Thứ tư 18/03/2026 12:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam hiện nay

Đồng thời, ANCN có mối quan hệ chặt chẽ với an ninh quốc gia (ANQG). ANQG là bảo đảm quan trọng cho ANCN, nhưng ngoài ANQG, ANCN còn bị đe dọa bởi nhiều yếu tố khác như: Đói nghèo, bệnh tật, dịch bệnh, thất nghiệp, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường… Tuy đây là những vấn đề của mỗi quốc gia nhưng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay thì vấn đề ANCN cần phải giải quyết trong sự hợp tác quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Con người trong thế giới ngày nay đang đứng trước những mối đe dọa cho sự an toàn như: Thiên tai, lũ lụt, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, nghèo đói, tội phạm… Trong quá trình đổi mới và hội nhập, Việt Nam đang có nhiều thay đổi về cơ chế quản lý, phát triển khoa học công nghệ, quá trình đô thị hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế…, đồng thời, chịu sự tác động của nhiều vấn đề quốc tế nên vấn đề an ninh con người (ANCN) đã và đang đặt ra nhiều thách thức. Vì vậy, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đặc biệt chú trọng và đề cao vấn đề “an ninh con người”. Định hướng về quản lý phát triển xã hội trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, phân minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người”[1]. ANCN là vấn đề bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cần được tiếp cận tổng thể với tư duy đa ngành, lĩnh vực có sự tham gia của nhiều chủ thể trong xã hội. Trong đó, hoàn thiện pháp luật bảo đảm ANCN là một yêu cầu rất cấp bách cần đặt ra trong giai đoạn hiện nay.

2. Nhận thức về an ninh con người ở Việt Nam hiện nay

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều vấn đề an ninh mới xuất hiện, trong đó có vấn đề an ninh con người. Báo cáo phát triển con người năm 1994 của Liên hợp quốc xác định an ninh con người gồm hai khía cạnh chính: (I) Nó có nghĩa là an toàn trước những mối đe dọa kinh niên như nạn đói, bệnh tật và sự đàn áp; (ii) Nó có nghĩa là bảo vệ chống lại sự phá vỡ đột ngột và gây tổn thương đối với mẫu hình cuộc sống hằng ngày - cho dù trong gia đình, trong công việc hay trong cuộc sống. ANCN bao gồm 07 thành phần: An ninh kinh tế; an ninh lương thực; an ninh y tế; an ninh môi trường; an ninh cá nhân; an ninh cộng đồng và an ninh chính trị[2]. Như vậy, có thể thấy, vấn đề ANCN được đặt ra trong bối cảnh những biến đổi của tự nhiên và xã hội đang đe dọa cuộc sống, sự an toàn của con người.

Như vậy, ANCN đòi hỏi con người, các thiết chế, các chính phủ phải thay đổi hành vi của mình, để bảo vệ các giá trị quan trọng cốt lõi trong cuộc sống con người theo cách làm gia tăng sự tự do của con người và hoàn thiện con người; bảo vệ các quyền tự do cơ bản - các quyền tự do cốt lõi của cuộc sống. Tức là, bảo vệ mọi người khỏi các tình huống nguy cấp (nghiêm trọng) và lan rộng (phổ biển) của các mối đe dọa. ANCN sử dụng các cách thức dựa trên các thế mạnh và nguyện vọng của con người. Xây dựng các nền tảng về chính trị, xã hội, môi trường, kinh tế, quân sự và văn hóa, cùng tạo dựng các trụ cột về sự sống còn, sinh kế và phẩm giá của con người[3].

Đồng thời, ANCN có mối quan hệ chặt chẽ với an ninh quốc gia (ANQG). ANQG là bảo đảm quan trọng cho ANCN, nhưng ngoài ANQG, ANCN còn bị đe dọa bởi nhiều yếu tố khác như: Đói nghèo, bệnh tật, dịch bệnh, thất nghiệp, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường… Tuy đây là những vấn đề của mỗi quốc gia nhưng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay thì vấn đề ANCN cần phải giải quyết trong sự hợp tác quốc tế. Vì vậy, những quan điểm cho rằng ANCN cao hơn chủ quyền quốc gia là không thực tế. Bởi, không thể có ANCN được bảo đảm chung cho tất cả mọi người, trong khi, con người ở các quốc gia, dân tộc vốn rất khác nhau về văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội... Do vậy, ANCN ở mỗi quốc gia phải do chính các quốc gia bảo đảm trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng quốc tế và khu vực.

Ở Việt Nam, trong suốt quá trình đổi mới, con người luôn được coi là trung tâm của mọi chính sách phát triển, là động lực, là mục tiêu của sự phát triển. Tuy nhiên, vấn đề ANCN chỉ chính thức được đặt ra từ Văn kiện Đại hội XII và đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thì ANCN trở thành một trong những vấn đề trọng tâm: “Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa”[4], là một trong những nhiệm vụ, giải pháp phát triển đất nước 05 năm tới (2021-2025). Đồng thời, “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người”[5] trong tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Có thể thấy, đó là quá trình nhận thức và phát triển nhận thức về ANCN phù hợp với sự phát triển chung.

Sau hơn 35 năm đổi mới, những thành quả về phát triển kinh tế - xã hội đã giúp Việt Nam bảo đảm ANCN trên nhiều lĩnh vực, thể hiện ở những con số về thu nhập bình quân đầu người, an ninh lương thực, tỷ lệ hộ nghèo, số người có thẻ bảo hiểm y tế, tỷ lệ người thất nghiệp… Nhưng quá trình đổi mới cũng đã và đang đặt ra rất nhiều thách thức mới về ANCN như bất bình đẳng vùng miền, chênh lệch giàu nghèo, phá rừng, cạn kiệt tài nguyên, tội phạm, an ninh, an toàn thông tin… Thêm vào đó, trong quá trình hội nhập, Việt Nam phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa ANCN như: Biến động khó lường của đời sống quốc tế, dịch bệnh, chiến tranh, tội phạm, âm mưu can thiệp gây mất ổn định về chính trị…

3. Thực trạng pháp luật về bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam thời gian qua

ANCN không phải là vấn đề hoàn toàn mới và pháp luật về bảo đảm ANCN không phải là một lĩnh vực pháp luật mới, mà trong bối cảnh mới, hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện với một tư duy tiếp cận mới, cách nhìn toàn diện hơn từ yêu cầu bảo đảm ANCN.

Có thể thấy, xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển nhà nước kiểu mới, với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Việt Nam luôn đề cao các giá trị con người, “vì con người và giải phóng con người”. Trong quá trình đó, Đảng ta đã có những sai lầm do chủ quan, duy ý chí, nhưng vượt lên trên tất cả, Đảng vẫn chủ trương củng cố nền tảng cho một chế độ xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bước vào giai đoạn đổi mới, Đảng đã tiếp thu các giá trị của lịch sử nhân loại phù hợp với bản chất và mục tiêu của Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là tư tưởng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người (QCN), kiểm soát quyền lực nhà nước… Cho đến nay, Hiến pháp năm 2013 có thể được coi là một thành tựu pháp lý quan trọng bảo đảm ANCN ở Việt Nam.

Hiến pháp năm 2013 quy định về QCN theo một tư duy mới, đó là cam kết của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về trách nhiệm ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm các QCN theo Hiến pháp và pháp luật. Tư duy này thể hiện từ ở cách ghi nhận quyền: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”[6], cho đến cam kết thành lập “cơ chế bảo hiến”.

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã được ban hành như: Luật Tiếp cận thông tin năm 2018, Luật Trưng cầu dân ý năm 2016… Nhiều luật được sửa đổi, bổ sung như: Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015… Các bộ luật, luật ban hành mới hay sửa đổi, bổ sung đều đã tiếp cận tư duy tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm QCN, với nguyên tắc: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”[7]. Đây là nguyên tắc lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, là nguyên tắc rất quan trọng trong bảo đảm ANCN, chống lại sự xâm hại QCN một cách tùy tiện từ các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền và các cá nhân, tổ chức khác.

Có thể nói, pháp luật Việt Nam cơ bản được hoàn thiện và đang đóng góp vai trò rất quan trọng trong bảo đảm ANCN, nhưng đồng thời cũng còn bộc lộ những bất cập nhất định thể hiện trên tất cả các thành phần: An ninh kinh tế; an ninh lương thực; an ninh y tế; an ninh môi trường; an ninh cá nhân; an ninh cộng đồng và an ninh chính trị.

Về an ninh kinh tế: Việt Nam đã có pháp luật về dân sự, lao động, việc làm, đầu tư, thương mại, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp… Quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế… nhiều quy định về trách nhiệm của chính quyền, nhà đầu tư đối với tạo việc làm, sử dụng lao động địa phương, đào tạo tại chỗ, cơ hội tiếp cận các nguồn tín dụng… đã được ban hành. Nhưng tình trạng mất việc làm, lao động di cư, mức lương tối thiểu không bảo đảm cuộc sống… vẫn đang tồn tại, do pháp luật về lao động, việc làm, đất đai…, các chính sách an sinh xã hội chưa bao quát toàn diện và có hỗ trợ phù hợp với các đối tượng chịu ảnh hưởng từ quá trình phát triển.

Về an ninh lương thực: Vấn đề an ninh lương thực ở Việt Nam hiện nay đã được giải quyết tương đối tốt bởi hệ thống các chính sách đồng bộ vì mục tiêu an ninh lương thực. Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát chất lượng lương thực, những thách thức trong bối cảnh an ninh lương thực toàn cầu đang gặp nhiều khó khăn; quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đô thị hóa, xâm nhập mặn, nước biển dâng, diện tích trồng lúa nước liên tục bị thu hẹp cũng là những nguy cơ cần được nhận diện và điều chỉnh kịp thời trong thể chế pháp luật.

Về an ninh y tế: Pháp luật về khám chữa bệnh, về bảo vệ sức khỏe nhân dân, về bảo hiểm y tế đã không ngừng được hoàn thiện. Nhờ đó, các cơ sở khám chữa bệnh liên tục gia tăng, chất lượng của cơ sở khám chữa bệnh cũng được nâng cao, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nhất là ở các thành phố lớn; y tế dự phòng và kiểm soát dịch bệnh cũng được quan tâm đầu tư phát triển, bước đầu hình thành mô hình bác sỹ gia đình. Tuy nhiên, sự chệnh lệch về chất lượng dịch vụ giữa các vùng miền, việc tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng của người nghèo ở các vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn; tình trạng “chảy máu chất xám” từ bệnh viện công cũng đã và đang là thách thức lớn cho vấn đề an ninh y tế, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến khó lường hiện nay. Điều này đã phản ánh rõ nét những bất cập về thể chế trong lĩnh vực khám chữa bệnh, cơ chế quản lý đơn vị sự nghiệp công và các quy định liên quan. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh Covid 19, pháp luật đã thể hiện những khoảng trống pháp lý về tình trạng khẩn cấp, cấp bách về dịch bệnh. Nghị quyết số 30/2021/QH15 ngày 28/7/2021 của Quốc hội về Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV đã trao thẩm quyền rất lớn cho Chính phủ và các địa phương áp dụng các lệnh giãn cách, cách ly… ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, làm ăn của người dân.

Về an ninh môi trường: Sau hơn 35 năm đổi mới, cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế, nhiều hậu quả về môi trường đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân: Tình trạng khai thác rừng bừa bãi, ô nhiễm không khí, đất đai, ô nhiễm nguồn nước, suy kiệt tài nguyên, tình trạng nước biển dâng, xâm ngập mặn, mất cân bằng sinh thái… đang đe dọa cuộc sống của con người. Không những thế, nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, cũng như ảnh hưởng đến việc thu hút nguồn vốn đầu tư dài hạn của các nước trên thế giới. Chính vì vậy, những cảnh báo luôn được đặt ra, pháp luật về môi trường không ngừng hoàn thiện để kiểm soát chặt chẽ hơn. Nhưng vẫn là chưa đủ, các chế tài còn chưa đủ sức răn đe, chính quyền địa phương vẫn chịu sức ép về chỉ tiêu phát triển kinh tế hơn là chỉ tiêu về bảo vệ môi trường… Các quy định về phí, thuế môi trường đã được đặt ra nhưng còn nhiều quy định chưa phù hợp, chưa bao quát được hết trách nhiệm của các hành vi tác động đến môi trường; chế tài với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường chưa đủ tính răn đe…

Về an ninh cá nhân: Đây là vấn đề luôn được quan tâm trong quá trình hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi các điều kiện sống… đã và đang làm phát sinh nhiều nguy cơ xâm phạm an ninh cá nhân. Tình trạng các thông tin cá nhân được khai thác tùy tiện, khó kiểm soát trên các trang mạng xã hội đã tạo điều kiện cho hoạt động sử dụng không gian mạng để lừa đảo gia tăng. Các thông tin này có thể được dùng để chống lại các cá nhân như truy cập trái phép tài khoản ngân hàng, đe dọa tống tiền, xúc phạm danh dự, nhân phẩm… Ngoài ra, các sản phẩm giả mạo, kém chất lượng, thậm chí độc hại tồn tại trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, sự an toàn của cá nhân; các hoạt động tội phạm diễn biến phức tạp, khó lường len lỏi vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhiều trường hợp. Trong khi pháp luật còn nhiều lỗ hổng, thiếu ổn định, cơ chế quản lý chưa theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của đời sống xã hội, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện…

Về an ninh cộng đồng: Thời gian qua, pháp luật đã có nhiều quy định điều chỉnh các hoạt động nhằm bảo vệ an ninh cộng đồng như: Tụ tập đông người gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tụ tập đua xe trái phép; hoàn thiện pháp luật về biểu tình… Đồng thời, củng cố các giá trị xã hội như pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về dân chủ… Tuy nhiên, các hành vi xâm phạm an ninh cộng đồng vẫn diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Chẳng hạn, hành vi đua xe trái phép, tụ tập đông người trái pháp luật, xúc phạm danh dự nhân phẩm, các hành vi xâm hại khác… Tình trạng trên có nguyên nhân từ pháp luật còn nhiều bất cập trong quản lý và xử lý các hành vi vi phạm an ninh cộng đồng như chậm luật hóa các hành vi đe dọa an ninh cộng đồng, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe; chưa ban hành Luật biểu tình.

Về an ninh chính trị: Sự thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội và sự đa dạng hóa các nhóm lợi ích thời gian qua đã đẩy nhanh quá trình hoàn thiện pháp luật về dân chủ. Theo đó, hệ thống chính trị đã có nhiều đổi mới để khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, hành chính hóa… Tuy nhiên, thể chế về dân chủ, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị còn nhiều bất cập. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, dân chủ hình thức, bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả gây bức xúc xã hội. Một số nơi đã xảy ra xung đột giữa Nhân dân và chính quyền địa phương. Đồng thời, lợi dụng quá trình đổi mới và hội nhập của Việt Nam thời gian qua, những thế lực cực hữu phương Tây đã âm mưu gây “diễn biến hòa bình” mất ổn định về chính trị. Thêm vào đó, là các hành vi kích động gây rối trật tự công cộng, âm mưu lật đổ chính quyền từ các thế lực phản động trong nước và sống lưu vong ở ngoài nước cấu kết với các phần tử bất mãn trong nước. Nhìn chung, các vụ việc xảy ra trong thời gian qua đã bị phát hiện và xử lý nghiêm, làm thất bại nhiều âm mưu của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị. Tuy nhiên, các lực lượng trên chưa chịu từ bỏ dã tâm của mình, nguy cơ xâm phạm an ninh chính trị đang diễn biến với nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, tinh vi và phức tạp như sử dụng vấn đề nhân quyền can thiệp vào quá trình xử lý, đưa tin sai sự thật gây mất uy tín của Nhà nước… Bối cảnh mới đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để đấu tranh có hiệu quả các hành vi xâm phạm an ninh chính trị.

Tóm lại, hệ thống pháp luật hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập về tính thống nhất, khả thi, tính phù hợp, tính dự báo, khả năng tiên liệu, tính minh bạch và tính hiệu quả trong bảo đảm ANCN trên tất cả các lĩnh vực. Trong khi các nguy cơ đe dọa ANCN ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp, đặt ra nhiều thách thức cho quá trình hoàn thiện pháp luật bảo đảm ANCN.

4. Định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam hiện nay

4.1. Quán triệt các quan điểm của Đảng về an ninh con người trong Văn kiện Đại hội XIII trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật

Vấn đề ANCN là một trong những nội dung được đề cập khá toàn diện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Một mặt, Văn kiện khẳng định mục tiêu bảo đảm ANCN trong nhiều định hướng quan trọng, mặt khác, Văn kiện cũng chỉ ra các định hướng để hiện thực hóa mục tiêu bảo đảm ANCN. Chẳng hạn, “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”[8]; “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”[9]… Theo đó, để thực hiện được mục tiêu theo định hướng trên cần có các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần dân chủ hóa quá trình xây dựng pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong xây dựng pháp luật và thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước.

Thứ hai, quán triệt các quan điểm của Đảng về “xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” trong hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện giám sát, phản biện xã hội.

Thứ ba, thể chế hóa đầy đủ cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đồng thời, hoàn thiện thể chế huy động và phát huy các nguồn lực của xã hội cho công cuộc đổi mới theo tinh thần “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”.

4.2. Hoàn thiện pháp luật bảo đảm an ninh con người cần được xác định là một định hướng trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045

Hoàn thiện pháp luật bảo đảm ANCN cần được xác định là một định hướng trong Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045, xuất phát từ lý do vấn đề ANCN phải được tiếp cận toàn diện và đa chiều. Mỗi văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành mới, sửa đổi, bổ sung phải xuất phát từ lý do về ANCN, bởi đó là vấn đề cốt lõi, nhằm thực hiện “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Phải bảo đảm ANCN trước khi nói đến “nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng”, “hạnh phúc, ấm no”.

Việc ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế là một nội dung rất quan trọng trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045. Nội dung này cũng phải được xác định trước hết vì ANCN và nhằm bảo đảm ANCN. Theo đó, Việt Nam cần chủ động, tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm bảo vệ ANCN; tích cực tham gia hợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực, cũng như tham gia vào nhiều cơ chế quan trọng của Liên hợp quốc về quyền con người; thực hiện các khuyến nghị về quyền con người thông qua các cơ chế bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc…

4.3. Tiếp tục thể chế hóa các quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 2013 ra đời đã có tác động rất lớn tới nhận thức chung của xã hội về QCN và trách nhiệm của Nhà nước đối với QCN của mỗi cá nhân. Hiến pháp năm 2013 cũng là cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy quá trình thực hiện các điều ước quốc tế về QCN mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành mới, sửa đổi hoặc bổ sung, nhằm thực hiện các nguyên tắc, quy định trong Hiến pháp năm 2013. Những thay đổi này trong quá trình hoàn thiện pháp luật đã tạo những cơ sở pháp lý cần thiết cho bảo đảm ANCN.

Vì vậy, cần “đẩy nhanh tiến độ ban hành các luật trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013” hiện nay là rất cần thiết nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm ANCN.

4.4. Hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

Nhà nước là một thiết chế có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm ANCN. Bất cứ một hành vi thiếu trách nhiệm nào của cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước đều có thể là điều kiện cho các nguy cơ xâm phạm ANCN tồn tại và phát triển. Nguy hiểm hơn, khi quyền lực nhà nước bị lạm dụng thì chính quyền lực nhà nước lại trở thành nguy cơ xâm phạm ANCN. Vì vậy, pháp luật phải hoàn thiện để “nhốt quyền lực trong lồng thể chế”. Pháp luật phải thiết lập được cơ chế trách nhiệm chặt chẽ để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Khi đó, các quy định pháp luật về ANCN mới được thiết lập và thực thi có hiệu quả./.

TS. Trần Thị Thanh Mai
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật, tr. 49.

[2] Chương trình phát triển Liên hợp quốc (1994), Báo cáo phát triển con người (NewYork: Oxford University Press, 1994), tr. 23.

[3] Chu Mạnh Hùng, Mối quan hệ giữa an ninh con người và an ninh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nhà nước và Pháp luật, số 10/2011, tr. 78-84.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật.

[6] Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[7] Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật, tr. 93.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật, tr. 27.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: