Thứ sáu 02/10/2026 05:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế nhằm thúc đẩy thương mại hoá sáng chế tại Việt Nam

Bài viết khái quát bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế và hoạt động thương mại hóa sáng chế và đánh giá tình hình pháp luật lĩnh vực này tại Việt Nam, tác động của nó đối với hoạt động khai thác lợi ích thương mại từ sáng chế, từ đó, đề xuất giải pháp, định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam.

1. Khái quát bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế và hoạt động thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam

1.1. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế

Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với sáng chế nhưng dựa vào những quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022[1] (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005), ta có thể khái quát rằng: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế là hệ thống pháp lý quy định rõ những quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu sáng chế và các chủ thể có liên quan; quy định hành vi xâm phạm quyền và những biện pháp xử lý với hành vi vi phạm đó.

Để quản lý và giám sát cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu và các chủ thể khác có liên quan, Nhà nước cấp bằng độc quyền sáng chế cho cá nhân, tổ chức. Như vậy, bằng độc quyền sáng chế là văn bản pháp lý đánh dấu việc Nhà nước sẽ đứng ra sử dụng các công cụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ thể được cấp bằng. Văn bản này xác định và bảo vệ quyền độc quyền của chủ sở hữu đối với sáng chế của họ trong một thời gian nhất định.

1.2. Hoạt động thương mại hóa sáng chế

Trước tiên, “thương mại là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên quy mô lớn. Bất kì giao dịch nào sử dụng tiền để mua sắm các hàng hóa và dịch vụ đều là một phần của hoạt động thương mại”[2]. Pháp luật Việt Nam định nghĩa, “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005). Theo đó, khái niệm “khai thác thương mại” hoặc “thương mại hóa” nhìn chung có thể được hiểu là việc tài sản hợp pháp được trao đổi, mua bán hoặc áp dụng các hình thức thương mại khác nhằm giúp chủ sở hữu hoặc người có quyền lợi hợp pháp đối với tài sản thu được lợi nhuận từ chính tài sản mà mình có quyền.

Như vậy, dù Việt Nam không có quy định về khái niệm “thương mại hóa sáng chế”, bằng phương pháp “bóc tách” khái niệm chúng ta có thể hiểu hoạt động “khai thác thương mại đối với sáng chế” là các hành vi trao đổi, mua bán hoặc các hình thức thương mại khác nhằm thu được lợi nhuận hợp pháp từ sáng chế.

Về chủ thể tham gia quá trình thương mại hóa sáng chế, theo kinh nghiệm quốc tế, các chủ thể chính trong quá trình thương mại hóa sáng chế bao gồm người bán, người mua, tổ chức trung gian và cơ quan quản lý nhà nước[3].

Về điều kiện khai thác, sáng chế được xếp vào nhóm tài sản về quyền SHTT - một loại tài sản vô hình. Tuy nhiên, cũng tương tự như tài sản hữu hình, để có thể thương mại hóa (lưu thông) được, tài sản trí tuệ phải bảo đảm đáp ứng đầy đủ các điều kiện: Phải được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam; đang còn hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam và không phải là các đối tượng đang bị tranh chấp[4].

Về các khâu của quá trình khai thác thương mại sáng chế, theo khuyến nghị từ các chuyên gia, quá trình này không phải là một quá trình tuyến tính, tuần tự hoàn toàn mà các thành phần của nó có thể chồng chéo lên nhau, tương tác linh hoạt lẫn nhau ở một mức độ nhất định. Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự linh hoạt phối hợp các khâu, các chủ đề thay vì áp dụng một “khung” cố định. Tuy nhiên, từ góc độ nhà phát minh hay chủ sở hữu sáng chế, một số bước cần đặc biệt lưu ý trong tiến trình thương mại hóa sản phẩm SHTT bao gồm: (i) Hình thành ý tưởng, tiến hành sáng tạo và tiếp thị sáng chế; (ii) Nộp đơn xin cấp phép nhằm bảo đảm các quyền lợi pháp lý của chủ sở hữu đối với sáng chế; (iii) Tìm kiếm khách hàng, liên hệ với các bên trung gian nhằm thúc đẩy hoạt động mua bán bằng sáng chế, cho thuê các quyền SHTT đối với sáng chế hoặc bất kỳ một giao dịch nào đem lại lợi nhuận từ tài sản này.

Xét về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế, có thể kể đến một số hình thức như: (i) Chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế; (ii) Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế; (iii) Chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế; (iv) Chủ sở hữu thu được tiền đền bù từ việc bị Nhà nước hoặc người thay mặt cho Nhà nước thực hiện li-xăng cưỡng bức[5].

2. Một số bất cập của pháp luật hiện hành về hoạt động thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam

Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa đề cập đến khái niệm thương mại hóa sáng chế. Hiện nay, ta mới chỉ tìm thấy định nghĩa về “hoạt động thương mại” trong Luật Thương mại năm 2005 và “thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học” trong Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017. Thực trạng này dẫn đến việc cũng không có một văn bản cụ thể nào hướng dẫn về các khía cạnh của hoạt động thương mại hóa sáng chế như quy trình, phương thức khai thác, các tổ chức trung gian hỗ trợ được phép hoạt động,... Kết quả là hoạt động khai thác sáng chế của các chủ thể đôi khi còn diễn ra tự phát, nhỏ lẻ, thiếu chiến lược, thiếu thông tin; chủ thể khai thác thường gặp nhiều khó khăn trong việc viện dẫn các căn cứ pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, quy định về các đối tượng được cấp bằng sáng chế vẫn còn tương đối hẹp, dẫn đến làm giảm tính cạnh tranh và khả năng khai thác lợi nhuận của các loại hình tài sản có kết tinh hàm lượng chất xám khác. Căn cứ theo định nghĩa được quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, “sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”. Theo định nghĩa này thì việc nghiên cứu tìm ra các chức năng, cách sử dụng mới của một chất, thiết bị đã có sẵn (tức là sáng chế dạng sử dụng) sẽ không được cấp văn bằng bảo hộ. Cần lưu ý rằng, các quốc gia có hệ thống pháp luật SHTT tiến bộ và khá tương tự với nước ta như ở châu Âu hay Nhật Bản vẫn chấp nhận phổ biến việc cấp văn bằng bảo hộ cho sáng chế dạng sử dụng. Thậm chí, ngay tại Việt Nam, trước khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được ban hành, loại sáng chế này cũng vẫn có tiền lệ được xem xét cấp văn bằng bảo hộ[6]. Hệ quả là, việc quy định đối tượng được bảo hộ như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sẽ phần nào tạo ra thiệt thòi cho các chủ thể nghiên cứu bởi quá trình tìm ra cách sử dụng mới của một sản phẩm đã có vẫn có thể là quá trình hao tổn chất xám, chi phí đầu tư ngang với việc tạo ra một quy trình hay sản phẩm mới, dẫn tới họ thiếu động lực để tiến hành tìm ra và khai thác nhiều giá trị thương mại hơn từ các phương pháp hay sản phẩm đã có. Ngoài ra, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế tại Điều 59 đã thu hẹp hơn đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế so với khoản 3 Điều 27 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).

Thứ ba, chưa có hành lang pháp lý cụ thể cho các hoạt động định giá, góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Đối với hoạt động định giá, hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản chính thức nào điều chỉnh việc định giá tài sản vô hình nói chung và sáng chế nói riêng. Pháp luật chưa có quy định về việc tổ chức chuyên môn nào có quyền định giá sáng chế, trình tự hoạt động định giá ra sao... Bởi vì, sáng chế là loại tài sản vô hình, có tính biến động cao nên hoạt động này đòi hỏi tính chuyên môn sâu và được tổ chức một cách hệ thống, bài bản. Việc bỏ ngỏ các quy định về định giá sáng chế như hiện tại sẽ khiến cho hoạt động định giá diễn ra một cách tự phát, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích thương mại của các bên khi tham gia giao dịch có đối tượng là sáng chế. Bên cạnh đó, đối với hoạt động góp vốn bằng sáng chế, một phần cũng do hoạt động định giá sáng chế chưa được triển khai một cách hiệu quả. Ngoài ra, bất cập trong việc góp vốn bằng tài sản là quyền SHTT đối với sáng chế còn đến từ việc khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 bắt buộc cá nhân, tổ chức góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với sáng chế. Cách quy định này đã triệt tiêu khả năng góp vốn của chủ sở hữu sáng chế được cấp văn bằng tại nước ngoài (do quyền SHTT mang tính lãnh thổ và văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực trong phạm vi quốc gia cấp bằng). Đồng thời, chủ sở hữu sáng chế đang trong giai đoạn thẩm định đơn cũng không có khả năng sử dụng quyền này để góp vốn thành lập doanh nghiệp do chưa có văn bằng bảo hộ công nhận quyền sở hữu hợp pháp của chủ thể đối với sáng chế[7]. Cuối cùng, thực tế pháp luật đang cho phép góp vốn bằng các hợp đồng li-xăng không độc quyền, điều này có thể giảm sức cạnh tranh, giá trị của quyền SHTT góp vốn; hạn chế sự kiểm soát thực tế của công ty nhận quyền SHTT làm tài sản góp vốn cũng như dễ nảy sinh tranh chấp với các chủ sở hữu hợp đồng li-xăng khác.

Thứ tư, các quy định về nội dung hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp vẫn chưa linh hoạt, hiệu quả. Qua đánh giá Điều 140 và Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về nội dung hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, nhóm tác giả nhận thấy một số điểm chưa hợp lý. Trước hết, các quy định này đang dùng từ “phải có” cho các điều khoản được liệt kê trong hợp đồng, tức là hàm ý các điều khoản mang tính bắt buộc trong khi bản chất hợp đồng sử dụng và hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là loại hợp đồng dân sự, mang tính chất tự thỏa thuận giữa các bên. Kế tiếp, khoản 2 Điều 144 cũng đang chỉ ra các “hạn chế bất hợp lý quyền của các bên được chuyển quyền” theo phương pháp liệt kê, không đưa ra các tiêu chí xác định cụ thể, có thể dẫn đến sự thiếu sót các điều khoản là hạn chế bất hợp lý khác. Ngoài ra, do tính đa dạng của các tình huống thực tế nên việc quy định này đặt ra cách xử lý là “mặc nhiên bị vô hiệu” cho mọi điều khoản này cũng có thể gây ra sự khiên cưỡng, bất hợp lý, gây tổn hại lợi ích của các bên trong giao dịch trong một số trường hợp cụ thể.

Thứ năm, chưa có cơ chế đủ mạnh nhằm thúc đẩy khai thác tiềm năng thương mại từ các “sáng chế không chuyên nghiệp” - sáng chế đến từ đội ngũ nhà nghiên cứu không thuộc các đơn vị hàn lâm, có thể không có chuyên môn hay bằng cấp cao, chẳng hạn như nông dân hay thợ thủ công,... Mặc dù còn những hạn chế nhất định trong công tác nghiên cứu, song nhiều sáng chế từ nhóm đối tượng này đã cho thấy tính ứng dụng cao và tiềm năng tạo ra lợi ích thương mại to lớn. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định rõ các cơ chế hỗ trợ vay vốn, cơ sở vật chất nghiên cứu, tư vấn thủ tục đăng ký bảo hộ hay chiến lược tiến hành thương mại hóa thành quả nghiên cứu cho nhóm đối tượng này. Một số chính sách hỗ trợ được ban hành trước đây vẫn còn thiếu tính đồng bộ và chưa được thực thi một cách linh hoạt, chặt chẽ.

Thứ sáu, các hướng dẫn thực thi quyền SHTT chưa đủ cụ thể, chi tiết và chưa vận dụng tối ưu, đa dạng các hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp vào hoạt động xử lý tranh chấp về quyền SHTT. Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa có văn bản hướng dẫn thi hành, cũng chưa đề cập đến các trường hợp đối tượng bị xâm phạm là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Trong công tác xử lý các tranh chấp về quyền SHTT, biện pháp xử lý phổ biến vẫn là biện pháp hành chính hạn chế tự do ý chí của các bên trong khi biện pháp dân sự được đánh giá là có nhiều ưu điểm hơn vẫn chưa được sử dụng rộng rãi.

Thứ bảy, năng lực chuyên môn của đội ngũ thực thi pháp luật phần nào vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong khi số lượng vi phạm và tranh chấp về SHTT ngày càng tăng và có xu hướng phức tạp hơn, thực tiễn tại Tòa án, Viện kiểm sát, quản lý thị trường, hải quan… cho thấy, đội ngũ nhân lực hiện nay chưa đáp ứng được tiêu chí trên và cần được đào tạo chuyên sâu về SHTT. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến công tác thực thi quyền trở nên khó khăn, thiếu hiệu quả, cản trở hoạt động khai thác thương mại từ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nói riêng và các tài sản SHTT nói chung.

3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo đảm việc khai thác thương mại đối với sáng chế

Một là, khái niệm “thương mại hóa tài sản SHTT” cần được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật liên quan như Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Thương mại. Việc bổ sung khái niệm trên sẽ tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để các chủ thể thương mại thực hiện giao dịch sáng chế một cách hợp pháp, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và từ đó xúc tiến hoạt động thương mại hóa sáng chế.

Hai là, khái niệm sáng chế cũng cần được xem xét bổ sung và chỉnh sửa theo hướng mở rộng phạm vi cấp văn bằng bảo hộ nhằm tăng tính cạnh tranh và phù hợp hơn với các điều khoản trong các điều ước quốc tế về SHTT mà Việt Nam tham gia.

Ba là, hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT đối với sáng chế và định giá sáng chế cũng cần có hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể hơn nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro và từ đó khuyến khích các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh tiến hành khai thác thương mại từ sáng chế. Với hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT đối với sáng chế, cần bổ sung các quy định làm rõ khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về thế nào là chủ sở hữu hợp pháp hoặc người có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản SHTT. Với riêng đối tượng là sáng chế, cần cho phép các chủ thể được góp vốn bằng sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ tại nước ngoài; bổ sung quy định chủ sở hữu quyền sử dụng sáng chế được phép sử dụng quyền đó để góp vốn, tuy nhiên, chỉ trong trường hợp đó là quyền sử dụng độc quyền, nhằm giảm tối đa rủi ro phát sinh tranh chấp và bảo toàn giá trị của tài sản góp vốn; quy định rõ về việc góp vốn bằng sáng chế đang trong quá trình thẩm định đơn. Với hoạt động định giá, cần ban hành một văn bản thống nhất tổng hợp, bổ sung và sắp xếp logic các quy định về hoạt động thẩm định giá cả đối với tài sản SHTT nói chung, sáng chế nói riêng và bổ sung hành lang pháp lý cho sự tồn tại, hoạt động của một tổ chức định giá chuyên biệt.

Bốn là, tại Điều 140 và Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, nhóm tác giả đề xuất thay từ “phải có” thành “có thể bao gồm”; thêm khoản 5 vào Điều 140 và điểm h khoản 1 Điều 144 với nội dung là “các thỏa thuận khác” theo đúng tinh thần tự do trong thỏa thuận của một giao dịch dân sự. Điều này cũng giảm bớt một phần gánh nặng trong khâu giao dịch, ký kết hợp đồng liên quan đến chuyển giao quyền sở hữu sáng chế đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 144 như sau: “Các điều khoản trong hợp đồng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này mặc nhiên bị vô hiệu nếu các bên không có thỏa thuận khác và việc điều khoản vô hiệu không gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên”.

Năm là, cần có cơ chế khen thưởng, tôn vinh kịp thời, các phúc lợi lớn và thiết thực hơn cho các chủ sở hữu có sáng chế mang lại hiệu quả thương mại cao, ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn đời sống. Đặc biệt, cần khuyến khích và vinh danh các đối tượng dù không thuộc đội ngũ chuyên môn nghiên cứu nhưng có những giải pháp kỹ thuật được đăng ký bảo hộ và đem lại giá trị cao, góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế của cơ sở, địa phương.

Sáu là, cần nâng cao hiệu quả của các biện pháp thực thi quyền SHTT đối với sáng chế và hoàn thiện các quy định hướng dẫn thực thi quyền SHTT với sáng chế.

Với biện pháp hình sự, cần đưa hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với sáng chế thành đối tượng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều này sẽ tạo thêm cơ chế để các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình, từ đó thúc đẩy hoạt động thương mại hóa sáng chế.

Với biện pháp dân sự, cần tinh giản các thủ tục giải quyết tranh chấp, rút ngắn thời hạn chuẩn bị xét xử các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế để biện pháp này thực sự trở nên hiệu quả. Bên cạnh đó, việc xác định mức bồi thường thiệt hại cần phải căn cứ vào hành vi, hậu quả, mức độ thiệt hại để đưa ra mức bồi thường thiệt hại hợp lý thay vì quy định tại điểm c khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Bởi vì, trong trường hợp thiệt hại thực tế lớn hơn 500 triệu đồng thì mức tiền bồi thường như vậy hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của bên bị xâm phạm. Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu và sáng tạo ra một sáng chế đòi hỏi chủ sở hữu phải bỏ ra công sức và chi phí vô cùng lớn, việc quy định mức bồi thường như trên là chưa thỏa đáng.

Với biện pháp hành chính, trước mắt, khi biện pháp dân sự chưa đạt hiệu quả cao, cần xem xét tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHTT nói chung và với các hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nói riêng để tạo tính răn đe.

Vũ Thanh Hà, Lê Huyền Mai & Nguyễn Huyền Vy

Sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2006, được sửa đổi, bổ sung 3 lần vào năm 2009, 2019, 2022. Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-VPQH Luật Sở hữu trí tuệ do Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội ký xác thực ngày 08/7/2022.

[2]. https://economictimes.indiatimes.com/definition/commerce, truy cập ngày 25/11/2023.

[3]. Phùng Minh Hải, Đỗ Phương Nhung, Hà Diệu Linh, “Thương mại hóa sáng chế - Đối tượng tham gia và động cơ thúc đẩy quá trình thương mại hoá”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ngày 25/12/2022.

[4]. Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ, Tư vấn, “Thương mại hóa tài sản trí tuệ - động lực phát triển bền vững cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam”, https://ipvietnam.gov.vn/tin-tuc-su-kien/-/asset_publisher/7xsjBfqhCDAV/ content/thuong-mai-hoa-tai-san-tri-tue-ong-luc-phat-trien-ben-vung-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-viet-nam, truy cập ngày 26/01/2024.

[5]. Phan Quốc Nguyên, “Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận án Tiến sĩ luật học, 2016.

[6]. Dương Tử Giang, “Bàn về yêu cầu bảo hộ dạng sử dụng đối với sáng chế ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 9 năm 2017, tr. 52, 54, truy cập ngày 30/12/2023.

[7]. Khoản 1 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: “Chủ sở hữu sáng chế, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng”.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 399), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: