Chủ nhật 13/09/2026 12:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm

Trong phạm vi bài viết, tác giả nghiên cứu một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm và thực trạng áp dụng, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vấn đề này.

1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm

Xử lý vật chứng là một vấn đề phổ biến nhưng cũng khá phức tạp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đối với các tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015), đối tượng của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã là những động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp - Công ước CITES (Điều 234) và đối tượng của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là những loài động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I Công ước CITES
(Điều 244).

Theo điểm d khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), đối với “vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”. Như vậy, biện pháp giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền được áp dụng với một loại vật chứng có tính chất khá đặc biệt, đó là động vật hoang dã. Đây là nội dung hoàn toàn mới của Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 so với Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Sự bổ sung này xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã và thực vật ngoại lai, bởi đây là loại vật chứng rất đặc thù, dẫn đến việc xử lý theo các biện pháp thông thường là chưa hợp lý; đồng thời cũng xuất phát từ các cam kết quốc tế của Việt Nam về các vấn đề có liên quan, thể hiện quan điểm của Nhà nước về việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã.

Trong pháp luật hình sự, Điều 234 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã. Theo hướng dẫn tại khoản 1, khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP) thì động vật hoang dã bao gồm các loài động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục II Công ước CITES và các loài động vật rừng thông thường theo quy định của pháp luật, động vật hoang dã nguy cấp thuộc Phụ lục III Công ước CITES. Bên cạnh đó, Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm. Theo khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP thì “Động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Điều 244 của Bộ luật Hình sự là các loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp”. Như vậy, khái niệm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm đã được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn một cách khá chi tiết và có các văn bản quy định danh mục tương đối cụ thể.

Do tính chất đặc biệt của vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm nên nguyên tắc đầu tiên khi xử lý loại vật chứng này là nguyên tắc bảo tồn. Theo hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP, đối với động vật còn sống thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành để trả về tự nhiên, giao cho trung tâm cứu hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia hoặc giao cho cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật (điểm a). Vật chứng là cá thể động vật chết hoặc sản phẩm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản thì tiêu hủy hoặc giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật (điểm b). Những vật chứng khác không thuộc hai trường hợp này thì tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định của pháp luật (điểm c). Bên cạnh Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP, cũng có một số văn bản khác điều chỉnh biện pháp xử lý đối với vật chứng là động vật hoang dã, động vật rừng, động vật nguy cấp, quý, hiếm như Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Nghị định số 06/2019/NĐ-CP) (Điều 10, Điều 32); Thông tư số 29/2019/TT-BNNPTNT ngày 31/12/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định xử lý động vật rừng là tang vật, vật chứng; động vật rừng do tổ chức, cá nhân tự nguyện giao nộp Nhà nước (Điều 6). Đây có thể coi là các quy định về các biện pháp mà cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ áp dụng sau khi tiếp nhận vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm từ các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

2. Một số vướng mắc, khó khăn khi xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm

Thứ nhất, vướng mắc về việc bảo quản và xử lý vật chứng là động vật nguy cấp, quý, hiếm.

Đối với vụ án liên quan đến hành vi vi phạm quy định về động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015) thì việc bắt quả tang người phạm tội, thu giữ kịp thời vật chứng là động vật nguy cấp, quý, hiếm rất quan trọng và một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giải quyết vụ án về động vật nguy cấp, quý, hiếm là phải bảo vệ được các cá thể động vật sống. Tuy nhiên, trên thực tế, việc này không dễ thực hiện vì động vật sống, bộ phận và các sản phẩm từ động vật đòi hỏi phải có biện pháp chăm sóc, bảo quản đặc biệt so với các loại vật chứng khác.

Điển hình như vụ việc[1]: Ngày 04/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đã kiểm tra đột xuất và phát hiện tại nhà của Nguyễn Văn H đang nuôi nhốt 14 cá thể hổ đã trưởng thành. Cùng thời gian trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng đã kiểm tra nhà Nguyễn Thị Đ đang nuôi nhốt 03 cá thể hổ tương tự. Sau khi phát hiện 17 cá thể hổ bị nuôi nhốt trái phép, lực lượng chức năng đã gây mê để vận chuyển đến Khu sinh thái để chăm sóc trong thời gian phục vụ công tác điều tra. Tuy nhiên, trong quá trình vận chuyển, 08 trong số 17 cá thể hổ nêu trên đã bị chết chưa rõ nguyên nhân.

Có thể thấy, nếu cơ quan chức năng không thu giữ vật chứng hoặc vật chứng không đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật sẽ không xử lý được các đối tượng vi phạm. Tuy nhiên, việc chưa có cơ sở nuôi nhốt đối với các loài động vật đặc thù hay chưa có nhân viên chăm sóc động vật nguy cấp, quý, hiếm từ giai đoạn tạm giữ cho đến khi có quyết định xử lý vật chứng dẫn đến trường hợp cá thể động vật suy kiệt, chết..., gây khó khăn trong việc giám định hoặc không có cơ sở để xử lý hành vi vi phạm.

Thứ hai, vướng mắc khi xử lý vật chứng là bộ phận hay sản phẩm của động vật hoang dã.

Liên quan đến động vật hoang dã, các văn bản pháp luật còn bỏ sót một loại vật chứng khá quan trọng và phổ biến trong các vụ án, đó là bộ phận, hay sản phẩm của động vật hoang dã như ngà voi, sừng tê giác, hay vảy tê tê[2]… Mặc dù điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định số 06/2019/NĐ-CP quy định: “Mẫu vật các loài Nhóm IA, IB thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản công; Mẫu vật các loài Nhóm IIA, IIB chuyển giao cho tổ chức khoa học, đào tạo, giáo dục môi trường, bảo tàng chuyên ngành để trưng bày vì mục đích giáo dục bảo tồn; bán đấu giá cho tổ chức, cá nhân nuôi, trồng, chế biến, kinh doanh theo quy định của pháp luật; hoặc tiêu hủy trong trường hợp không thể thực hiện các biện pháp xử lý khác”, tuy nhiên, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 lại không quy định trường hợp này. Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn: “Vật chứng khác không thuộc trường hợp hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định của pháp luật”. Theo đó, các bộ phận, sản phẩm của động vật hoang dã được coi là không thuộc điểm a, điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP, do đó sẽ bị tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định pháp luật. Đây cũng là hướng dẫn của Công văn số 206/TANDTC-PC ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Tuy nhiên, quy định của Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP vẫn chưa hoàn toàn triệt để bởi trong trường hợp tịch thu thì việc tịch thu đó để nhằm mục đích gì, để nộp ngân sách nhà nước hay giao lại cho các cơ quan chuyên ngành có thẩm quyền? Thực tiễn xét xử còn chưa thống nhất, ví dụ đối với ngà voi, có Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy[3], có Tòa án tuyên tịch thu sung công[4].

Thứ ba, khó khăn trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có thu giữ động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm.

Quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có thu giữ động vật, sản phẩm của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm và có thể là vật chứng hoặc không phải vật chứng của vụ án sau này. Tuy nhiên, việc thu giữ, bảo quản, xử lý động vật, sản phẩm của động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm trong giai đoạn này chưa có hướng dẫn cụ thể. Tại Điều 90 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định xử lý tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, gây khó khăn trong công tác bảo quản, xử lý. Việc xử lý tài liệu tạm giữ trong giai đoạn này được đề cập tại khoản 1 Điều 13 Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định phối hợp thực hiện một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, tuy nhiên, quy định này chỉ mới dừng ở những vấn đề chung mà chưa có quy định cụ thể về thủ tục, trình tự để xử lý đồ vật, tài liệu bị tạm giữ trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, dẫn đến quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế của các cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa thống nhất trong việc xử lý vụ việc. Bởi lẽ, trong giai đoạn xác minh, giải quyết các nguồn tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng phải tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật để thu thập các tài liệu, đồ vật, chứng cứ nhằm xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm. Tuy chưa có quyết định khởi tố vụ án nhưng trong nhiều trường hợp, do tính chất của vật chứng là động vật hoang dã là phải bảo vệ được cá thể động vật sống để tái thả về tự nhiên nhưng trên thực tế việc này không dễ thực hiện vì động vật sống, bộ phận và các sản phẩm từ động vật phải có biện pháp chăm sóc và bảo quản đặc biệt so với các loại vật chứng khác, từ đó đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải nhanh chóng xử lý trong quá trình xác minh, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Về cơ bản, có thể coi việc xử lý vật chứng trong trường hợp không khởi tố vụ án hình sự cũng tương tự như trong trường hợp ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ đề cập đến xử lý vật chứng trong trường hợp đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án mà không quy định về trường hợp cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, việc tiến hành xử lý vật chứng khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự là cần thiết và hợp lý nhưng lại thiếu cơ sở pháp lý, dẫn đến sự lúng túng nhất định và sự thiếu thống nhất của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm là loại vật chứng rất đa dạng (có thể là động vật sống, đã chết, động vật mang mầm bệnh, động vật ốm, yếu; động vật được phép nuôi, kinh doanh, động vật không được phép nuôi, kinh doanh; sản phẩm động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm cũng có nhiều loại, có loại phải bảo quản trong môi trường đặc biệt như thịt, có sản phẩm có thể bảo quản ở môi trường thông thường như sừng, cao, vảy...) nên thời điểm, hình thức xử lý của từng loại cũng sẽ khác nhau. Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt nêu trên của vật chứng là động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải nghiên cứu tất cả các văn bản pháp luật về xử lý vật chứng, xử lý tang vật và các quy định về quản lý động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm để có những đánh giá, nhận định, quyết định cơ quan chuyên môn có đủ điều kiện để tiếp nhận, quản lý, xử lý vật chứng cho phù hợp với quy định pháp luật.

Mặc dù Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP có đề cập nội dung hướng dẫn việc xử lý vật chứng là sản phẩm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản nhưng mới chỉ hướng dẫn chung chung là Tòa án tuyên tịch thu hoặc tiêu hủy hoặc giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Có thể thấy, trong những năm qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã bắt giữ, khởi tố nhiều vụ vận chuyển, buôn bán sừng tê giác, ngà voi, vảy đồi mồi và nhiều bộ phận của động vật quý hiếm[5]. Đây được xem là những tài sản có giá trị lớn, tuy nhiên, việc cơ quan có thẩm quyền tuyên tịch thu, bán đấu giá những vật chứng này thì sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng vì việc “hợp pháp hóa” và “thương mại hóa”, đặc biệt là ngà voi hay sừng tê giác là trái với pháp luật quốc tế; thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ và sử dụng trên thị trường. Bên cạnh đó, chi phí lưu giữ, bảo quản các loại vật chứng này sẽ tốn khá nhiều kinh phí. Do đó, hình thức xử lý tịch thu, tiêu hủy vật chứng là sản phẩm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm là biện pháp xử lý vật chứng cuối cùng, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế trong việc ngăn chặn, đẩy lùi nạn buôn bán trái pháp luật ngà voi, sừng tê giác và các sản phẩm động vật hoang dã khác, đồng thời là thông điệp trong chiến dịch tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức công chúng không tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã có nguồn gốc phi pháp.

Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP như sau: “Vật chứng là cá thể động vật chết hoặc sản phẩm hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản thì tiêu hủy. Những vật chứng là sản phẩm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm có thể bảo quản thì giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”.

Thứ hai, cần thống nhất việc xử lý vật chứng liên quan đến động vật nguy cấp, quý, hiếm. Theo đó, cần có quy định cho phép các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử có đủ thẩm quyền xử lý vật chứng là động vật nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB hoặc Phụ lục I của Công ước CITES khi bị bắt giữ còn sống, linh hoạt trong việc cứu hộ, tái thả về nơi cư trú tự nhiên hoặc tiêu hủy nếu phát hiện có mầm bệnh hoặc chuyển giao cho các cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở nghiên cứu nhân giống, gây nuôi động vật hợp pháp, cơ sở giáo dục môi trường, vườn thú... Đồng thời, xác định rõ cơ quan chuyên môn quy định tại điểm d khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để công tác bàn giao vật chứng là động vật nguy cấp, quý, hiếm vừa đúng quy trình, vừa có hiệu quả. Quy định cụ thể danh mục các cơ quan, đơn vị được giao thả lại động vật nguy cấp, quý, hiếm về môi trường tự nhiên; các cơ quan, đơn vị có chức năng cứu hộ động vật nguy cấp, quý, hiếm... để cơ quan tiến hành tố tụng quyết định cụ thể[6].

Thứ ba, theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc xử lý vật chứng có thể được thực hiện khi vụ án kết thúc hoặc cũng có thể được thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nếu xét thấy cần thiết. Tuy nhiên, như đã phân tích, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không đề cập đến việc xử lý vật chứng trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, hay kiến nghị khởi tố cũng như trong trường hợp tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án. Do đó, để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, tác giả kiến nghị bổ sung nội dung quy định về việc xử lý vật chứng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự cũng như trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án, trong đó có quy định về việc xử lý động vật, sản phẩm của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm.

Lê Bá Đức

Học viên Cao học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Kim Long (2021), “Khởi tố, bắt tạm giam bị can nuôi nhốt 14 cá thể hổ trái phép”, Báo Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/khoi-to-bat-tam-giam-bi-can-nuoi-nhot-14-ca-the-ho-trai-phep-post407232.html, truy cập ngày 05/01/2024.

[2]. Trần Văn Độ (2020), “Một số vấn đề về xử lý vật chứng trong các vụ án về các tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12, tr. 03.

[3]. Bản án số 193/2020/HS-ST ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân TP. N về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta523845t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/01/2024.

[4]. Bản án số 20/2018/HS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Q về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta223569t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/01/2024.

[5]. Phúc Huy (2023), “Nâng cao nhận thức về nguy cơ và rủi ro tài chính từ buôn bán động vật hoang dã”, Báo nhân dân điện tử, https://nhandan.vn/nang-cao-nhan-thuc-ve-nguy-co-va-rui-ro-tai-chinh-tu-buon-ban-dong-vat-hoang-da-post753137.html, truy cập ngày 06/01/2024.

[6]. Phạm Minh Tuyên (2020), “Giám định, xử lý vật chứng, định giá động vật hoang dã, động vật nguy cấp quý hiếm trong tố tụng hình sự - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/public/index.php/giam-dinh-xu-ly-vat-chung-dinh-gia-dong-vat-hoang-da-dong-vat-nguy-cap-quy-hiem-trong-to-tung-hinh-su-vuong-mac-va-kien-nghi-hoan-thien, truy cập ngày 06/01/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 398), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: