Thứ hai 25/05/2026 09:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm

Trong phạm vi bài viết, tác giả nghiên cứu một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm và thực trạng áp dụng, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vấn đề này.

1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm

Xử lý vật chứng là một vấn đề phổ biến nhưng cũng khá phức tạp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đối với các tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015), đối tượng của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã là những động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp - Công ước CITES (Điều 234) và đối tượng của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là những loài động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I Công ước CITES
(Điều 244).

Theo điểm d khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), đối với “vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”. Như vậy, biện pháp giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền được áp dụng với một loại vật chứng có tính chất khá đặc biệt, đó là động vật hoang dã. Đây là nội dung hoàn toàn mới của Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 so với Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Sự bổ sung này xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã và thực vật ngoại lai, bởi đây là loại vật chứng rất đặc thù, dẫn đến việc xử lý theo các biện pháp thông thường là chưa hợp lý; đồng thời cũng xuất phát từ các cam kết quốc tế của Việt Nam về các vấn đề có liên quan, thể hiện quan điểm của Nhà nước về việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã.

Trong pháp luật hình sự, Điều 234 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã. Theo hướng dẫn tại khoản 1, khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP) thì động vật hoang dã bao gồm các loài động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục II Công ước CITES và các loài động vật rừng thông thường theo quy định của pháp luật, động vật hoang dã nguy cấp thuộc Phụ lục III Công ước CITES. Bên cạnh đó, Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm. Theo khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP thì “Động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Điều 244 của Bộ luật Hình sự là các loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp”. Như vậy, khái niệm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm đã được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn một cách khá chi tiết và có các văn bản quy định danh mục tương đối cụ thể.

Do tính chất đặc biệt của vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm nên nguyên tắc đầu tiên khi xử lý loại vật chứng này là nguyên tắc bảo tồn. Theo hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP, đối với động vật còn sống thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành để trả về tự nhiên, giao cho trung tâm cứu hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia hoặc giao cho cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật (điểm a). Vật chứng là cá thể động vật chết hoặc sản phẩm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản thì tiêu hủy hoặc giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật (điểm b). Những vật chứng khác không thuộc hai trường hợp này thì tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định của pháp luật (điểm c). Bên cạnh Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP, cũng có một số văn bản khác điều chỉnh biện pháp xử lý đối với vật chứng là động vật hoang dã, động vật rừng, động vật nguy cấp, quý, hiếm như Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Nghị định số 06/2019/NĐ-CP) (Điều 10, Điều 32); Thông tư số 29/2019/TT-BNNPTNT ngày 31/12/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định xử lý động vật rừng là tang vật, vật chứng; động vật rừng do tổ chức, cá nhân tự nguyện giao nộp Nhà nước (Điều 6). Đây có thể coi là các quy định về các biện pháp mà cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ áp dụng sau khi tiếp nhận vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm từ các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

2. Một số vướng mắc, khó khăn khi xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm

Thứ nhất, vướng mắc về việc bảo quản và xử lý vật chứng là động vật nguy cấp, quý, hiếm.

Đối với vụ án liên quan đến hành vi vi phạm quy định về động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015) thì việc bắt quả tang người phạm tội, thu giữ kịp thời vật chứng là động vật nguy cấp, quý, hiếm rất quan trọng và một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giải quyết vụ án về động vật nguy cấp, quý, hiếm là phải bảo vệ được các cá thể động vật sống. Tuy nhiên, trên thực tế, việc này không dễ thực hiện vì động vật sống, bộ phận và các sản phẩm từ động vật đòi hỏi phải có biện pháp chăm sóc, bảo quản đặc biệt so với các loại vật chứng khác.

Điển hình như vụ việc[1]: Ngày 04/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đã kiểm tra đột xuất và phát hiện tại nhà của Nguyễn Văn H đang nuôi nhốt 14 cá thể hổ đã trưởng thành. Cùng thời gian trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng đã kiểm tra nhà Nguyễn Thị Đ đang nuôi nhốt 03 cá thể hổ tương tự. Sau khi phát hiện 17 cá thể hổ bị nuôi nhốt trái phép, lực lượng chức năng đã gây mê để vận chuyển đến Khu sinh thái để chăm sóc trong thời gian phục vụ công tác điều tra. Tuy nhiên, trong quá trình vận chuyển, 08 trong số 17 cá thể hổ nêu trên đã bị chết chưa rõ nguyên nhân.

Có thể thấy, nếu cơ quan chức năng không thu giữ vật chứng hoặc vật chứng không đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật sẽ không xử lý được các đối tượng vi phạm. Tuy nhiên, việc chưa có cơ sở nuôi nhốt đối với các loài động vật đặc thù hay chưa có nhân viên chăm sóc động vật nguy cấp, quý, hiếm từ giai đoạn tạm giữ cho đến khi có quyết định xử lý vật chứng dẫn đến trường hợp cá thể động vật suy kiệt, chết..., gây khó khăn trong việc giám định hoặc không có cơ sở để xử lý hành vi vi phạm.

Thứ hai, vướng mắc khi xử lý vật chứng là bộ phận hay sản phẩm của động vật hoang dã.

Liên quan đến động vật hoang dã, các văn bản pháp luật còn bỏ sót một loại vật chứng khá quan trọng và phổ biến trong các vụ án, đó là bộ phận, hay sản phẩm của động vật hoang dã như ngà voi, sừng tê giác, hay vảy tê tê[2]… Mặc dù điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định số 06/2019/NĐ-CP quy định: “Mẫu vật các loài Nhóm IA, IB thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản công; Mẫu vật các loài Nhóm IIA, IIB chuyển giao cho tổ chức khoa học, đào tạo, giáo dục môi trường, bảo tàng chuyên ngành để trưng bày vì mục đích giáo dục bảo tồn; bán đấu giá cho tổ chức, cá nhân nuôi, trồng, chế biến, kinh doanh theo quy định của pháp luật; hoặc tiêu hủy trong trường hợp không thể thực hiện các biện pháp xử lý khác”, tuy nhiên, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 lại không quy định trường hợp này. Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn: “Vật chứng khác không thuộc trường hợp hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định của pháp luật”. Theo đó, các bộ phận, sản phẩm của động vật hoang dã được coi là không thuộc điểm a, điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP, do đó sẽ bị tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định pháp luật. Đây cũng là hướng dẫn của Công văn số 206/TANDTC-PC ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Tuy nhiên, quy định của Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP vẫn chưa hoàn toàn triệt để bởi trong trường hợp tịch thu thì việc tịch thu đó để nhằm mục đích gì, để nộp ngân sách nhà nước hay giao lại cho các cơ quan chuyên ngành có thẩm quyền? Thực tiễn xét xử còn chưa thống nhất, ví dụ đối với ngà voi, có Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy[3], có Tòa án tuyên tịch thu sung công[4].

Thứ ba, khó khăn trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có thu giữ động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm.

Quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có thu giữ động vật, sản phẩm của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm và có thể là vật chứng hoặc không phải vật chứng của vụ án sau này. Tuy nhiên, việc thu giữ, bảo quản, xử lý động vật, sản phẩm của động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm trong giai đoạn này chưa có hướng dẫn cụ thể. Tại Điều 90 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định xử lý tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, gây khó khăn trong công tác bảo quản, xử lý. Việc xử lý tài liệu tạm giữ trong giai đoạn này được đề cập tại khoản 1 Điều 13 Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định phối hợp thực hiện một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, tuy nhiên, quy định này chỉ mới dừng ở những vấn đề chung mà chưa có quy định cụ thể về thủ tục, trình tự để xử lý đồ vật, tài liệu bị tạm giữ trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, dẫn đến quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế của các cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa thống nhất trong việc xử lý vụ việc. Bởi lẽ, trong giai đoạn xác minh, giải quyết các nguồn tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng phải tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật để thu thập các tài liệu, đồ vật, chứng cứ nhằm xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm. Tuy chưa có quyết định khởi tố vụ án nhưng trong nhiều trường hợp, do tính chất của vật chứng là động vật hoang dã là phải bảo vệ được cá thể động vật sống để tái thả về tự nhiên nhưng trên thực tế việc này không dễ thực hiện vì động vật sống, bộ phận và các sản phẩm từ động vật phải có biện pháp chăm sóc và bảo quản đặc biệt so với các loại vật chứng khác, từ đó đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải nhanh chóng xử lý trong quá trình xác minh, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Về cơ bản, có thể coi việc xử lý vật chứng trong trường hợp không khởi tố vụ án hình sự cũng tương tự như trong trường hợp ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ đề cập đến xử lý vật chứng trong trường hợp đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án mà không quy định về trường hợp cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, việc tiến hành xử lý vật chứng khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự là cần thiết và hợp lý nhưng lại thiếu cơ sở pháp lý, dẫn đến sự lúng túng nhất định và sự thiếu thống nhất của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm là loại vật chứng rất đa dạng (có thể là động vật sống, đã chết, động vật mang mầm bệnh, động vật ốm, yếu; động vật được phép nuôi, kinh doanh, động vật không được phép nuôi, kinh doanh; sản phẩm động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm cũng có nhiều loại, có loại phải bảo quản trong môi trường đặc biệt như thịt, có sản phẩm có thể bảo quản ở môi trường thông thường như sừng, cao, vảy...) nên thời điểm, hình thức xử lý của từng loại cũng sẽ khác nhau. Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt nêu trên của vật chứng là động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải nghiên cứu tất cả các văn bản pháp luật về xử lý vật chứng, xử lý tang vật và các quy định về quản lý động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm để có những đánh giá, nhận định, quyết định cơ quan chuyên môn có đủ điều kiện để tiếp nhận, quản lý, xử lý vật chứng cho phù hợp với quy định pháp luật.

Mặc dù Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP có đề cập nội dung hướng dẫn việc xử lý vật chứng là sản phẩm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản nhưng mới chỉ hướng dẫn chung chung là Tòa án tuyên tịch thu hoặc tiêu hủy hoặc giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Có thể thấy, trong những năm qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã bắt giữ, khởi tố nhiều vụ vận chuyển, buôn bán sừng tê giác, ngà voi, vảy đồi mồi và nhiều bộ phận của động vật quý hiếm[5]. Đây được xem là những tài sản có giá trị lớn, tuy nhiên, việc cơ quan có thẩm quyền tuyên tịch thu, bán đấu giá những vật chứng này thì sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng vì việc “hợp pháp hóa” và “thương mại hóa”, đặc biệt là ngà voi hay sừng tê giác là trái với pháp luật quốc tế; thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ và sử dụng trên thị trường. Bên cạnh đó, chi phí lưu giữ, bảo quản các loại vật chứng này sẽ tốn khá nhiều kinh phí. Do đó, hình thức xử lý tịch thu, tiêu hủy vật chứng là sản phẩm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm là biện pháp xử lý vật chứng cuối cùng, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế trong việc ngăn chặn, đẩy lùi nạn buôn bán trái pháp luật ngà voi, sừng tê giác và các sản phẩm động vật hoang dã khác, đồng thời là thông điệp trong chiến dịch tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức công chúng không tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã có nguồn gốc phi pháp.

Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP như sau: “Vật chứng là cá thể động vật chết hoặc sản phẩm hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản thì tiêu hủy. Những vật chứng là sản phẩm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm có thể bảo quản thì giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”.

Thứ hai, cần thống nhất việc xử lý vật chứng liên quan đến động vật nguy cấp, quý, hiếm. Theo đó, cần có quy định cho phép các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử có đủ thẩm quyền xử lý vật chứng là động vật nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB hoặc Phụ lục I của Công ước CITES khi bị bắt giữ còn sống, linh hoạt trong việc cứu hộ, tái thả về nơi cư trú tự nhiên hoặc tiêu hủy nếu phát hiện có mầm bệnh hoặc chuyển giao cho các cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở nghiên cứu nhân giống, gây nuôi động vật hợp pháp, cơ sở giáo dục môi trường, vườn thú... Đồng thời, xác định rõ cơ quan chuyên môn quy định tại điểm d khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để công tác bàn giao vật chứng là động vật nguy cấp, quý, hiếm vừa đúng quy trình, vừa có hiệu quả. Quy định cụ thể danh mục các cơ quan, đơn vị được giao thả lại động vật nguy cấp, quý, hiếm về môi trường tự nhiên; các cơ quan, đơn vị có chức năng cứu hộ động vật nguy cấp, quý, hiếm... để cơ quan tiến hành tố tụng quyết định cụ thể[6].

Thứ ba, theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc xử lý vật chứng có thể được thực hiện khi vụ án kết thúc hoặc cũng có thể được thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nếu xét thấy cần thiết. Tuy nhiên, như đã phân tích, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không đề cập đến việc xử lý vật chứng trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, hay kiến nghị khởi tố cũng như trong trường hợp tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án. Do đó, để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, tác giả kiến nghị bổ sung nội dung quy định về việc xử lý vật chứng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự cũng như trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án, trong đó có quy định về việc xử lý động vật, sản phẩm của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm.

Lê Bá Đức

Học viên Cao học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Kim Long (2021), “Khởi tố, bắt tạm giam bị can nuôi nhốt 14 cá thể hổ trái phép”, Báo Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/khoi-to-bat-tam-giam-bi-can-nuoi-nhot-14-ca-the-ho-trai-phep-post407232.html, truy cập ngày 05/01/2024.

[2]. Trần Văn Độ (2020), “Một số vấn đề về xử lý vật chứng trong các vụ án về các tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12, tr. 03.

[3]. Bản án số 193/2020/HS-ST ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân TP. N về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta523845t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/01/2024.

[4]. Bản án số 20/2018/HS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Q về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta223569t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/01/2024.

[5]. Phúc Huy (2023), “Nâng cao nhận thức về nguy cơ và rủi ro tài chính từ buôn bán động vật hoang dã”, Báo nhân dân điện tử, https://nhandan.vn/nang-cao-nhan-thuc-ve-nguy-co-va-rui-ro-tai-chinh-tu-buon-ban-dong-vat-hoang-da-post753137.html, truy cập ngày 06/01/2024.

[6]. Phạm Minh Tuyên (2020), “Giám định, xử lý vật chứng, định giá động vật hoang dã, động vật nguy cấp quý hiếm trong tố tụng hình sự - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/public/index.php/giam-dinh-xu-ly-vat-chung-dinh-gia-dong-vat-hoang-da-dong-vat-nguy-cap-quy-hiem-trong-to-tung-hinh-su-vuong-mac-va-kien-nghi-hoan-thien, truy cập ngày 06/01/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 398), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: