Thứ hai 11/05/2026 19:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam hiện nay

Đồng thời, ANCN có mối quan hệ chặt chẽ với an ninh quốc gia (ANQG). ANQG là bảo đảm quan trọng cho ANCN, nhưng ngoài ANQG, ANCN còn bị đe dọa bởi nhiều yếu tố khác như: Đói nghèo, bệnh tật, dịch bệnh, thất nghiệp, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường… Tuy đây là những vấn đề của mỗi quốc gia nhưng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay thì vấn đề ANCN cần phải giải quyết trong sự hợp tác quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Con người trong thế giới ngày nay đang đứng trước những mối đe dọa cho sự an toàn như: Thiên tai, lũ lụt, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, nghèo đói, tội phạm… Trong quá trình đổi mới và hội nhập, Việt Nam đang có nhiều thay đổi về cơ chế quản lý, phát triển khoa học công nghệ, quá trình đô thị hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế…, đồng thời, chịu sự tác động của nhiều vấn đề quốc tế nên vấn đề an ninh con người (ANCN) đã và đang đặt ra nhiều thách thức. Vì vậy, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đặc biệt chú trọng và đề cao vấn đề “an ninh con người”. Định hướng về quản lý phát triển xã hội trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, phân minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người”[1]. ANCN là vấn đề bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cần được tiếp cận tổng thể với tư duy đa ngành, lĩnh vực có sự tham gia của nhiều chủ thể trong xã hội. Trong đó, hoàn thiện pháp luật bảo đảm ANCN là một yêu cầu rất cấp bách cần đặt ra trong giai đoạn hiện nay.

2. Nhận thức về an ninh con người ở Việt Nam hiện nay

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều vấn đề an ninh mới xuất hiện, trong đó có vấn đề an ninh con người. Báo cáo phát triển con người năm 1994 của Liên hợp quốc xác định an ninh con người gồm hai khía cạnh chính: (I) Nó có nghĩa là an toàn trước những mối đe dọa kinh niên như nạn đói, bệnh tật và sự đàn áp; (ii) Nó có nghĩa là bảo vệ chống lại sự phá vỡ đột ngột và gây tổn thương đối với mẫu hình cuộc sống hằng ngày - cho dù trong gia đình, trong công việc hay trong cuộc sống. ANCN bao gồm 07 thành phần: An ninh kinh tế; an ninh lương thực; an ninh y tế; an ninh môi trường; an ninh cá nhân; an ninh cộng đồng và an ninh chính trị[2]. Như vậy, có thể thấy, vấn đề ANCN được đặt ra trong bối cảnh những biến đổi của tự nhiên và xã hội đang đe dọa cuộc sống, sự an toàn của con người.

Như vậy, ANCN đòi hỏi con người, các thiết chế, các chính phủ phải thay đổi hành vi của mình, để bảo vệ các giá trị quan trọng cốt lõi trong cuộc sống con người theo cách làm gia tăng sự tự do của con người và hoàn thiện con người; bảo vệ các quyền tự do cơ bản - các quyền tự do cốt lõi của cuộc sống. Tức là, bảo vệ mọi người khỏi các tình huống nguy cấp (nghiêm trọng) và lan rộng (phổ biển) của các mối đe dọa. ANCN sử dụng các cách thức dựa trên các thế mạnh và nguyện vọng của con người. Xây dựng các nền tảng về chính trị, xã hội, môi trường, kinh tế, quân sự và văn hóa, cùng tạo dựng các trụ cột về sự sống còn, sinh kế và phẩm giá của con người[3].

Đồng thời, ANCN có mối quan hệ chặt chẽ với an ninh quốc gia (ANQG). ANQG là bảo đảm quan trọng cho ANCN, nhưng ngoài ANQG, ANCN còn bị đe dọa bởi nhiều yếu tố khác như: Đói nghèo, bệnh tật, dịch bệnh, thất nghiệp, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường… Tuy đây là những vấn đề của mỗi quốc gia nhưng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay thì vấn đề ANCN cần phải giải quyết trong sự hợp tác quốc tế. Vì vậy, những quan điểm cho rằng ANCN cao hơn chủ quyền quốc gia là không thực tế. Bởi, không thể có ANCN được bảo đảm chung cho tất cả mọi người, trong khi, con người ở các quốc gia, dân tộc vốn rất khác nhau về văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội... Do vậy, ANCN ở mỗi quốc gia phải do chính các quốc gia bảo đảm trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng quốc tế và khu vực.

Ở Việt Nam, trong suốt quá trình đổi mới, con người luôn được coi là trung tâm của mọi chính sách phát triển, là động lực, là mục tiêu của sự phát triển. Tuy nhiên, vấn đề ANCN chỉ chính thức được đặt ra từ Văn kiện Đại hội XII và đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thì ANCN trở thành một trong những vấn đề trọng tâm: “Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa”[4], là một trong những nhiệm vụ, giải pháp phát triển đất nước 05 năm tới (2021-2025). Đồng thời, “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người”[5] trong tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Có thể thấy, đó là quá trình nhận thức và phát triển nhận thức về ANCN phù hợp với sự phát triển chung.

Sau hơn 35 năm đổi mới, những thành quả về phát triển kinh tế - xã hội đã giúp Việt Nam bảo đảm ANCN trên nhiều lĩnh vực, thể hiện ở những con số về thu nhập bình quân đầu người, an ninh lương thực, tỷ lệ hộ nghèo, số người có thẻ bảo hiểm y tế, tỷ lệ người thất nghiệp… Nhưng quá trình đổi mới cũng đã và đang đặt ra rất nhiều thách thức mới về ANCN như bất bình đẳng vùng miền, chênh lệch giàu nghèo, phá rừng, cạn kiệt tài nguyên, tội phạm, an ninh, an toàn thông tin… Thêm vào đó, trong quá trình hội nhập, Việt Nam phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa ANCN như: Biến động khó lường của đời sống quốc tế, dịch bệnh, chiến tranh, tội phạm, âm mưu can thiệp gây mất ổn định về chính trị…

3. Thực trạng pháp luật về bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam thời gian qua

ANCN không phải là vấn đề hoàn toàn mới và pháp luật về bảo đảm ANCN không phải là một lĩnh vực pháp luật mới, mà trong bối cảnh mới, hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện với một tư duy tiếp cận mới, cách nhìn toàn diện hơn từ yêu cầu bảo đảm ANCN.

Có thể thấy, xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển nhà nước kiểu mới, với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Việt Nam luôn đề cao các giá trị con người, “vì con người và giải phóng con người”. Trong quá trình đó, Đảng ta đã có những sai lầm do chủ quan, duy ý chí, nhưng vượt lên trên tất cả, Đảng vẫn chủ trương củng cố nền tảng cho một chế độ xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bước vào giai đoạn đổi mới, Đảng đã tiếp thu các giá trị của lịch sử nhân loại phù hợp với bản chất và mục tiêu của Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là tư tưởng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người (QCN), kiểm soát quyền lực nhà nước… Cho đến nay, Hiến pháp năm 2013 có thể được coi là một thành tựu pháp lý quan trọng bảo đảm ANCN ở Việt Nam.

Hiến pháp năm 2013 quy định về QCN theo một tư duy mới, đó là cam kết của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về trách nhiệm ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm các QCN theo Hiến pháp và pháp luật. Tư duy này thể hiện từ ở cách ghi nhận quyền: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”[6], cho đến cam kết thành lập “cơ chế bảo hiến”.

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã được ban hành như: Luật Tiếp cận thông tin năm 2018, Luật Trưng cầu dân ý năm 2016… Nhiều luật được sửa đổi, bổ sung như: Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015… Các bộ luật, luật ban hành mới hay sửa đổi, bổ sung đều đã tiếp cận tư duy tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm QCN, với nguyên tắc: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”[7]. Đây là nguyên tắc lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, là nguyên tắc rất quan trọng trong bảo đảm ANCN, chống lại sự xâm hại QCN một cách tùy tiện từ các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền và các cá nhân, tổ chức khác.

Có thể nói, pháp luật Việt Nam cơ bản được hoàn thiện và đang đóng góp vai trò rất quan trọng trong bảo đảm ANCN, nhưng đồng thời cũng còn bộc lộ những bất cập nhất định thể hiện trên tất cả các thành phần: An ninh kinh tế; an ninh lương thực; an ninh y tế; an ninh môi trường; an ninh cá nhân; an ninh cộng đồng và an ninh chính trị.

Về an ninh kinh tế: Việt Nam đã có pháp luật về dân sự, lao động, việc làm, đầu tư, thương mại, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp… Quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế… nhiều quy định về trách nhiệm của chính quyền, nhà đầu tư đối với tạo việc làm, sử dụng lao động địa phương, đào tạo tại chỗ, cơ hội tiếp cận các nguồn tín dụng… đã được ban hành. Nhưng tình trạng mất việc làm, lao động di cư, mức lương tối thiểu không bảo đảm cuộc sống… vẫn đang tồn tại, do pháp luật về lao động, việc làm, đất đai…, các chính sách an sinh xã hội chưa bao quát toàn diện và có hỗ trợ phù hợp với các đối tượng chịu ảnh hưởng từ quá trình phát triển.

Về an ninh lương thực: Vấn đề an ninh lương thực ở Việt Nam hiện nay đã được giải quyết tương đối tốt bởi hệ thống các chính sách đồng bộ vì mục tiêu an ninh lương thực. Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát chất lượng lương thực, những thách thức trong bối cảnh an ninh lương thực toàn cầu đang gặp nhiều khó khăn; quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đô thị hóa, xâm nhập mặn, nước biển dâng, diện tích trồng lúa nước liên tục bị thu hẹp cũng là những nguy cơ cần được nhận diện và điều chỉnh kịp thời trong thể chế pháp luật.

Về an ninh y tế: Pháp luật về khám chữa bệnh, về bảo vệ sức khỏe nhân dân, về bảo hiểm y tế đã không ngừng được hoàn thiện. Nhờ đó, các cơ sở khám chữa bệnh liên tục gia tăng, chất lượng của cơ sở khám chữa bệnh cũng được nâng cao, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nhất là ở các thành phố lớn; y tế dự phòng và kiểm soát dịch bệnh cũng được quan tâm đầu tư phát triển, bước đầu hình thành mô hình bác sỹ gia đình. Tuy nhiên, sự chệnh lệch về chất lượng dịch vụ giữa các vùng miền, việc tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng của người nghèo ở các vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn; tình trạng “chảy máu chất xám” từ bệnh viện công cũng đã và đang là thách thức lớn cho vấn đề an ninh y tế, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến khó lường hiện nay. Điều này đã phản ánh rõ nét những bất cập về thể chế trong lĩnh vực khám chữa bệnh, cơ chế quản lý đơn vị sự nghiệp công và các quy định liên quan. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh Covid 19, pháp luật đã thể hiện những khoảng trống pháp lý về tình trạng khẩn cấp, cấp bách về dịch bệnh. Nghị quyết số 30/2021/QH15 ngày 28/7/2021 của Quốc hội về Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV đã trao thẩm quyền rất lớn cho Chính phủ và các địa phương áp dụng các lệnh giãn cách, cách ly… ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, làm ăn của người dân.

Về an ninh môi trường: Sau hơn 35 năm đổi mới, cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế, nhiều hậu quả về môi trường đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân: Tình trạng khai thác rừng bừa bãi, ô nhiễm không khí, đất đai, ô nhiễm nguồn nước, suy kiệt tài nguyên, tình trạng nước biển dâng, xâm ngập mặn, mất cân bằng sinh thái… đang đe dọa cuộc sống của con người. Không những thế, nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, cũng như ảnh hưởng đến việc thu hút nguồn vốn đầu tư dài hạn của các nước trên thế giới. Chính vì vậy, những cảnh báo luôn được đặt ra, pháp luật về môi trường không ngừng hoàn thiện để kiểm soát chặt chẽ hơn. Nhưng vẫn là chưa đủ, các chế tài còn chưa đủ sức răn đe, chính quyền địa phương vẫn chịu sức ép về chỉ tiêu phát triển kinh tế hơn là chỉ tiêu về bảo vệ môi trường… Các quy định về phí, thuế môi trường đã được đặt ra nhưng còn nhiều quy định chưa phù hợp, chưa bao quát được hết trách nhiệm của các hành vi tác động đến môi trường; chế tài với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường chưa đủ tính răn đe…

Về an ninh cá nhân: Đây là vấn đề luôn được quan tâm trong quá trình hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi các điều kiện sống… đã và đang làm phát sinh nhiều nguy cơ xâm phạm an ninh cá nhân. Tình trạng các thông tin cá nhân được khai thác tùy tiện, khó kiểm soát trên các trang mạng xã hội đã tạo điều kiện cho hoạt động sử dụng không gian mạng để lừa đảo gia tăng. Các thông tin này có thể được dùng để chống lại các cá nhân như truy cập trái phép tài khoản ngân hàng, đe dọa tống tiền, xúc phạm danh dự, nhân phẩm… Ngoài ra, các sản phẩm giả mạo, kém chất lượng, thậm chí độc hại tồn tại trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, sự an toàn của cá nhân; các hoạt động tội phạm diễn biến phức tạp, khó lường len lỏi vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhiều trường hợp. Trong khi pháp luật còn nhiều lỗ hổng, thiếu ổn định, cơ chế quản lý chưa theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của đời sống xã hội, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện…

Về an ninh cộng đồng: Thời gian qua, pháp luật đã có nhiều quy định điều chỉnh các hoạt động nhằm bảo vệ an ninh cộng đồng như: Tụ tập đông người gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tụ tập đua xe trái phép; hoàn thiện pháp luật về biểu tình… Đồng thời, củng cố các giá trị xã hội như pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về dân chủ… Tuy nhiên, các hành vi xâm phạm an ninh cộng đồng vẫn diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Chẳng hạn, hành vi đua xe trái phép, tụ tập đông người trái pháp luật, xúc phạm danh dự nhân phẩm, các hành vi xâm hại khác… Tình trạng trên có nguyên nhân từ pháp luật còn nhiều bất cập trong quản lý và xử lý các hành vi vi phạm an ninh cộng đồng như chậm luật hóa các hành vi đe dọa an ninh cộng đồng, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe; chưa ban hành Luật biểu tình.

Về an ninh chính trị: Sự thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội và sự đa dạng hóa các nhóm lợi ích thời gian qua đã đẩy nhanh quá trình hoàn thiện pháp luật về dân chủ. Theo đó, hệ thống chính trị đã có nhiều đổi mới để khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, hành chính hóa… Tuy nhiên, thể chế về dân chủ, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị còn nhiều bất cập. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, dân chủ hình thức, bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả gây bức xúc xã hội. Một số nơi đã xảy ra xung đột giữa Nhân dân và chính quyền địa phương. Đồng thời, lợi dụng quá trình đổi mới và hội nhập của Việt Nam thời gian qua, những thế lực cực hữu phương Tây đã âm mưu gây “diễn biến hòa bình” mất ổn định về chính trị. Thêm vào đó, là các hành vi kích động gây rối trật tự công cộng, âm mưu lật đổ chính quyền từ các thế lực phản động trong nước và sống lưu vong ở ngoài nước cấu kết với các phần tử bất mãn trong nước. Nhìn chung, các vụ việc xảy ra trong thời gian qua đã bị phát hiện và xử lý nghiêm, làm thất bại nhiều âm mưu của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị. Tuy nhiên, các lực lượng trên chưa chịu từ bỏ dã tâm của mình, nguy cơ xâm phạm an ninh chính trị đang diễn biến với nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, tinh vi và phức tạp như sử dụng vấn đề nhân quyền can thiệp vào quá trình xử lý, đưa tin sai sự thật gây mất uy tín của Nhà nước… Bối cảnh mới đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để đấu tranh có hiệu quả các hành vi xâm phạm an ninh chính trị.

Tóm lại, hệ thống pháp luật hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập về tính thống nhất, khả thi, tính phù hợp, tính dự báo, khả năng tiên liệu, tính minh bạch và tính hiệu quả trong bảo đảm ANCN trên tất cả các lĩnh vực. Trong khi các nguy cơ đe dọa ANCN ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp, đặt ra nhiều thách thức cho quá trình hoàn thiện pháp luật bảo đảm ANCN.

4. Định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam hiện nay

4.1. Quán triệt các quan điểm của Đảng về an ninh con người trong Văn kiện Đại hội XIII trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật

Vấn đề ANCN là một trong những nội dung được đề cập khá toàn diện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Một mặt, Văn kiện khẳng định mục tiêu bảo đảm ANCN trong nhiều định hướng quan trọng, mặt khác, Văn kiện cũng chỉ ra các định hướng để hiện thực hóa mục tiêu bảo đảm ANCN. Chẳng hạn, “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”[8]; “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”[9]… Theo đó, để thực hiện được mục tiêu theo định hướng trên cần có các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần dân chủ hóa quá trình xây dựng pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong xây dựng pháp luật và thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước.

Thứ hai, quán triệt các quan điểm của Đảng về “xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” trong hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện giám sát, phản biện xã hội.

Thứ ba, thể chế hóa đầy đủ cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đồng thời, hoàn thiện thể chế huy động và phát huy các nguồn lực của xã hội cho công cuộc đổi mới theo tinh thần “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”.

4.2. Hoàn thiện pháp luật bảo đảm an ninh con người cần được xác định là một định hướng trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045

Hoàn thiện pháp luật bảo đảm ANCN cần được xác định là một định hướng trong Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045, xuất phát từ lý do vấn đề ANCN phải được tiếp cận toàn diện và đa chiều. Mỗi văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành mới, sửa đổi, bổ sung phải xuất phát từ lý do về ANCN, bởi đó là vấn đề cốt lõi, nhằm thực hiện “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Phải bảo đảm ANCN trước khi nói đến “nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng”, “hạnh phúc, ấm no”.

Việc ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế là một nội dung rất quan trọng trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045. Nội dung này cũng phải được xác định trước hết vì ANCN và nhằm bảo đảm ANCN. Theo đó, Việt Nam cần chủ động, tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm bảo vệ ANCN; tích cực tham gia hợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực, cũng như tham gia vào nhiều cơ chế quan trọng của Liên hợp quốc về quyền con người; thực hiện các khuyến nghị về quyền con người thông qua các cơ chế bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc…

4.3. Tiếp tục thể chế hóa các quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 2013 ra đời đã có tác động rất lớn tới nhận thức chung của xã hội về QCN và trách nhiệm của Nhà nước đối với QCN của mỗi cá nhân. Hiến pháp năm 2013 cũng là cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy quá trình thực hiện các điều ước quốc tế về QCN mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành mới, sửa đổi hoặc bổ sung, nhằm thực hiện các nguyên tắc, quy định trong Hiến pháp năm 2013. Những thay đổi này trong quá trình hoàn thiện pháp luật đã tạo những cơ sở pháp lý cần thiết cho bảo đảm ANCN.

Vì vậy, cần “đẩy nhanh tiến độ ban hành các luật trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013” hiện nay là rất cần thiết nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm ANCN.

4.4. Hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

Nhà nước là một thiết chế có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm ANCN. Bất cứ một hành vi thiếu trách nhiệm nào của cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước đều có thể là điều kiện cho các nguy cơ xâm phạm ANCN tồn tại và phát triển. Nguy hiểm hơn, khi quyền lực nhà nước bị lạm dụng thì chính quyền lực nhà nước lại trở thành nguy cơ xâm phạm ANCN. Vì vậy, pháp luật phải hoàn thiện để “nhốt quyền lực trong lồng thể chế”. Pháp luật phải thiết lập được cơ chế trách nhiệm chặt chẽ để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Khi đó, các quy định pháp luật về ANCN mới được thiết lập và thực thi có hiệu quả./.

TS. Trần Thị Thanh Mai
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật, tr. 49.

[2] Chương trình phát triển Liên hợp quốc (1994), Báo cáo phát triển con người (NewYork: Oxford University Press, 1994), tr. 23.

[3] Chu Mạnh Hùng, Mối quan hệ giữa an ninh con người và an ninh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nhà nước và Pháp luật, số 10/2011, tr. 78-84.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật.

[6] Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[7] Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật, tr. 93.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII/Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia -Sự thật, tr. 27.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: