Thứ bảy 16/05/2026 13:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật và giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội

Bài viết tập trung phân tích vị trí, chức năng của Quốc hội, đánh giá hạn chế, vướng mắc của một số quy định về tổ chức và hoạt động Quốc hội Việt Nam, từ đó, đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này theo đúng định hướng của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Hiến pháp năm 2013 sau một thời gian triển khai thi hành đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, bước đầu lan tỏa những tư tưởng, tinh thần, giá trị cốt lõi để tạo tiền đề quan trọng thực hiện công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình thi hành Hiến pháp năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định được vị trí, vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân. Tuy nhiên, về tổ chức và hoạt động Quốc hội cũng bộc lộ vướng mắc, bất cập, đã ảnh hưởng không nhỏ đến bộ máy nhà nước, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013 là nhiệm vụ cấp bách, cần thiết.

Trong Hiến pháp năm 2013, Quốc hội tiếp tục được quy định là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, khác với Hiến pháp năm 1992, Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013 không còn là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến. Về vị trí, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân; Quốc hội cũng là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thể hiện qua quy định tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Quốc hội do Nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của Nhân dân. Quốc hội là cơ quyền lực nhà nước cao nhất còn thể hiện ở chức năng của Quốc hội.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ “tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội”[1]. Bài viết này nghiên cứu, đưa ra một số nội dung cần tiếp tục hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay.

1. Thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội

Hiến pháp năm 2013 quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của Quốc hội đã có nhiều đổi mới và hoàn thiện hơn so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Trên cơ sở đó, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) (gọi tắt là Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014) tiếp tục cụ thể hóa một số quy định để hoàn thiện. Thực tiễn thời gian qua, việc thực hiện những quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo Hiến pháp và Luật về cơ bản đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, “tổ chức và hoạt động của Quốc hội có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng cao”[2], góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bởi vì, vai trò của Quốc hội có sự tác động, ảnh hưởng đến toàn thể các cơ quan còn lại trong bộ máy nhà nước. Chính vì vậy, để bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả thì nhiệm vụ đầu tiên là phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

Qua đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về Quốc hội, so sánh với pháp luật nước ngoài cho thấy, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội còn một số hạn chế, vướng mắc sau:

1.1. Chế độ làm việc của Quốc hội

Theo quy định, Quốc hội hoạt động không thường xuyên, mỗi năm Quốc hội họp 2 kỳ trừ trường hợp họp bất thường theo quy định tại khoản 2 Điều 83 Hiến pháp năm 2013 và khoản 2 Điều 90 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, nên hoạt động của Quốc hội được thực hiện thông qua các cơ quan chuyên trách, đặc biệt là cơ quan thường trực - Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc quy định Quốc hội họp một năm 2 kỳ không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay mà chỉ phù hợp với thời kỳ đất nước có chiến tranh. Với yêu cầu thực tiễn hiện nay đòi hỏi Quốc hội phải làm việc thường xuyên, liên tục, thậm chí Quốc hội không thể dồn hết mọi việc cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cho nên, có ý kiến cho rằng không nên tổ chức cơ quan Ủy ban Thường vụ Quốc hội, với lý do Quốc hội là cơ quan dân cử, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, không thể tồn tại một cơ quan thường trực để quyết định mọi việc quan trọng của đất nước. Theo đó, về cơ cấu tổ chức của Quốc hội chỉ tổ chức các cơ quan chuyên trách, thành lập thêm các ủy ban thẩm tra, ủy ban soạn thảo để thực hiện quy trình lập pháp chặt chẽ và đầy đủ, phát huy vai trò của Quốc hội trong thực hiện quyền lập pháp.

1.2. Số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách

Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội có ba chức năng, đó là lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Để thực hiện cả ba chức năng này thì đây là khối lượng công việc rất lớn, rất nặng nề, đòi hỏi Quốc hội phải có đủ nguồn nhân lực tinh anh để đảm bảo. Với quy định pháp luật hiện hành, số lượng đại biểu Quốc hội không quá 500 người, bao gồm đại biểu hoạt động chuyên trách và đại biểu hoạt động không chuyên trách. Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là bốn mươi lăm phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội[3]. Như vậy, số lượng đại biểu chuyên trách không quá 225 người. So với khối lượng công việc rất lớn mà Quốc hội phải giải quyết rõ ràng là không tương xứng, có thể dẫn đến kết quả không đạt yêu cầu.

Thời gian làm nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội không chuyên trách được quy định ít nhất 1/3 thời gian làm việc trong năm để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội[4]. Tuy nhiên, do công việc liên quan đến Quốc hội của đại biểu Quốc hội không chuyên trách không phải là hoạt động chính mà là các công việc chuyên môn nên các đại biểu không chuyên trách khó có thể phát huy hết khả năng, tâm huyết. Thậm chí, nhiều đại biểu còn ngại va chạm, không quyết tâm tranh luận đến cùng, một số đại biểu coi trọng lợi ích của ngành mình đang công tác. Vì vậy, cơ chế kiêm nhiệm, không chuyên trách khó phát huy hiệu quả, có những lúc còn là lực cản đối với hoạt động của bộ máy.

1.3. Chất lượng đại biểu Quốc hội

Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội để thực hiện tốt chức năng lập hiến, lập pháp, đưa ra quyết định sáng suốt về những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước một cách hiệu quả là giá trị cốt lõi trong hoạt động của Quốc hội. Trong hoạt động lập hiến, lập pháp, cần tăng cường số lượng đại biểu chuyên trách và nâng cao chất lượng đại biểu trong công tác xây dựng pháp luật. Bắt đầu từ việc tuyển chọn một cách kỹ lưỡng đầu vào đại biểu Quốc hội, với tiêu chí đại biểu phải biết làm luật, phải xuất thân từ ngành luật, có kinh nghiệm trong công tác pháp luật, có trình độ và hiểu biết pháp luật. Số lượng đại biểu Quốc hội ở lĩnh vực này phải chiếm ít nhất 1/2 đến 2/3 tổng số đại biểu và được bố trí ở các cơ quan chuyên trách của Quốc hội. Trong các hoạt động của Quốc hội, Quốc hội nên dành nhiều thời gian hơn để thực hiện hoạt động lập pháp vì đây là hoạt động tiên quyết, quan trọng nhất, quyết định và chi phối đến các hoạt động khác. Việc ban hành pháp luật có ý nghĩa rất lớn đối với các cơ quan nhà nước khác vì khi triển khai thi hành, nếu chất lượng pháp luật yếu, kém sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và uy tín của Nhà nước, thậm chí không thể thi hành trên thực tế.

1.4. Hoạt động giám sát của Quốc hội

Khi thực hiện chức năng giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, Quốc hội cần tiếp tục nâng cao ý thức trách nhiệm của các đại biểu, xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả hơn như ban hành quy trình chất vấn, bổ sung các hoạt động giám sát mới như tổ chức phiên điều trần, bỏ phiếu bất tín nhiệm...

Trong hoạt động giám sát, Quốc hội chủ yếu tập trung giám sát về mặt chính trị đối với các cơ quan khác. Do vậy, việc giám sát về mặt chuyên môn vẫn nên giao cho các cơ quan chuyên trách. Chính vì vậy, việc thành lập các thiết chế hiến định độc lập như mô hình ở các quốc gia hiện nay để thực hiện hoạt động giám sát là cần thiết như cơ quan thanh tra, cơ quan thẩm tra, cơ quan kiểm toán, Hội đồng Hiến pháp... Đặc biệt, việc xây dựng mô hình bảo hiến (tài phán hiến pháp) ở Việt Nam là cần thiết vì cần có cơ quan có thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp và pháp luật do Quốc hội ban hành. Vì vậy, cần phải nghiên cứu xây dựng mô hình cơ quan bảo hiến (tài phán hiến pháp) đáp ứng nhu cầu bảo vệ hiến pháp và giám sát hoạt động ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước, trong đó có cả Quốc hội.

2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật, giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội

2.1. Định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”[5], tăng tính chuyên nghiệp, hiệu quả và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao. Nghị quyết số 27-NQ/TW đã đặt ra một số nhiệm vụ đối với Quốc hội như sau:

- Tiếp tục xây dựng Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; phát huy tính dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp, khoa học, công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động, bảo đảm Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

- Đề cao vai trò trung tâm của đại biểu Quốc hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, giảm số lượng đại biểu công tác ở các cơ quan hành pháp, tư pháp. Gắn trách nhiệm của đại biểu Quốc hội với đơn vị bầu cử và cử tri; đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội; hoàn thiện cơ chế giám sát của cử tri và cơ chế, phương thức, tiêu chí đánh giá đối với đại biểu Quốc hội; bảo đảm các điều kiện để đại biểu Quốc hội thực hiện tốt vai trò trung tâm của mình.

- Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội theo hướng nghiên cứu tăng hợp lý thời gian, số kỳ họp của Quốc hội; kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ do Hiến pháp quy định; đề cao vị trí, vai trò, kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực hoạt động của Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo hướng rành mạch, chủ động, trách nhiệm, chuyên sâu, nhạy bén; hoàn thiện thiết chế Tổng Thư ký Quốc hội, Ban Thư ký Quốc hội; xây dựng Quốc hội điện tử.

- Tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn phạm vi, đối tượng, phương pháp, hình thức giám sát tối cao của Quốc hội phù hợp thực tiễn; nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn, giải trình, giám sát văn bản quy phạm pháp luật, chú trọng việc theo dõi, xem xét, đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát; thực hiện nghiêm việc lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội[6].

2.2. Đề xuất giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội

a) Hoàn thiện pháp luật

Một là, Quốc hội chỉ có đại biểu chuyên trách, cần xóa bỏ đại biểu không chuyên trách, đồng thời, thay đổi chế độ làm việc từ không thường xuyên (một năm 2 kỳ họp) sang làm việc thường xuyên.

Hai là, với xu thế vận động của cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước, mô hình bảo hiến đã tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nên Việt Nam cần nghiên cứu thiết chế bảo hiến với mô hình Hội đồng Hiến pháp. Do vậy, Hiến pháp năm 2013 khi sửa đổi, bổ sung cần nghiên cứu bổ sung thiết chế Hội đồng Hiến pháp, với tư cách là thiết chế hiến định độc lập, xếp cùng chương với Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước. Hội đồng Hiến pháp có vị trí hiến định, là cơ quan do Quốc hội thành lập, thực hiện chức năng bảo vệ Hiến pháp, phán xét các hành vi vi hiến, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp.

Ba là, nghiên cứu bỏ chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội vì khi Quốc hội đã đi vào hoạt động thường xuyên, ổn định thì chế định này không cần tồn tại nữa. Mặt khác, khi Hội đồng Hiến pháp được thành lập thì phải bãi bỏ các quy định về thẩm quyền Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại khoản 10 Điều 70 và khoản 4 Điều 74 Hiến pháp năm 2013 và chuyển giao thẩm quyền đó cho Hội đồng Hiến pháp.

b) Giải pháp về tăng cường hoạt động giám sát

Thứ nhất, đổi mới phương thức chất vấn, trả lời chất vấn. Cần tập trung vào những câu hỏi chất vấn có tính cụ thể, làm rõ trách nhiệm của người trả lời chất vấn, tránh câu hỏi chỉ để biết thông tin, chỉ để lấy câu trả lời thông thường. Cần quy định rõ phạm vi quyền của đại biểu Quốc hội được chất vấn và trách nhiệm trả lời của các cơ quan có liên quan. Cần thiết lập cơ chế thẩm tra của Quốc hội để làm rõ vụ việc và đặt ra trách nhiệm của người trả lời chất vấn.

Thứ hai, đổi mới phương thức xét báo cáo công tác của các cơ quan nhà nước. Đối với việc xem xét báo cáo của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cần nghiên cứu theo hướng xem xét, đánh giá thực trạng hoạt động, đặc biệt là những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này. Bên cạnh đó, cần xem xét, đánh giá cách thức điều hành, thực hiện chức năng, nhiệm vụ để góp ý hoàn thiện hoạt động của các cơ quan này; trường hợp cần thiết, Quốc hội có thể tổ chức kiểm tra, làm việc để làm sáng tỏ những vấn đề cần thiết, có như vậy mới đóng góp được các ý kiến thiết thực nhất.

Thứ ba, đổi mới trình tự bỏ phiếu tín nhiệm, bãi nhiệm, miễn nhiệm người do Quốc hội bầu, phê chuẩn. Cần quy định lại theo hướng đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn có sai phạm hoặc không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm. Người bị Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm đương nhiên bị bãi nhiệm hoặc miễn nhiệm.

c) Nâng cao chất lượng, ý thức trách nhiệm đại biểu Quốc hội

Cần nâng cao trách nhiệm của các đại biểu trong thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Thiết lập cơ chế bảo đảm sự tham gia của đại biểu Quốc hội trong việc thảo luận và biểu quyết dự án luật, chính sách quan trọng của đất nước./.

ThS. Lê Thị Thu Hằng

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

[1]. Xem: Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, nguồn: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-27-nq-tw-tiep-tuc-xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-119221126114455251.htm, truy cập ngày 04/7/2024.

[2]. Xem: Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, nguồn: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-27-nq-tw-tiep-tuc-xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-119221126114455251.htm, truy cập ngày 04/7/2024.

[3]. Khoản 2 Điều 23 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[4]. Điều 24 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[5]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 176.

[6]. Xem: Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, nguồn: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-27-nq-tw-tiep-tuc-xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-119221126114455251.htm, truy cập ngày 04/7/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 410), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: