Thứ sáu 01/05/2026 10:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự, từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp ngăn chặn này.

1. Khái quát về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Tạm hoãn xuất cảnh là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định tại khoản 1 Điều 109, Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Đây là biện pháp ngăn chặn mới, lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong điều tra hình sự, chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này là Cơ quan điều tra, trong đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người có thẩm quyền ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can. Đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng trong trường hợp qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Đối với bị can, Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng trong trường hợp có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn. Do đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh với đối tượng trên trong quá trình giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự.

Sau khi Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh, quyết định này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành. Sau đó, Cơ quan điều tra gửi quyết định tạm hoãn xuất cảnh đến cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh để tổ chức thực hiện; đồng thời, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với bị can theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự, Cơ quan điều tra không được tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như không được tạm hoãn xuất cảnh đối với bị can quá thời hạn điều tra. Các đối tượng được hủy bỏ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như: Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can.

2. Một số vướng mắc, bất cập về áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Thứ nhất, về căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Điểm a khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố khi “có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”. Việc quy định phải có đủ căn cứ xác định người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố bị nghi thực hiện tội phạm là không thực sự cần thiết. Bởi lẽ, để trở thành người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thì những người tham gia tố tụng này phải có những dấu hiệu nhất định liên quan đến hành vi phạm tội bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Đồng thời, khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định căn cứ chung mà chủ thể điều tra hình sự áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh là khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của đối tượng bị áp dụng “có dấu hiệu bỏ trốn” mà không kèm theo điều kiện “tiêu hủy chứng cứ”. Do đó, việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh giữa các Cơ quan điều tra hiện nay chưa có sự thống nhất; một số trường hợp Cơ quan điều tra chưa kịp thời áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố do cho rằng chưa có đủ căn cứ xác định họ bị nghi thực hiện tội phạm, dẫn đến những người tham gia tố tụng này đã lợi dụng để bỏ trốn ra nước ngoài.

Thứ hai, về đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự có thể bao gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can. Thực tiễn công tác điều tra hình sự cho thấy, trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án, Cơ quan điều tra còn phát hiện những đối tượng nghi vấn là đồng phạm với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, với bị can trong vụ án, song Cơ quan điều tra không thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh với đối tượng này. Bởi lẽ, hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định đối tượng bị tạm hoãn xuất cảnh với người có nghĩa vụ liên quan đến tố giác, kiến nghị khởi tố, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Điều này chưa phù hợp với quy định tại Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2023 khi quy định bao gồm cả trường hợp người nước ngoài thuộc trường hợp người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Do đó, diện đối tượng này vẫn có điều kiện xuất cảnh ra nước ngoài để bỏ trốn hoặc tiêu hủy tài liệu, chứng cứ, nhất là khi Cơ quan điều tra chưa thu thập đủ căn cứ áp dụng các biện pháp khác như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, tạm giữ.

Thứ ba, về chủ thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Hiện nay, theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự chỉ gồm Cơ quan điều tra, trong đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Điều này chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn công tác điều tra hình sự. Bởi lẽ, công tác điều tra hình sự còn do các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện theo quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra hình sự, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc quy định các cơ quan này không có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác sẽ gây ra những khó khăn trong quá trình giải quyết tố giác tội phạm cũng như chưa phù hợp với đối tượng bị áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ tư, về thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Theo quy định tại khoản 3 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể điều tra hình sự áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Theo đó, đối với trường hợp tạm đình chỉ giải quyết tố giác về tội phạm, chủ thể điều tra không được áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Bởi vì, theo quy định tại khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong quá trình tạm đình chỉ việc giải quyết đối với tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì chỉ có các hoạt động giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả. Điều này đã tạo điều kiện để người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố lợi dụng thực hiện hành vi xuất cảnh ra nước ngoài để bỏ trốn. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng chưa có quy định cụ thể về thời hạn chấm dứt tư cách tố tụng đối với người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố. Theo đó, trong quá trình áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với những đối tượng này của chủ thể điều tra còn có những quan điểm khác nhau về thời hạn áp dụng, dẫn đến việc áp dụng của các chủ thể điều tra còn chưa thống nhất. Cụ thể:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, tư cách tố tụng của người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố bị chấm dứt khi vụ việc được chủ thể điều tra ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Theo quan điểm này, chủ thể điều tra chỉ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố đến khi có các quyết định trên (trừ trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm bị tạm đình chỉ việc giải quyết). Do đó, với trường hợp đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với người đã bị tố giác, đã bị kiến nghị khởi tố, chủ thể điều tra không thể tiếp tục áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với họ.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, thời hạn tồn tại tư cách tố tụng của người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố kéo dài cho đến khi vụ án được đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra. Theo quan điểm này, chủ thể điều tra chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc có dấu hiệu tội phạm, còn đối với người nghi vấn thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa đủ căn cứ khởi tố bị can vẫn là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về việc họ bị nghi vấn đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, chủ thể điều tra vẫn kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh cho đến khi họ bị khởi tố bị can hoặc vụ án bị tạm đình chỉ điều tra hoặc vụ án bị đình chỉ điều tra.

Thứ năm, về thủ tục thi hành biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định về việc Cơ quan điều tra phải giao quyết định tạm hoãn xuất cảnh cho các đối tượng bị áp dụng bao gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng này cho thấy, chỉ có bị can là người tham gia tố tụng được nhận quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, trong đó có quyết định áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, hiện nay, Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa đề cập đến việc họ có quyền được nhận các quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Do đó, quá trình áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh của Cơ quan điều tra còn có những quan điểm khác nhau về việc thông báo hay không thông báo quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Một là, sửa đổi về căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng, bổ sung cụm từ “hoặc tiêu hủy chứng cứ” trong căn cứ áp dụng thành: “Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”. Đồng thời, tại điểm a khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định đối tượng bị áp dụng là “người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố”, không cần thêm các điều kiện khác. Việc sửa đổi theo hướng trên sẽ giúp chủ thể điều tra dễ dàng xác định được căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, mở rộng diện đối tượng áp dụng, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết đối với tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Hai là, bổ sung đối tượng áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Để đáp ứng yêu cầu điều tra hình sự, các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu bổ sung “người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự” là đối tượng bị xem xét áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi thỏa mãn các điều kiện chung của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Việc bổ sung đối tượng này sẽ bảo đảm sự phù hợp với quy định tại điểm c khoản 3 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng như bảo đảm sự liên thông, phù hợp với hệ thống pháp luật về xuất, nhập cảnh, trong đó trực tiếp là Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2019 và năm 2023.

Ba là, bổ sung chủ thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh bao gồm các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (trừ Đội an ninh Công an cấp huyện). Bởi lẽ, các cơ quan này có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Theo đó, các cơ quan này có thẩm quyền thực hiện các hoạt động, biện pháp điều tra đối với người bị tố giác về tội phạm. Vì vậy, khoản 2 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần sửa đổi theo hướng: “Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113, điểm b khoản 3 Điều 145 Bộ luật này, thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh…”.

Bốn là, ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung, áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh nói riêng. Thời gian tới, liên ngành Tư pháp Trung ương cần tiếp tục tập hợp, nghiên cứu xây dựng, sớm ban hành văn bản hướng dẫn xác định trường hợp cần thiết mà cơ quan có thẩm quyền vẫn tiếp tục được áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Đồng thời, văn bản hướng dẫn cần giải thích rõ thời điểm chấm dứt tư cách tố tụng của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Việc ban hành văn bản hướng dẫn giải thích về các vấn đề trên sẽ giúp các chủ thể điều tra hình sự gặp thuận lợi trong quá trình nghiên cứu, tổ chức áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Năm là, sửa đổi quyền, nghĩa vụ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố quy định tại Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, bổ sung quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố tại khoản 1 Điều 57 theo hướng: “Nhận quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này”, trong đó bao gồm quyết định tạm hoãn xuất cảnh, quyết định hủy bỏ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Đồng thời, bổ sung nghĩa vụ tại khoản 2 Điều 57 theo hướng: “Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”./.

TS. Sái Ngọc Hưng

Học viện An ninh nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 396), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: