Thứ bảy 16/05/2026 17:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế nhằm thúc đẩy thương mại hoá sáng chế tại Việt Nam

Bài viết khái quát bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế và hoạt động thương mại hóa sáng chế và đánh giá tình hình pháp luật lĩnh vực này tại Việt Nam, tác động của nó đối với hoạt động khai thác lợi ích thương mại từ sáng chế, từ đó, đề xuất giải pháp, định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam.

1. Khái quát bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế và hoạt động thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam

1.1. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế

Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với sáng chế nhưng dựa vào những quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022[1] (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005), ta có thể khái quát rằng: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế là hệ thống pháp lý quy định rõ những quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu sáng chế và các chủ thể có liên quan; quy định hành vi xâm phạm quyền và những biện pháp xử lý với hành vi vi phạm đó.

Để quản lý và giám sát cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu và các chủ thể khác có liên quan, Nhà nước cấp bằng độc quyền sáng chế cho cá nhân, tổ chức. Như vậy, bằng độc quyền sáng chế là văn bản pháp lý đánh dấu việc Nhà nước sẽ đứng ra sử dụng các công cụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ thể được cấp bằng. Văn bản này xác định và bảo vệ quyền độc quyền của chủ sở hữu đối với sáng chế của họ trong một thời gian nhất định.

1.2. Hoạt động thương mại hóa sáng chế

Trước tiên, “thương mại là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên quy mô lớn. Bất kì giao dịch nào sử dụng tiền để mua sắm các hàng hóa và dịch vụ đều là một phần của hoạt động thương mại”[2]. Pháp luật Việt Nam định nghĩa, “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005). Theo đó, khái niệm “khai thác thương mại” hoặc “thương mại hóa” nhìn chung có thể được hiểu là việc tài sản hợp pháp được trao đổi, mua bán hoặc áp dụng các hình thức thương mại khác nhằm giúp chủ sở hữu hoặc người có quyền lợi hợp pháp đối với tài sản thu được lợi nhuận từ chính tài sản mà mình có quyền.

Như vậy, dù Việt Nam không có quy định về khái niệm “thương mại hóa sáng chế”, bằng phương pháp “bóc tách” khái niệm chúng ta có thể hiểu hoạt động “khai thác thương mại đối với sáng chế” là các hành vi trao đổi, mua bán hoặc các hình thức thương mại khác nhằm thu được lợi nhuận hợp pháp từ sáng chế.

Về chủ thể tham gia quá trình thương mại hóa sáng chế, theo kinh nghiệm quốc tế, các chủ thể chính trong quá trình thương mại hóa sáng chế bao gồm người bán, người mua, tổ chức trung gian và cơ quan quản lý nhà nước[3].

Về điều kiện khai thác, sáng chế được xếp vào nhóm tài sản về quyền SHTT - một loại tài sản vô hình. Tuy nhiên, cũng tương tự như tài sản hữu hình, để có thể thương mại hóa (lưu thông) được, tài sản trí tuệ phải bảo đảm đáp ứng đầy đủ các điều kiện: Phải được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam; đang còn hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam và không phải là các đối tượng đang bị tranh chấp[4].

Về các khâu của quá trình khai thác thương mại sáng chế, theo khuyến nghị từ các chuyên gia, quá trình này không phải là một quá trình tuyến tính, tuần tự hoàn toàn mà các thành phần của nó có thể chồng chéo lên nhau, tương tác linh hoạt lẫn nhau ở một mức độ nhất định. Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự linh hoạt phối hợp các khâu, các chủ đề thay vì áp dụng một “khung” cố định. Tuy nhiên, từ góc độ nhà phát minh hay chủ sở hữu sáng chế, một số bước cần đặc biệt lưu ý trong tiến trình thương mại hóa sản phẩm SHTT bao gồm: (i) Hình thành ý tưởng, tiến hành sáng tạo và tiếp thị sáng chế; (ii) Nộp đơn xin cấp phép nhằm bảo đảm các quyền lợi pháp lý của chủ sở hữu đối với sáng chế; (iii) Tìm kiếm khách hàng, liên hệ với các bên trung gian nhằm thúc đẩy hoạt động mua bán bằng sáng chế, cho thuê các quyền SHTT đối với sáng chế hoặc bất kỳ một giao dịch nào đem lại lợi nhuận từ tài sản này.

Xét về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế, có thể kể đến một số hình thức như: (i) Chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế; (ii) Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế; (iii) Chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế; (iv) Chủ sở hữu thu được tiền đền bù từ việc bị Nhà nước hoặc người thay mặt cho Nhà nước thực hiện li-xăng cưỡng bức[5].

2. Một số bất cập của pháp luật hiện hành về hoạt động thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam

Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa đề cập đến khái niệm thương mại hóa sáng chế. Hiện nay, ta mới chỉ tìm thấy định nghĩa về “hoạt động thương mại” trong Luật Thương mại năm 2005 và “thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học” trong Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017. Thực trạng này dẫn đến việc cũng không có một văn bản cụ thể nào hướng dẫn về các khía cạnh của hoạt động thương mại hóa sáng chế như quy trình, phương thức khai thác, các tổ chức trung gian hỗ trợ được phép hoạt động,... Kết quả là hoạt động khai thác sáng chế của các chủ thể đôi khi còn diễn ra tự phát, nhỏ lẻ, thiếu chiến lược, thiếu thông tin; chủ thể khai thác thường gặp nhiều khó khăn trong việc viện dẫn các căn cứ pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, quy định về các đối tượng được cấp bằng sáng chế vẫn còn tương đối hẹp, dẫn đến làm giảm tính cạnh tranh và khả năng khai thác lợi nhuận của các loại hình tài sản có kết tinh hàm lượng chất xám khác. Căn cứ theo định nghĩa được quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, “sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”. Theo định nghĩa này thì việc nghiên cứu tìm ra các chức năng, cách sử dụng mới của một chất, thiết bị đã có sẵn (tức là sáng chế dạng sử dụng) sẽ không được cấp văn bằng bảo hộ. Cần lưu ý rằng, các quốc gia có hệ thống pháp luật SHTT tiến bộ và khá tương tự với nước ta như ở châu Âu hay Nhật Bản vẫn chấp nhận phổ biến việc cấp văn bằng bảo hộ cho sáng chế dạng sử dụng. Thậm chí, ngay tại Việt Nam, trước khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được ban hành, loại sáng chế này cũng vẫn có tiền lệ được xem xét cấp văn bằng bảo hộ[6]. Hệ quả là, việc quy định đối tượng được bảo hộ như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sẽ phần nào tạo ra thiệt thòi cho các chủ thể nghiên cứu bởi quá trình tìm ra cách sử dụng mới của một sản phẩm đã có vẫn có thể là quá trình hao tổn chất xám, chi phí đầu tư ngang với việc tạo ra một quy trình hay sản phẩm mới, dẫn tới họ thiếu động lực để tiến hành tìm ra và khai thác nhiều giá trị thương mại hơn từ các phương pháp hay sản phẩm đã có. Ngoài ra, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế tại Điều 59 đã thu hẹp hơn đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế so với khoản 3 Điều 27 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).

Thứ ba, chưa có hành lang pháp lý cụ thể cho các hoạt động định giá, góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Đối với hoạt động định giá, hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản chính thức nào điều chỉnh việc định giá tài sản vô hình nói chung và sáng chế nói riêng. Pháp luật chưa có quy định về việc tổ chức chuyên môn nào có quyền định giá sáng chế, trình tự hoạt động định giá ra sao... Bởi vì, sáng chế là loại tài sản vô hình, có tính biến động cao nên hoạt động này đòi hỏi tính chuyên môn sâu và được tổ chức một cách hệ thống, bài bản. Việc bỏ ngỏ các quy định về định giá sáng chế như hiện tại sẽ khiến cho hoạt động định giá diễn ra một cách tự phát, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích thương mại của các bên khi tham gia giao dịch có đối tượng là sáng chế. Bên cạnh đó, đối với hoạt động góp vốn bằng sáng chế, một phần cũng do hoạt động định giá sáng chế chưa được triển khai một cách hiệu quả. Ngoài ra, bất cập trong việc góp vốn bằng tài sản là quyền SHTT đối với sáng chế còn đến từ việc khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 bắt buộc cá nhân, tổ chức góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với sáng chế. Cách quy định này đã triệt tiêu khả năng góp vốn của chủ sở hữu sáng chế được cấp văn bằng tại nước ngoài (do quyền SHTT mang tính lãnh thổ và văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực trong phạm vi quốc gia cấp bằng). Đồng thời, chủ sở hữu sáng chế đang trong giai đoạn thẩm định đơn cũng không có khả năng sử dụng quyền này để góp vốn thành lập doanh nghiệp do chưa có văn bằng bảo hộ công nhận quyền sở hữu hợp pháp của chủ thể đối với sáng chế[7]. Cuối cùng, thực tế pháp luật đang cho phép góp vốn bằng các hợp đồng li-xăng không độc quyền, điều này có thể giảm sức cạnh tranh, giá trị của quyền SHTT góp vốn; hạn chế sự kiểm soát thực tế của công ty nhận quyền SHTT làm tài sản góp vốn cũng như dễ nảy sinh tranh chấp với các chủ sở hữu hợp đồng li-xăng khác.

Thứ tư, các quy định về nội dung hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp vẫn chưa linh hoạt, hiệu quả. Qua đánh giá Điều 140 và Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về nội dung hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, nhóm tác giả nhận thấy một số điểm chưa hợp lý. Trước hết, các quy định này đang dùng từ “phải có” cho các điều khoản được liệt kê trong hợp đồng, tức là hàm ý các điều khoản mang tính bắt buộc trong khi bản chất hợp đồng sử dụng và hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là loại hợp đồng dân sự, mang tính chất tự thỏa thuận giữa các bên. Kế tiếp, khoản 2 Điều 144 cũng đang chỉ ra các “hạn chế bất hợp lý quyền của các bên được chuyển quyền” theo phương pháp liệt kê, không đưa ra các tiêu chí xác định cụ thể, có thể dẫn đến sự thiếu sót các điều khoản là hạn chế bất hợp lý khác. Ngoài ra, do tính đa dạng của các tình huống thực tế nên việc quy định này đặt ra cách xử lý là “mặc nhiên bị vô hiệu” cho mọi điều khoản này cũng có thể gây ra sự khiên cưỡng, bất hợp lý, gây tổn hại lợi ích của các bên trong giao dịch trong một số trường hợp cụ thể.

Thứ năm, chưa có cơ chế đủ mạnh nhằm thúc đẩy khai thác tiềm năng thương mại từ các “sáng chế không chuyên nghiệp” - sáng chế đến từ đội ngũ nhà nghiên cứu không thuộc các đơn vị hàn lâm, có thể không có chuyên môn hay bằng cấp cao, chẳng hạn như nông dân hay thợ thủ công,... Mặc dù còn những hạn chế nhất định trong công tác nghiên cứu, song nhiều sáng chế từ nhóm đối tượng này đã cho thấy tính ứng dụng cao và tiềm năng tạo ra lợi ích thương mại to lớn. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định rõ các cơ chế hỗ trợ vay vốn, cơ sở vật chất nghiên cứu, tư vấn thủ tục đăng ký bảo hộ hay chiến lược tiến hành thương mại hóa thành quả nghiên cứu cho nhóm đối tượng này. Một số chính sách hỗ trợ được ban hành trước đây vẫn còn thiếu tính đồng bộ và chưa được thực thi một cách linh hoạt, chặt chẽ.

Thứ sáu, các hướng dẫn thực thi quyền SHTT chưa đủ cụ thể, chi tiết và chưa vận dụng tối ưu, đa dạng các hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp vào hoạt động xử lý tranh chấp về quyền SHTT. Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa có văn bản hướng dẫn thi hành, cũng chưa đề cập đến các trường hợp đối tượng bị xâm phạm là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Trong công tác xử lý các tranh chấp về quyền SHTT, biện pháp xử lý phổ biến vẫn là biện pháp hành chính hạn chế tự do ý chí của các bên trong khi biện pháp dân sự được đánh giá là có nhiều ưu điểm hơn vẫn chưa được sử dụng rộng rãi.

Thứ bảy, năng lực chuyên môn của đội ngũ thực thi pháp luật phần nào vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong khi số lượng vi phạm và tranh chấp về SHTT ngày càng tăng và có xu hướng phức tạp hơn, thực tiễn tại Tòa án, Viện kiểm sát, quản lý thị trường, hải quan… cho thấy, đội ngũ nhân lực hiện nay chưa đáp ứng được tiêu chí trên và cần được đào tạo chuyên sâu về SHTT. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến công tác thực thi quyền trở nên khó khăn, thiếu hiệu quả, cản trở hoạt động khai thác thương mại từ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nói riêng và các tài sản SHTT nói chung.

3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo đảm việc khai thác thương mại đối với sáng chế

Một là, khái niệm “thương mại hóa tài sản SHTT” cần được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật liên quan như Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Thương mại. Việc bổ sung khái niệm trên sẽ tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để các chủ thể thương mại thực hiện giao dịch sáng chế một cách hợp pháp, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và từ đó xúc tiến hoạt động thương mại hóa sáng chế.

Hai là, khái niệm sáng chế cũng cần được xem xét bổ sung và chỉnh sửa theo hướng mở rộng phạm vi cấp văn bằng bảo hộ nhằm tăng tính cạnh tranh và phù hợp hơn với các điều khoản trong các điều ước quốc tế về SHTT mà Việt Nam tham gia.

Ba là, hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT đối với sáng chế và định giá sáng chế cũng cần có hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể hơn nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro và từ đó khuyến khích các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh tiến hành khai thác thương mại từ sáng chế. Với hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT đối với sáng chế, cần bổ sung các quy định làm rõ khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về thế nào là chủ sở hữu hợp pháp hoặc người có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản SHTT. Với riêng đối tượng là sáng chế, cần cho phép các chủ thể được góp vốn bằng sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ tại nước ngoài; bổ sung quy định chủ sở hữu quyền sử dụng sáng chế được phép sử dụng quyền đó để góp vốn, tuy nhiên, chỉ trong trường hợp đó là quyền sử dụng độc quyền, nhằm giảm tối đa rủi ro phát sinh tranh chấp và bảo toàn giá trị của tài sản góp vốn; quy định rõ về việc góp vốn bằng sáng chế đang trong quá trình thẩm định đơn. Với hoạt động định giá, cần ban hành một văn bản thống nhất tổng hợp, bổ sung và sắp xếp logic các quy định về hoạt động thẩm định giá cả đối với tài sản SHTT nói chung, sáng chế nói riêng và bổ sung hành lang pháp lý cho sự tồn tại, hoạt động của một tổ chức định giá chuyên biệt.

Bốn là, tại Điều 140 và Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, nhóm tác giả đề xuất thay từ “phải có” thành “có thể bao gồm”; thêm khoản 5 vào Điều 140 và điểm h khoản 1 Điều 144 với nội dung là “các thỏa thuận khác” theo đúng tinh thần tự do trong thỏa thuận của một giao dịch dân sự. Điều này cũng giảm bớt một phần gánh nặng trong khâu giao dịch, ký kết hợp đồng liên quan đến chuyển giao quyền sở hữu sáng chế đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 144 như sau: “Các điều khoản trong hợp đồng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này mặc nhiên bị vô hiệu nếu các bên không có thỏa thuận khác và việc điều khoản vô hiệu không gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên”.

Năm là, cần có cơ chế khen thưởng, tôn vinh kịp thời, các phúc lợi lớn và thiết thực hơn cho các chủ sở hữu có sáng chế mang lại hiệu quả thương mại cao, ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn đời sống. Đặc biệt, cần khuyến khích và vinh danh các đối tượng dù không thuộc đội ngũ chuyên môn nghiên cứu nhưng có những giải pháp kỹ thuật được đăng ký bảo hộ và đem lại giá trị cao, góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế của cơ sở, địa phương.

Sáu là, cần nâng cao hiệu quả của các biện pháp thực thi quyền SHTT đối với sáng chế và hoàn thiện các quy định hướng dẫn thực thi quyền SHTT với sáng chế.

Với biện pháp hình sự, cần đưa hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với sáng chế thành đối tượng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều này sẽ tạo thêm cơ chế để các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình, từ đó thúc đẩy hoạt động thương mại hóa sáng chế.

Với biện pháp dân sự, cần tinh giản các thủ tục giải quyết tranh chấp, rút ngắn thời hạn chuẩn bị xét xử các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế để biện pháp này thực sự trở nên hiệu quả. Bên cạnh đó, việc xác định mức bồi thường thiệt hại cần phải căn cứ vào hành vi, hậu quả, mức độ thiệt hại để đưa ra mức bồi thường thiệt hại hợp lý thay vì quy định tại điểm c khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Bởi vì, trong trường hợp thiệt hại thực tế lớn hơn 500 triệu đồng thì mức tiền bồi thường như vậy hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của bên bị xâm phạm. Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu và sáng tạo ra một sáng chế đòi hỏi chủ sở hữu phải bỏ ra công sức và chi phí vô cùng lớn, việc quy định mức bồi thường như trên là chưa thỏa đáng.

Với biện pháp hành chính, trước mắt, khi biện pháp dân sự chưa đạt hiệu quả cao, cần xem xét tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHTT nói chung và với các hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nói riêng để tạo tính răn đe.

Vũ Thanh Hà, Lê Huyền Mai & Nguyễn Huyền Vy

Sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2006, được sửa đổi, bổ sung 3 lần vào năm 2009, 2019, 2022. Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-VPQH Luật Sở hữu trí tuệ do Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội ký xác thực ngày 08/7/2022.

[2]. https://economictimes.indiatimes.com/definition/commerce, truy cập ngày 25/11/2023.

[3]. Phùng Minh Hải, Đỗ Phương Nhung, Hà Diệu Linh, “Thương mại hóa sáng chế - Đối tượng tham gia và động cơ thúc đẩy quá trình thương mại hoá”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ngày 25/12/2022.

[4]. Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ, Tư vấn, “Thương mại hóa tài sản trí tuệ - động lực phát triển bền vững cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam”, https://ipvietnam.gov.vn/tin-tuc-su-kien/-/asset_publisher/7xsjBfqhCDAV/ content/thuong-mai-hoa-tai-san-tri-tue-ong-luc-phat-trien-ben-vung-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-viet-nam, truy cập ngày 26/01/2024.

[5]. Phan Quốc Nguyên, “Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận án Tiến sĩ luật học, 2016.

[6]. Dương Tử Giang, “Bàn về yêu cầu bảo hộ dạng sử dụng đối với sáng chế ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 9 năm 2017, tr. 52, 54, truy cập ngày 30/12/2023.

[7]. Khoản 1 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: “Chủ sở hữu sáng chế, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng”.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 399), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: