy ghép tử cung vào Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Cấy ghép tử cung là một sự tiến bộ vượt bậc trong y học, nó không chỉ đem lại lợi ích về mặt thể chất mà còn mang ý nghĩa về mặt tinh thần. Khi một người phụ nữ không muốn sinh con, họ có thể lựa chọn hiến tặng nó cho một người phụ nữ khác bị khiếm khuyết tử cung bẩm sinh và các bác sĩ sẽ tiến hành cấy ghép tử cung vào ổ bụng người nhận. Sau đó, người nhận ghép tạng có thể sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

Thực tế, phẫu thuật cấy ghép tử cung từ người hiến tạng còn sống đã có tiền lệ thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, cho đến nay, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là đơn vị y tế đầu tiên công bố ý định ghép tử cung, tạo cơ hội làm mẹ cho những người phụ nữ có bệnh đặc biệt, không có tử cung hoặc không thể mang thai do những bất thường về tử cung. Theo GS.TS. Mai Hồng Bàng - Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, thì bệnh viện đã thực hiện việc ghép phổi, ghép giác mạc, ghép thận… và đến sau năm 2020 sẽ thực hiện việc ghép chi, ghép gân, ghép tử cung. Đối với các trường hợp ghép tử cung, GS.TS. Mai Hồng Bàng cũng cho rằng: Có cơ hội hiến - ghép trong trường hợp con gái có bất thường về tử cung và không thể mang thai được mà mẹ có thể hiến tặng tử cung để ghép cho con gái hoặc có thể có nguồn hiến tặng tử cung từ người cho chết não[3]. Vì vậy, để vấn đề cấy ghép tử cung sớm được triển khai trong thực tiễn, tác giả đề nghị nên bổ sung quy định về cấy ghép tử cung vào Luật.

6. Nên bổ sung quy định về cấy, ghép cẳng tay, chân vào Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Cấy, ghép cẳng tay, chân đã được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia có nền y học phát triển như Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Canada, Iran, Trung Quốc, Ấn Độ. Ở Việt Nam, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã ghép thành công hai cẳng tay cho một bệnh nhân 18 tuổi từ người cho chết não[4]. Tuy nhiên, vấn đề cấy, ghép cẳng tay, chân vẫn chưa được điều chỉnh ở trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Do vậy, theo tác giả nên bổ sung nội dung này vào Luật bằng một điều luật cụ thể để thuận tiện trong thực tiễn thực hiện tại Việt Nam.

Đoàn Thị Ngọc Hải
NCS. Đại học Luật Hà Nội



[1]. http://bachmai.gov.vn/tin-tuc-va-su-kien/cac-ky-thuat-moi-trien-khai/5698-su-dung-te-bao-goc-trong-dieu-tri-benh-phoi-tac-nghen-man-tinh-nhung-ket-qua-buoc-dau.html.

[2]. Xem: http://www.benhviendakhoatinhphutho.vn/Chuyen-muc-tin/Chi-tiet-tin/tabid/92/t/thuc-hien-thanh-cong-ca-ghep-than-khong-cung-huyet-thong-va-nhom-mau/title/2109/ctitle/18/language/vi-VN/Default.aspx? AspxAutoDetectCookieSupport=1.

[3]. https://tuoitre.vn/co-hoi-ghep-tu-cung-tai-viet-nam-20181210092626594.htm.

[4]. https://tuoitre.vn/ghep-thanh-cong-doi-tay-cho-nam-benh-nhan-18-tuoi-2020110914275738.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: