Chủ nhật 07/12/2025 13:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế nhằm thúc đẩy thương mại hoá sáng chế tại Việt Nam

Bài viết khái quát bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế và hoạt động thương mại hóa sáng chế và đánh giá tình hình pháp luật lĩnh vực này tại Việt Nam, tác động của nó đối với hoạt động khai thác lợi ích thương mại từ sáng chế, từ đó, đề xuất giải pháp, định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam.

1. Khái quát bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế và hoạt động thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam

1.1. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế

Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với sáng chế nhưng dựa vào những quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022[1] (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005), ta có thể khái quát rằng: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế là hệ thống pháp lý quy định rõ những quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu sáng chế và các chủ thể có liên quan; quy định hành vi xâm phạm quyền và những biện pháp xử lý với hành vi vi phạm đó.

Để quản lý và giám sát cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu và các chủ thể khác có liên quan, Nhà nước cấp bằng độc quyền sáng chế cho cá nhân, tổ chức. Như vậy, bằng độc quyền sáng chế là văn bản pháp lý đánh dấu việc Nhà nước sẽ đứng ra sử dụng các công cụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ thể được cấp bằng. Văn bản này xác định và bảo vệ quyền độc quyền của chủ sở hữu đối với sáng chế của họ trong một thời gian nhất định.

1.2. Hoạt động thương mại hóa sáng chế

Trước tiên, “thương mại là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên quy mô lớn. Bất kì giao dịch nào sử dụng tiền để mua sắm các hàng hóa và dịch vụ đều là một phần của hoạt động thương mại”[2]. Pháp luật Việt Nam định nghĩa, “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005). Theo đó, khái niệm “khai thác thương mại” hoặc “thương mại hóa” nhìn chung có thể được hiểu là việc tài sản hợp pháp được trao đổi, mua bán hoặc áp dụng các hình thức thương mại khác nhằm giúp chủ sở hữu hoặc người có quyền lợi hợp pháp đối với tài sản thu được lợi nhuận từ chính tài sản mà mình có quyền.

Như vậy, dù Việt Nam không có quy định về khái niệm “thương mại hóa sáng chế”, bằng phương pháp “bóc tách” khái niệm chúng ta có thể hiểu hoạt động “khai thác thương mại đối với sáng chế” là các hành vi trao đổi, mua bán hoặc các hình thức thương mại khác nhằm thu được lợi nhuận hợp pháp từ sáng chế.

Về chủ thể tham gia quá trình thương mại hóa sáng chế, theo kinh nghiệm quốc tế, các chủ thể chính trong quá trình thương mại hóa sáng chế bao gồm người bán, người mua, tổ chức trung gian và cơ quan quản lý nhà nước[3].

Về điều kiện khai thác, sáng chế được xếp vào nhóm tài sản về quyền SHTT - một loại tài sản vô hình. Tuy nhiên, cũng tương tự như tài sản hữu hình, để có thể thương mại hóa (lưu thông) được, tài sản trí tuệ phải bảo đảm đáp ứng đầy đủ các điều kiện: Phải được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam; đang còn hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam và không phải là các đối tượng đang bị tranh chấp[4].

Về các khâu của quá trình khai thác thương mại sáng chế, theo khuyến nghị từ các chuyên gia, quá trình này không phải là một quá trình tuyến tính, tuần tự hoàn toàn mà các thành phần của nó có thể chồng chéo lên nhau, tương tác linh hoạt lẫn nhau ở một mức độ nhất định. Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự linh hoạt phối hợp các khâu, các chủ đề thay vì áp dụng một “khung” cố định. Tuy nhiên, từ góc độ nhà phát minh hay chủ sở hữu sáng chế, một số bước cần đặc biệt lưu ý trong tiến trình thương mại hóa sản phẩm SHTT bao gồm: (i) Hình thành ý tưởng, tiến hành sáng tạo và tiếp thị sáng chế; (ii) Nộp đơn xin cấp phép nhằm bảo đảm các quyền lợi pháp lý của chủ sở hữu đối với sáng chế; (iii) Tìm kiếm khách hàng, liên hệ với các bên trung gian nhằm thúc đẩy hoạt động mua bán bằng sáng chế, cho thuê các quyền SHTT đối với sáng chế hoặc bất kỳ một giao dịch nào đem lại lợi nhuận từ tài sản này.

Xét về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế, có thể kể đến một số hình thức như: (i) Chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế; (ii) Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế; (iii) Chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế; (iv) Chủ sở hữu thu được tiền đền bù từ việc bị Nhà nước hoặc người thay mặt cho Nhà nước thực hiện li-xăng cưỡng bức[5].

2. Một số bất cập của pháp luật hiện hành về hoạt động thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam

Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa đề cập đến khái niệm thương mại hóa sáng chế. Hiện nay, ta mới chỉ tìm thấy định nghĩa về “hoạt động thương mại” trong Luật Thương mại năm 2005 và “thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học” trong Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017. Thực trạng này dẫn đến việc cũng không có một văn bản cụ thể nào hướng dẫn về các khía cạnh của hoạt động thương mại hóa sáng chế như quy trình, phương thức khai thác, các tổ chức trung gian hỗ trợ được phép hoạt động,... Kết quả là hoạt động khai thác sáng chế của các chủ thể đôi khi còn diễn ra tự phát, nhỏ lẻ, thiếu chiến lược, thiếu thông tin; chủ thể khai thác thường gặp nhiều khó khăn trong việc viện dẫn các căn cứ pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, quy định về các đối tượng được cấp bằng sáng chế vẫn còn tương đối hẹp, dẫn đến làm giảm tính cạnh tranh và khả năng khai thác lợi nhuận của các loại hình tài sản có kết tinh hàm lượng chất xám khác. Căn cứ theo định nghĩa được quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, “sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”. Theo định nghĩa này thì việc nghiên cứu tìm ra các chức năng, cách sử dụng mới của một chất, thiết bị đã có sẵn (tức là sáng chế dạng sử dụng) sẽ không được cấp văn bằng bảo hộ. Cần lưu ý rằng, các quốc gia có hệ thống pháp luật SHTT tiến bộ và khá tương tự với nước ta như ở châu Âu hay Nhật Bản vẫn chấp nhận phổ biến việc cấp văn bằng bảo hộ cho sáng chế dạng sử dụng. Thậm chí, ngay tại Việt Nam, trước khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được ban hành, loại sáng chế này cũng vẫn có tiền lệ được xem xét cấp văn bằng bảo hộ[6]. Hệ quả là, việc quy định đối tượng được bảo hộ như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sẽ phần nào tạo ra thiệt thòi cho các chủ thể nghiên cứu bởi quá trình tìm ra cách sử dụng mới của một sản phẩm đã có vẫn có thể là quá trình hao tổn chất xám, chi phí đầu tư ngang với việc tạo ra một quy trình hay sản phẩm mới, dẫn tới họ thiếu động lực để tiến hành tìm ra và khai thác nhiều giá trị thương mại hơn từ các phương pháp hay sản phẩm đã có. Ngoài ra, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế tại Điều 59 đã thu hẹp hơn đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế so với khoản 3 Điều 27 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).

Thứ ba, chưa có hành lang pháp lý cụ thể cho các hoạt động định giá, góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Đối với hoạt động định giá, hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản chính thức nào điều chỉnh việc định giá tài sản vô hình nói chung và sáng chế nói riêng. Pháp luật chưa có quy định về việc tổ chức chuyên môn nào có quyền định giá sáng chế, trình tự hoạt động định giá ra sao... Bởi vì, sáng chế là loại tài sản vô hình, có tính biến động cao nên hoạt động này đòi hỏi tính chuyên môn sâu và được tổ chức một cách hệ thống, bài bản. Việc bỏ ngỏ các quy định về định giá sáng chế như hiện tại sẽ khiến cho hoạt động định giá diễn ra một cách tự phát, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích thương mại của các bên khi tham gia giao dịch có đối tượng là sáng chế. Bên cạnh đó, đối với hoạt động góp vốn bằng sáng chế, một phần cũng do hoạt động định giá sáng chế chưa được triển khai một cách hiệu quả. Ngoài ra, bất cập trong việc góp vốn bằng tài sản là quyền SHTT đối với sáng chế còn đến từ việc khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 bắt buộc cá nhân, tổ chức góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với sáng chế. Cách quy định này đã triệt tiêu khả năng góp vốn của chủ sở hữu sáng chế được cấp văn bằng tại nước ngoài (do quyền SHTT mang tính lãnh thổ và văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực trong phạm vi quốc gia cấp bằng). Đồng thời, chủ sở hữu sáng chế đang trong giai đoạn thẩm định đơn cũng không có khả năng sử dụng quyền này để góp vốn thành lập doanh nghiệp do chưa có văn bằng bảo hộ công nhận quyền sở hữu hợp pháp của chủ thể đối với sáng chế[7]. Cuối cùng, thực tế pháp luật đang cho phép góp vốn bằng các hợp đồng li-xăng không độc quyền, điều này có thể giảm sức cạnh tranh, giá trị của quyền SHTT góp vốn; hạn chế sự kiểm soát thực tế của công ty nhận quyền SHTT làm tài sản góp vốn cũng như dễ nảy sinh tranh chấp với các chủ sở hữu hợp đồng li-xăng khác.

Thứ tư, các quy định về nội dung hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp vẫn chưa linh hoạt, hiệu quả. Qua đánh giá Điều 140 và Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về nội dung hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, nhóm tác giả nhận thấy một số điểm chưa hợp lý. Trước hết, các quy định này đang dùng từ “phải có” cho các điều khoản được liệt kê trong hợp đồng, tức là hàm ý các điều khoản mang tính bắt buộc trong khi bản chất hợp đồng sử dụng và hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là loại hợp đồng dân sự, mang tính chất tự thỏa thuận giữa các bên. Kế tiếp, khoản 2 Điều 144 cũng đang chỉ ra các “hạn chế bất hợp lý quyền của các bên được chuyển quyền” theo phương pháp liệt kê, không đưa ra các tiêu chí xác định cụ thể, có thể dẫn đến sự thiếu sót các điều khoản là hạn chế bất hợp lý khác. Ngoài ra, do tính đa dạng của các tình huống thực tế nên việc quy định này đặt ra cách xử lý là “mặc nhiên bị vô hiệu” cho mọi điều khoản này cũng có thể gây ra sự khiên cưỡng, bất hợp lý, gây tổn hại lợi ích của các bên trong giao dịch trong một số trường hợp cụ thể.

Thứ năm, chưa có cơ chế đủ mạnh nhằm thúc đẩy khai thác tiềm năng thương mại từ các “sáng chế không chuyên nghiệp” - sáng chế đến từ đội ngũ nhà nghiên cứu không thuộc các đơn vị hàn lâm, có thể không có chuyên môn hay bằng cấp cao, chẳng hạn như nông dân hay thợ thủ công,... Mặc dù còn những hạn chế nhất định trong công tác nghiên cứu, song nhiều sáng chế từ nhóm đối tượng này đã cho thấy tính ứng dụng cao và tiềm năng tạo ra lợi ích thương mại to lớn. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định rõ các cơ chế hỗ trợ vay vốn, cơ sở vật chất nghiên cứu, tư vấn thủ tục đăng ký bảo hộ hay chiến lược tiến hành thương mại hóa thành quả nghiên cứu cho nhóm đối tượng này. Một số chính sách hỗ trợ được ban hành trước đây vẫn còn thiếu tính đồng bộ và chưa được thực thi một cách linh hoạt, chặt chẽ.

Thứ sáu, các hướng dẫn thực thi quyền SHTT chưa đủ cụ thể, chi tiết và chưa vận dụng tối ưu, đa dạng các hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp vào hoạt động xử lý tranh chấp về quyền SHTT. Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa có văn bản hướng dẫn thi hành, cũng chưa đề cập đến các trường hợp đối tượng bị xâm phạm là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Trong công tác xử lý các tranh chấp về quyền SHTT, biện pháp xử lý phổ biến vẫn là biện pháp hành chính hạn chế tự do ý chí của các bên trong khi biện pháp dân sự được đánh giá là có nhiều ưu điểm hơn vẫn chưa được sử dụng rộng rãi.

Thứ bảy, năng lực chuyên môn của đội ngũ thực thi pháp luật phần nào vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong khi số lượng vi phạm và tranh chấp về SHTT ngày càng tăng và có xu hướng phức tạp hơn, thực tiễn tại Tòa án, Viện kiểm sát, quản lý thị trường, hải quan… cho thấy, đội ngũ nhân lực hiện nay chưa đáp ứng được tiêu chí trên và cần được đào tạo chuyên sâu về SHTT. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến công tác thực thi quyền trở nên khó khăn, thiếu hiệu quả, cản trở hoạt động khai thác thương mại từ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nói riêng và các tài sản SHTT nói chung.

3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo đảm việc khai thác thương mại đối với sáng chế

Một là, khái niệm “thương mại hóa tài sản SHTT” cần được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật liên quan như Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Thương mại. Việc bổ sung khái niệm trên sẽ tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để các chủ thể thương mại thực hiện giao dịch sáng chế một cách hợp pháp, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và từ đó xúc tiến hoạt động thương mại hóa sáng chế.

Hai là, khái niệm sáng chế cũng cần được xem xét bổ sung và chỉnh sửa theo hướng mở rộng phạm vi cấp văn bằng bảo hộ nhằm tăng tính cạnh tranh và phù hợp hơn với các điều khoản trong các điều ước quốc tế về SHTT mà Việt Nam tham gia.

Ba là, hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT đối với sáng chế và định giá sáng chế cũng cần có hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể hơn nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro và từ đó khuyến khích các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh tiến hành khai thác thương mại từ sáng chế. Với hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT đối với sáng chế, cần bổ sung các quy định làm rõ khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về thế nào là chủ sở hữu hợp pháp hoặc người có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản SHTT. Với riêng đối tượng là sáng chế, cần cho phép các chủ thể được góp vốn bằng sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ tại nước ngoài; bổ sung quy định chủ sở hữu quyền sử dụng sáng chế được phép sử dụng quyền đó để góp vốn, tuy nhiên, chỉ trong trường hợp đó là quyền sử dụng độc quyền, nhằm giảm tối đa rủi ro phát sinh tranh chấp và bảo toàn giá trị của tài sản góp vốn; quy định rõ về việc góp vốn bằng sáng chế đang trong quá trình thẩm định đơn. Với hoạt động định giá, cần ban hành một văn bản thống nhất tổng hợp, bổ sung và sắp xếp logic các quy định về hoạt động thẩm định giá cả đối với tài sản SHTT nói chung, sáng chế nói riêng và bổ sung hành lang pháp lý cho sự tồn tại, hoạt động của một tổ chức định giá chuyên biệt.

Bốn là, tại Điều 140 và Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, nhóm tác giả đề xuất thay từ “phải có” thành “có thể bao gồm”; thêm khoản 5 vào Điều 140 và điểm h khoản 1 Điều 144 với nội dung là “các thỏa thuận khác” theo đúng tinh thần tự do trong thỏa thuận của một giao dịch dân sự. Điều này cũng giảm bớt một phần gánh nặng trong khâu giao dịch, ký kết hợp đồng liên quan đến chuyển giao quyền sở hữu sáng chế đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 144 như sau: “Các điều khoản trong hợp đồng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này mặc nhiên bị vô hiệu nếu các bên không có thỏa thuận khác và việc điều khoản vô hiệu không gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên”.

Năm là, cần có cơ chế khen thưởng, tôn vinh kịp thời, các phúc lợi lớn và thiết thực hơn cho các chủ sở hữu có sáng chế mang lại hiệu quả thương mại cao, ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn đời sống. Đặc biệt, cần khuyến khích và vinh danh các đối tượng dù không thuộc đội ngũ chuyên môn nghiên cứu nhưng có những giải pháp kỹ thuật được đăng ký bảo hộ và đem lại giá trị cao, góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế của cơ sở, địa phương.

Sáu là, cần nâng cao hiệu quả của các biện pháp thực thi quyền SHTT đối với sáng chế và hoàn thiện các quy định hướng dẫn thực thi quyền SHTT với sáng chế.

Với biện pháp hình sự, cần đưa hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với sáng chế thành đối tượng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều này sẽ tạo thêm cơ chế để các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình, từ đó thúc đẩy hoạt động thương mại hóa sáng chế.

Với biện pháp dân sự, cần tinh giản các thủ tục giải quyết tranh chấp, rút ngắn thời hạn chuẩn bị xét xử các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế để biện pháp này thực sự trở nên hiệu quả. Bên cạnh đó, việc xác định mức bồi thường thiệt hại cần phải căn cứ vào hành vi, hậu quả, mức độ thiệt hại để đưa ra mức bồi thường thiệt hại hợp lý thay vì quy định tại điểm c khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Bởi vì, trong trường hợp thiệt hại thực tế lớn hơn 500 triệu đồng thì mức tiền bồi thường như vậy hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của bên bị xâm phạm. Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu và sáng tạo ra một sáng chế đòi hỏi chủ sở hữu phải bỏ ra công sức và chi phí vô cùng lớn, việc quy định mức bồi thường như trên là chưa thỏa đáng.

Với biện pháp hành chính, trước mắt, khi biện pháp dân sự chưa đạt hiệu quả cao, cần xem xét tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHTT nói chung và với các hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nói riêng để tạo tính răn đe.

Vũ Thanh Hà, Lê Huyền Mai & Nguyễn Huyền Vy

Sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2006, được sửa đổi, bổ sung 3 lần vào năm 2009, 2019, 2022. Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-VPQH Luật Sở hữu trí tuệ do Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội ký xác thực ngày 08/7/2022.

[2]. https://economictimes.indiatimes.com/definition/commerce, truy cập ngày 25/11/2023.

[3]. Phùng Minh Hải, Đỗ Phương Nhung, Hà Diệu Linh, “Thương mại hóa sáng chế - Đối tượng tham gia và động cơ thúc đẩy quá trình thương mại hoá”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ngày 25/12/2022.

[4]. Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ, Tư vấn, “Thương mại hóa tài sản trí tuệ - động lực phát triển bền vững cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam”, https://ipvietnam.gov.vn/tin-tuc-su-kien/-/asset_publisher/7xsjBfqhCDAV/ content/thuong-mai-hoa-tai-san-tri-tue-ong-luc-phat-trien-ben-vung-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-viet-nam, truy cập ngày 26/01/2024.

[5]. Phan Quốc Nguyên, “Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận án Tiến sĩ luật học, 2016.

[6]. Dương Tử Giang, “Bàn về yêu cầu bảo hộ dạng sử dụng đối với sáng chế ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 9 năm 2017, tr. 52, 54, truy cập ngày 30/12/2023.

[7]. Khoản 1 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: “Chủ sở hữu sáng chế, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng”.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 399), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: