Thứ sáu 05/12/2025 09:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự, từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp ngăn chặn này.

1. Khái quát về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Tạm hoãn xuất cảnh là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định tại khoản 1 Điều 109, Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Đây là biện pháp ngăn chặn mới, lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong điều tra hình sự, chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này là Cơ quan điều tra, trong đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người có thẩm quyền ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can. Đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng trong trường hợp qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Đối với bị can, Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng trong trường hợp có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn. Do đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh với đối tượng trên trong quá trình giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự.

Sau khi Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh, quyết định này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành. Sau đó, Cơ quan điều tra gửi quyết định tạm hoãn xuất cảnh đến cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh để tổ chức thực hiện; đồng thời, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với bị can theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự, Cơ quan điều tra không được tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như không được tạm hoãn xuất cảnh đối với bị can quá thời hạn điều tra. Các đối tượng được hủy bỏ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như: Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can.

2. Một số vướng mắc, bất cập về áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Thứ nhất, về căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Điểm a khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố khi “có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”. Việc quy định phải có đủ căn cứ xác định người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố bị nghi thực hiện tội phạm là không thực sự cần thiết. Bởi lẽ, để trở thành người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thì những người tham gia tố tụng này phải có những dấu hiệu nhất định liên quan đến hành vi phạm tội bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Đồng thời, khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định căn cứ chung mà chủ thể điều tra hình sự áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh là khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của đối tượng bị áp dụng “có dấu hiệu bỏ trốn” mà không kèm theo điều kiện “tiêu hủy chứng cứ”. Do đó, việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh giữa các Cơ quan điều tra hiện nay chưa có sự thống nhất; một số trường hợp Cơ quan điều tra chưa kịp thời áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố do cho rằng chưa có đủ căn cứ xác định họ bị nghi thực hiện tội phạm, dẫn đến những người tham gia tố tụng này đã lợi dụng để bỏ trốn ra nước ngoài.

Thứ hai, về đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự có thể bao gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can. Thực tiễn công tác điều tra hình sự cho thấy, trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án, Cơ quan điều tra còn phát hiện những đối tượng nghi vấn là đồng phạm với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, với bị can trong vụ án, song Cơ quan điều tra không thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh với đối tượng này. Bởi lẽ, hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định đối tượng bị tạm hoãn xuất cảnh với người có nghĩa vụ liên quan đến tố giác, kiến nghị khởi tố, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Điều này chưa phù hợp với quy định tại Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2023 khi quy định bao gồm cả trường hợp người nước ngoài thuộc trường hợp người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Do đó, diện đối tượng này vẫn có điều kiện xuất cảnh ra nước ngoài để bỏ trốn hoặc tiêu hủy tài liệu, chứng cứ, nhất là khi Cơ quan điều tra chưa thu thập đủ căn cứ áp dụng các biện pháp khác như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, tạm giữ.

Thứ ba, về chủ thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Hiện nay, theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự chỉ gồm Cơ quan điều tra, trong đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Điều này chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn công tác điều tra hình sự. Bởi lẽ, công tác điều tra hình sự còn do các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện theo quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra hình sự, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc quy định các cơ quan này không có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác sẽ gây ra những khó khăn trong quá trình giải quyết tố giác tội phạm cũng như chưa phù hợp với đối tượng bị áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ tư, về thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Theo quy định tại khoản 3 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể điều tra hình sự áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Theo đó, đối với trường hợp tạm đình chỉ giải quyết tố giác về tội phạm, chủ thể điều tra không được áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Bởi vì, theo quy định tại khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong quá trình tạm đình chỉ việc giải quyết đối với tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì chỉ có các hoạt động giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả. Điều này đã tạo điều kiện để người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố lợi dụng thực hiện hành vi xuất cảnh ra nước ngoài để bỏ trốn. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng chưa có quy định cụ thể về thời hạn chấm dứt tư cách tố tụng đối với người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố. Theo đó, trong quá trình áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với những đối tượng này của chủ thể điều tra còn có những quan điểm khác nhau về thời hạn áp dụng, dẫn đến việc áp dụng của các chủ thể điều tra còn chưa thống nhất. Cụ thể:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, tư cách tố tụng của người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố bị chấm dứt khi vụ việc được chủ thể điều tra ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Theo quan điểm này, chủ thể điều tra chỉ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố đến khi có các quyết định trên (trừ trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm bị tạm đình chỉ việc giải quyết). Do đó, với trường hợp đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với người đã bị tố giác, đã bị kiến nghị khởi tố, chủ thể điều tra không thể tiếp tục áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với họ.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, thời hạn tồn tại tư cách tố tụng của người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố kéo dài cho đến khi vụ án được đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra. Theo quan điểm này, chủ thể điều tra chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc có dấu hiệu tội phạm, còn đối với người nghi vấn thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa đủ căn cứ khởi tố bị can vẫn là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về việc họ bị nghi vấn đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, chủ thể điều tra vẫn kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh cho đến khi họ bị khởi tố bị can hoặc vụ án bị tạm đình chỉ điều tra hoặc vụ án bị đình chỉ điều tra.

Thứ năm, về thủ tục thi hành biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định về việc Cơ quan điều tra phải giao quyết định tạm hoãn xuất cảnh cho các đối tượng bị áp dụng bao gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng này cho thấy, chỉ có bị can là người tham gia tố tụng được nhận quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, trong đó có quyết định áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, hiện nay, Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa đề cập đến việc họ có quyền được nhận các quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Do đó, quá trình áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh của Cơ quan điều tra còn có những quan điểm khác nhau về việc thông báo hay không thông báo quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Một là, sửa đổi về căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng, bổ sung cụm từ “hoặc tiêu hủy chứng cứ” trong căn cứ áp dụng thành: “Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”. Đồng thời, tại điểm a khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định đối tượng bị áp dụng là “người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố”, không cần thêm các điều kiện khác. Việc sửa đổi theo hướng trên sẽ giúp chủ thể điều tra dễ dàng xác định được căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, mở rộng diện đối tượng áp dụng, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết đối với tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Hai là, bổ sung đối tượng áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Để đáp ứng yêu cầu điều tra hình sự, các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu bổ sung “người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự” là đối tượng bị xem xét áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi thỏa mãn các điều kiện chung của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Việc bổ sung đối tượng này sẽ bảo đảm sự phù hợp với quy định tại điểm c khoản 3 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng như bảo đảm sự liên thông, phù hợp với hệ thống pháp luật về xuất, nhập cảnh, trong đó trực tiếp là Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2019 và năm 2023.

Ba là, bổ sung chủ thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh bao gồm các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (trừ Đội an ninh Công an cấp huyện). Bởi lẽ, các cơ quan này có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Theo đó, các cơ quan này có thẩm quyền thực hiện các hoạt động, biện pháp điều tra đối với người bị tố giác về tội phạm. Vì vậy, khoản 2 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần sửa đổi theo hướng: “Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113, điểm b khoản 3 Điều 145 Bộ luật này, thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh…”.

Bốn là, ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung, áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh nói riêng. Thời gian tới, liên ngành Tư pháp Trung ương cần tiếp tục tập hợp, nghiên cứu xây dựng, sớm ban hành văn bản hướng dẫn xác định trường hợp cần thiết mà cơ quan có thẩm quyền vẫn tiếp tục được áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Đồng thời, văn bản hướng dẫn cần giải thích rõ thời điểm chấm dứt tư cách tố tụng của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Việc ban hành văn bản hướng dẫn giải thích về các vấn đề trên sẽ giúp các chủ thể điều tra hình sự gặp thuận lợi trong quá trình nghiên cứu, tổ chức áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Năm là, sửa đổi quyền, nghĩa vụ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố quy định tại Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, bổ sung quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố tại khoản 1 Điều 57 theo hướng: “Nhận quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này”, trong đó bao gồm quyết định tạm hoãn xuất cảnh, quyết định hủy bỏ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Đồng thời, bổ sung nghĩa vụ tại khoản 2 Điều 57 theo hướng: “Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”./.

TS. Sái Ngọc Hưng

Học viện An ninh nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 396), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.
Khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đề cao quyền tự quyết của các bên, vì thủ tục này chỉ được tiến hành khi các bên có thỏa thuận trọng tài. Cơ chế tự do thỏa thuận đặt ra vấn đề, liệu các bên có được thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện để đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài hay không? Bài viết phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về khả năng thỏa thuận thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, so sánh với pháp luật của một số quốc gia về vấn đề này; từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: