Thứ năm 30/04/2026 11:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác ở nước ta hiện nay

Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 đã có hiệu lực và đi vào thực tiễn gần 14 năm. Đây là đạo luật lần đầu tiên được ban hành ở nước ta, đã làm thay đổi rất nhiều quan niệm về sự sống, chết của con người Việt Nam. Tuy nhiên, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác của Việt Nam đến nay đã phát sinh những hạn chế cần phải được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng nguyện vọng của người dân về hiến và nhận mô tạng. Trong bài viết, tác giả đưa ra một số giải pháp quan trọng góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.



1. Nên bổ sung việc cho, nhận tế bào vào phạm vi điều chỉnh của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Điều 1 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 (về phạm vi điều chỉnh) có quy định về việc cho, nhận mô, bộ phận cơ thể người nhưng lại không quy định vấn đề cho, nhận tế bào, bởi vì các nhà làm luật quan niệm tế bào là một trong những bộ phận cấu thành mô. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, nếu theo cách giải thích về mô ở khoản 1 Điều 3 của Luật thì không phải trong mọi trường hợp tế bào đều đồng nghĩa với mô, ví dụ như tế bào gốc hay một tế bào đơn lẻ. Do đó, nên bổ sung việc cho, nhận tế bào vào phạm vi điều chỉnh của Luật ở Điều 1, vì Điều 6 của Luật có quy định về quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo, đồng nghĩa với việc tế bào thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.

Hiện nay, việc cho - nhận noãn, tinh trùng, phôi đang là một trong những vấn đề quan trọng và cần phải được quy định chặt chẽ. Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề điều trị bằng tế bào gốc sẽ ngày càng trở nên phổ biến hơn. Theo PGS.TS. Chu Thị Hạnh - Phó Giám đốc Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai, thì tế bào gốc là những tế bào chưa biệt hóa, có khả năng biệt hóa để trở thành các tế bào khác với các chức năng riêng biệt mới. Tế bào gốc trưởng thành (adult stem cell) thu nhận từ tủy xương, mô mỡ… không chỉ có khả năng làm mới mà còn có khả năng biệt hóa thành nhiều kiểu tế bào khác nhau như xương, mỡ, sụn, cơ, gan, thận, tim mạch, tế bào tiết insulin, thần kinh, tế bào khí quản… Đồng thời, tế bào gốc tự thân có tính an toàn cao. Chính vì thế, hiện nay tế bào gốc trưởng thành đang được nghiên cứu ứng dụng điều trị trong rất nhiều bệnh lý. Cũng theo PGS.TS. Chu Thị Hạnh, đến nay, đã có 40 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này và kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy chưa có biến cố bất lợi nào liên quan đến truyền tế bào gốc tự thân từ mô mỡ, tủy xương. Sức khỏe của các bệnh nhân đều có sự cải thiện rõ rệt và có phản hồi tích cực khi được điều trị bằng tế bào gốc[1].

Từ thực tế đó, cần phải có những quy định pháp luật cụ thể và chặt chẽ hơn về vấn đề này, vì việc hiến tế bào còn có thể tạo ra một cơ thể hay một chủ thể pháp luật mới. Vì vậy, nên bổ sung vào Điều 3 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác khái niệm về tế bào theo hướng tế bào là các đơn vị cấu trúc chức năng cơ bản của mọi sinh vật đa bào. Hơn nữa, cần bổ sung quyền lợi cho người tự nguyện hiến tế bào bên cạnh người hiến mô, bộ phận cơ thể, vì việc hiến tế bào cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của người hiến. Người hiến tế bào cần được hưởng quyền lợi khi Nhà nước ta đang cố gắng khuyến khích nhiều người hiến để tạo nguồn mô, tế bào, bộ phận cơ thể cứu chữa người bệnh và phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

2. Bổ sung quy định về người có nguyện vọng hiến bộ phận cơ thể người theo di chúc

Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác năm 2006 không có quy định về nguyện vọng hiến được thể hiện trong di chúc. Trên thực tế, có trường hợp người có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể và xác của mình sau khi chết đã không thực hiện việc đăng ký theo mẫu và thủ tục mà đạo luật này đã quy định thì có được chấp nhận không?

Theo tác giả, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác nên bổ sung quy định về sự kiện này. Pháp luật dân sự nói chung và Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác là hành lang pháp lý cần được mở rộng trong việc khuyến khích cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự được thể hiện nguyện vọng của mình. Đồng thời, cũng là một điều kiện để làm tăng số lượng mô, bộ phận cơ thể người và xác cho ngân hàng mô. Khi đề cập vấn đề này cũng không nên hiểu một cách đơn giản và theo một nghĩa hẹp là di chúc chỉ định đoạt tài sản, còn mô, bộ phận cơ thể người và xác của cá nhân không phải là tài sản nên không thể quy định dịch chuyển những đối tượng này theo di chúc được. Hiểu như vậy là chưa thực sự toàn diện về một quan hệ rất đặc biệt là quan hệ hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác. Bởi vì, nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác của cá nhân được thể hiện bằng nhiều hình thức như có đơn đăng ký hiến theo mẫu quy định và sự thể hiện ý chí của người có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác còn có thể theo một hình thức khác là di chúc. Căn cứ của đề xuất trên là dựa vào quy định tại điểm c khoản 2 Điều 21 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006: “Trường hợp không có thẻ hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết thì việc lấy phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó hoặc vợ, chồng hoặc đại diện các con đã thành niên của người đó”.

Một người khi còn sống đã không đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết nhưng mô, bộ phận cơ thể của người này vẫn được hiến sau khi người này qua đời với điều kiện được những người thân thích của người này đồng ý bằng văn bản và người đại diện các con đã thành niên của người đó thì việc hiến mô, bộ phận cơ thể vẫn được thực hiện. Trong trường hợp này, việc dùng mô, bộ phận cơ thể của người đã chết cho người khác nằm ngoài ý chí của người có mô, bộ phận cơ thể sau khi chết. Việc hiến trong trường hợp này tùy thuộc vào ý chí được thể hiện dưới hình thức văn bản của người là cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó hoặc vợ, chồng của người đó sau khi chết được đem hiến cho người khác. Như vậy, việc người hiến mô, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết cho người khác dưới hình thức di chúc cũng nên được pháp luật quy định cụ thể trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác để điều chỉnh toàn diện hơn và đầy đủ hơn các sự kiện có thể xảy ra trong đời sống xã hội hiện nay.

3. Về vấn đề chết não trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Theo quy định tại Mục 3, Chương III Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 (từ Điều 26 đến Điều 29), chết não là một nội dung đặc biệt quan trọng được quy định thành một mục riêng trong Luật. Theo đó, việc xác định chết não là cơ sở pháp lý để tiến hành lấy mô, tạng của người có thẻ đăng ký hiến mô, tạng sau khi chết. Tuy nhiên, để xác định được chết não phải có đủ 03 chuyên gia (hồi sức cấp cứu, thần kinh hoặc phẫu thuật thần kinh và giám định pháp y) và đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lâm sàng, tiêu chuẩn cận lâm sàng và tiêu chuẩn thời gian. Quy định này là hết sức chặt chẽ, bảo đảm tối đa việc đưa ra kết luận một người đã chết não hay chưa. Tuy nhiên, trên thực tế, đặc biệt là ở các nước phát triển, các điều kiện về cận lâm sàng không nhất thiết, cũng như tiêu chuẩn về thời gian, dẫn tới bắt buộc phải có ba lần xác định chết não và mất tối thiểu 12 giờ tính từ lần xác định chết não đầu tiên là quá dài. Điều này vừa gây tốn kém kinh phí xác định chết não, đồng thời sẽ làm mất cơ hội vàng để lấy được mô, tạng của người hiến chết não. Bên cạnh đó, quy định về chuyên gia pháp y trong Hội đồng xác định chết não cũng cần phải đánh giá lại, vì quy định này gây khó khăn cho các cơ sở y tế nếu không mời được bác sĩ pháp y tham gia trong Hội đồng xác định chết não.

Theo tác giả, Luật không cần thiết bắt buộc phải có sự tham gia của giám định pháp y trong việc xác định chết não, vì thực tế ở Việt Nam cho thấy, số lượng chuyên gia pháp y là không nhiều, đặc biệt là ở một số bệnh viện, cơ sở y tế ở mức trung bình. Nếu quy định như điểm c khoản 2 Điều 27 của Luật sẽ có nhiều trường hợp phải chờ sự có mặt của các chuyên gia pháp y. Do đó, sẽ kéo dài “thời gian vàng” cho phép lấy những bộ phận tạng được hiến ở điều kiện tốt nhất, chỉ bảo quản được trong thời gian ngắn. Ví dụ như, tim chỉ được ghép trong vòng 24 giờ kể từ khi lấy ra khỏi lồng ngực của người hiến, còn thận thì tuy bảo quản để ghép được có thời gian dài hơn nhưng cũng không quá 72 giờ. Việc xác định chết não nên giao cho một hội đồng độc lập gồm các chuyên gia thuộc chuyên khoa hồi sức, hồi sức tích cực nội - ngoại thần kinh đánh giá dựa trên dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng của khoa học kỹ thuật y học hiện đại. Sau khi hội đồng có kết luận thống nhất, thì thủ trưởng sẽ ra quyết định cuối cùng.

4. Cần sửa đổi một số quy định về ngân hàng mô và Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người

Điều 35 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: “1. Ngân hàng mô là cơ sở y tế do cơ quan, tổ chức, cá nhân thành lập. 2. Ngân hàng mô được tiếp nhận, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển mô; cung ứng mô cho các cơ sở y tế hoặc cơ sở nghiên cứu, đào tạo y học và hợp tác quốc tế trong việc trao đổi mô” và khoản 7 còn quy định: “Ngân hàng mô hoạt động không nhằm mục đích thương mại”.

Theo quy định trên, cá nhân cũng có quyền thành lập ngân hàng mô, tương tự như cá nhân có quyền thành lập các loại doanh nghiệp khác. Khoản 5 Điều 35 quy định: “Ngân hàng mô có tư cách pháp nhân và chỉ được hoạt động sau khi có giấy phép của Bộ Y tế”. Điều này sẽ dẫn đến mâu thuẫn sau: (i) Cá nhân thành lập ngân hàng mô nhằm mục đích gì khi pháp luật quy định là ngân hàng mô hoạt động không nhằm mục đích kinh doanh? (ii) Ngân hàng mô được thành lập phải có đủ điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự theo quy định tại khoản 6 Điều 35 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006. Ngân hàng mô của cá nhân phải có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự… mà lại hoạt động không nhằm mục đích thương mại. Quy định này có sự bất cập vì không có sự phân biệt ngân hàng mô với các loại doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác. Nếu một ngân hàng mô của tư nhân được thành lập mà không nhằm mục đích thương mại thì khó có thể tồn tại.

Điều kiện hiện nay ở Việt Nam, ngân hàng mô cần phải do Nhà nước giám sát và chỉ những cơ sở y tế của Nhà nước mới có đủ điều kiện thành lập ngân hàng mô. Ngân hàng mô hoạt động không vì mục đích kinh doanh, cho nên Nhà nước vẫn phải bao cấp. Mục đích chữa bệnh cho nhân dân là cơ bản. Cá nhân không thể có đủ các điều kiện hoạt động khi ngân hàng mô thuộc quyền sở hữu cá nhân được thừa nhận. Nếu quy định cho cá nhân được thành lập ngân hàng mô sẽ xảy ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa cá nhân và các cơ sở y tế của Nhà nước có ngân hàng mô. Những tiêu cực và thương mại hóa có thể phát sinh trong hoạt động ngân hàng mô thuộc các thành phần kinh tế và hình thức sở hữu khác nhau. Điều đó là không thể tránh khỏi và khi đó thị trường mô sẽ diễn ra phức tạp và mục đích thu lợi nhuận từ việc thu gom nguồn mô sẽ diễn ra như các loại hàng hóa tiêu dùng khác. Với những lập luận trên, tác giả cho rằng, cần phải xóa bỏ quy định cho phép cá nhân được thành lập ngân hàng mô.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật, thì chỉ lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống đã đăng ký hiến. Trong trường hợp cấp cứu mà cần phải ghép mô hoặc cần ghép mô cho cha, mẹ, anh, chị, em ruột thì được phép lấy mô của người chưa đăng ký hiến nếu có sự đồng ý của người đó. Quy định này không còn phù hợp ở những điểm sau: (i) Trước đây, người bệnh chỉ được ghép thận khi có người cho cùng nhóm máu thì nay khác nhóm máu cũng có thể ghép được[2]. Việc quy định trong trường hợp cấp cứu mà cần phải ghép mô, bộ phận cơ thể thì những người không cùng huyết thống với người được ghép cũng có thể hiến mô, bộ phận cơ thể để ghép cho người cần phải ghép. (ii) Quy định về việc đăng ký hiến vẫn mang nặng tính hành chính và có thể gây cản trở cho cá nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống. Theo tác giả, việc cá nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người không nhất thiết phải đăng ký.

Khoản 2 Điều 14 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định không đồng nhất ở chỗ: Đoạn 1 khoản 2 quy định “chỉ lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống đã đăng ký hiến” nhưng đoạn 2 khoản này lại quy định “trong trường hợp cấp cứu mà cần phải ghép mô hoặc cần phải ghép mô cho cha, mẹ, anh, chị, em ruột thì được phép lấy mô của người chưa đăng ký hiến nếu có sự đồng ý của người đó”. Hơn nữa, đoạn 2 Điều 14 còn thiếu các quy định về bộ phận cơ thể người sống, nên nó không phù hợp với tên của điều luật là: “Điều kiện, thủ tục lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống”. Với lập luận trên, tác giả đưa ra giải pháp sửa khoản 2 Điều 14 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng như sau: “Lấy mô, bộ phận cơ thể người được thực hiện ở người sống đã đăng ký hoặc không có đăng ký nếu được sự đồng ý bằng văn bản của người hiến”. Quy định như vậy vừa ngắn gọn, vừa chặt chẽ và phạm vi điều chỉnh của điều luật sẽ rộng hơn, phù hợp với đời sống xã hội vốn cần sự linh hoạt và kịp thời. Ngoài ra, còn loại bỏ được những thủ tục hành chính phiền hà, mất thời gian của người hiến.

5. Nên bổ sung quy định về cấy ghép tử cung vào Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Cấy ghép tử cung là một sự tiến bộ vượt bậc trong y học, nó không chỉ đem lại lợi ích về mặt thể chất mà còn mang ý nghĩa về mặt tinh thần. Khi một người phụ nữ không muốn sinh con, họ có thể lựa chọn hiến tặng nó cho một người phụ nữ khác bị khiếm khuyết tử cung bẩm sinh và các bác sĩ sẽ tiến hành cấy ghép tử cung vào ổ bụng người nhận. Sau đó, người nhận ghép tạng có thể sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

Thực tế, phẫu thuật cấy ghép tử cung từ người hiến tạng còn sống đã có tiền lệ thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, cho đến nay, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là đơn vị y tế đầu tiên công bố ý định ghép tử cung, tạo cơ hội làm mẹ cho những người phụ nữ có bệnh đặc biệt, không có tử cung hoặc không thể mang thai do những bất thường về tử cung. Theo GS.TS. Mai Hồng Bàng - Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, thì bệnh viện đã thực hiện việc ghép phổi, ghép giác mạc, ghép thận… và đến sau năm 2020 sẽ thực hiện việc ghép chi, ghép gân, ghép tử cung. Đối với các trường hợp ghép tử cung, GS.TS. Mai Hồng Bàng cũng cho rằng: Có cơ hội hiến - ghép trong trường hợp con gái có bất thường về tử cung và không thể mang thai được mà mẹ có thể hiến tặng tử cung để ghép cho con gái hoặc có thể có nguồn hiến tặng tử cung từ người cho chết não[3]. Vì vậy, để vấn đề cấy ghép tử cung sớm được triển khai trong thực tiễn, tác giả đề nghị nên bổ sung quy định về cấy ghép tử cung vào Luật.

6. Nên bổ sung quy định về cấy, ghép cẳng tay, chân vào Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Cấy, ghép cẳng tay, chân đã được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia có nền y học phát triển như Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Canada, Iran, Trung Quốc, Ấn Độ. Ở Việt Nam, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã ghép thành công hai cẳng tay cho một bệnh nhân 18 tuổi từ người cho chết não[4]. Tuy nhiên, vấn đề cấy, ghép cẳng tay, chân vẫn chưa được điều chỉnh ở trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Do vậy, theo tác giả nên bổ sung nội dung này vào Luật bằng một điều luật cụ thể để thuận tiện trong thực tiễn thực hiện tại Việt Nam.

Đoàn Thị Ngọc Hải
NCS. Đại học Luật Hà Nội



[1]. http://bachmai.gov.vn/tin-tuc-va-su-kien/cac-ky-thuat-moi-trien-khai/5698-su-dung-te-bao-goc-trong-dieu-tri-benh-phoi-tac-nghen-man-tinh-nhung-ket-qua-buoc-dau.html.

[2]. Xem: http://www.benhviendakhoatinhphutho.vn/Chuyen-muc-tin/Chi-tiet-tin/tabid/92/t/thuc-hien-thanh-cong-ca-ghep-than-khong-cung-huyet-thong-va-nhom-mau/title/2109/ctitle/18/language/vi-VN/Default.aspx? AspxAutoDetectCookieSupport=1.

[3]. https://tuoitre.vn/co-hoi-ghep-tu-cung-tai-viet-nam-20181210092626594.htm.

[4]. https://tuoitre.vn/ghep-thanh-cong-doi-tay-cho-nam-benh-nhan-18-tuoi-2020110914275738.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: