Thứ sáu 10/04/2026 16:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự, từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp ngăn chặn này.

1. Khái quát về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Tạm hoãn xuất cảnh là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định tại khoản 1 Điều 109, Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Đây là biện pháp ngăn chặn mới, lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong điều tra hình sự, chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này là Cơ quan điều tra, trong đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người có thẩm quyền ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can. Đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng trong trường hợp qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Đối với bị can, Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng trong trường hợp có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn. Do đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh với đối tượng trên trong quá trình giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự.

Sau khi Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh, quyết định này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành. Sau đó, Cơ quan điều tra gửi quyết định tạm hoãn xuất cảnh đến cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh để tổ chức thực hiện; đồng thời, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với bị can theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự, Cơ quan điều tra không được tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như không được tạm hoãn xuất cảnh đối với bị can quá thời hạn điều tra. Các đối tượng được hủy bỏ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như: Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can.

2. Một số vướng mắc, bất cập về áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Thứ nhất, về căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Điểm a khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố khi “có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”. Việc quy định phải có đủ căn cứ xác định người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố bị nghi thực hiện tội phạm là không thực sự cần thiết. Bởi lẽ, để trở thành người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thì những người tham gia tố tụng này phải có những dấu hiệu nhất định liên quan đến hành vi phạm tội bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Đồng thời, khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định căn cứ chung mà chủ thể điều tra hình sự áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh là khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của đối tượng bị áp dụng “có dấu hiệu bỏ trốn” mà không kèm theo điều kiện “tiêu hủy chứng cứ”. Do đó, việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh giữa các Cơ quan điều tra hiện nay chưa có sự thống nhất; một số trường hợp Cơ quan điều tra chưa kịp thời áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố do cho rằng chưa có đủ căn cứ xác định họ bị nghi thực hiện tội phạm, dẫn đến những người tham gia tố tụng này đã lợi dụng để bỏ trốn ra nước ngoài.

Thứ hai, về đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự có thể bao gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can. Thực tiễn công tác điều tra hình sự cho thấy, trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án, Cơ quan điều tra còn phát hiện những đối tượng nghi vấn là đồng phạm với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, với bị can trong vụ án, song Cơ quan điều tra không thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh với đối tượng này. Bởi lẽ, hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định đối tượng bị tạm hoãn xuất cảnh với người có nghĩa vụ liên quan đến tố giác, kiến nghị khởi tố, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Điều này chưa phù hợp với quy định tại Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2023 khi quy định bao gồm cả trường hợp người nước ngoài thuộc trường hợp người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Do đó, diện đối tượng này vẫn có điều kiện xuất cảnh ra nước ngoài để bỏ trốn hoặc tiêu hủy tài liệu, chứng cứ, nhất là khi Cơ quan điều tra chưa thu thập đủ căn cứ áp dụng các biện pháp khác như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, tạm giữ.

Thứ ba, về chủ thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Hiện nay, theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự chỉ gồm Cơ quan điều tra, trong đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Điều này chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn công tác điều tra hình sự. Bởi lẽ, công tác điều tra hình sự còn do các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện theo quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra hình sự, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc quy định các cơ quan này không có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác sẽ gây ra những khó khăn trong quá trình giải quyết tố giác tội phạm cũng như chưa phù hợp với đối tượng bị áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ tư, về thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Theo quy định tại khoản 3 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể điều tra hình sự áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Theo đó, đối với trường hợp tạm đình chỉ giải quyết tố giác về tội phạm, chủ thể điều tra không được áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Bởi vì, theo quy định tại khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong quá trình tạm đình chỉ việc giải quyết đối với tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì chỉ có các hoạt động giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả. Điều này đã tạo điều kiện để người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố lợi dụng thực hiện hành vi xuất cảnh ra nước ngoài để bỏ trốn. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng chưa có quy định cụ thể về thời hạn chấm dứt tư cách tố tụng đối với người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố. Theo đó, trong quá trình áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với những đối tượng này của chủ thể điều tra còn có những quan điểm khác nhau về thời hạn áp dụng, dẫn đến việc áp dụng của các chủ thể điều tra còn chưa thống nhất. Cụ thể:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, tư cách tố tụng của người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố bị chấm dứt khi vụ việc được chủ thể điều tra ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Theo quan điểm này, chủ thể điều tra chỉ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố đến khi có các quyết định trên (trừ trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm bị tạm đình chỉ việc giải quyết). Do đó, với trường hợp đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với người đã bị tố giác, đã bị kiến nghị khởi tố, chủ thể điều tra không thể tiếp tục áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với họ.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, thời hạn tồn tại tư cách tố tụng của người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố kéo dài cho đến khi vụ án được đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra. Theo quan điểm này, chủ thể điều tra chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc có dấu hiệu tội phạm, còn đối với người nghi vấn thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa đủ căn cứ khởi tố bị can vẫn là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về việc họ bị nghi vấn đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, chủ thể điều tra vẫn kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh cho đến khi họ bị khởi tố bị can hoặc vụ án bị tạm đình chỉ điều tra hoặc vụ án bị đình chỉ điều tra.

Thứ năm, về thủ tục thi hành biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định về việc Cơ quan điều tra phải giao quyết định tạm hoãn xuất cảnh cho các đối tượng bị áp dụng bao gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng này cho thấy, chỉ có bị can là người tham gia tố tụng được nhận quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, trong đó có quyết định áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, hiện nay, Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa đề cập đến việc họ có quyền được nhận các quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Do đó, quá trình áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh của Cơ quan điều tra còn có những quan điểm khác nhau về việc thông báo hay không thông báo quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong điều tra hình sự

Một là, sửa đổi về căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng, bổ sung cụm từ “hoặc tiêu hủy chứng cứ” trong căn cứ áp dụng thành: “Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”. Đồng thời, tại điểm a khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định đối tượng bị áp dụng là “người bị tố giác về tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố”, không cần thêm các điều kiện khác. Việc sửa đổi theo hướng trên sẽ giúp chủ thể điều tra dễ dàng xác định được căn cứ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, mở rộng diện đối tượng áp dụng, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết đối với tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Hai là, bổ sung đối tượng áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Để đáp ứng yêu cầu điều tra hình sự, các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu bổ sung “người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự” là đối tượng bị xem xét áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi thỏa mãn các điều kiện chung của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Việc bổ sung đối tượng này sẽ bảo đảm sự phù hợp với quy định tại điểm c khoản 3 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng như bảo đảm sự liên thông, phù hợp với hệ thống pháp luật về xuất, nhập cảnh, trong đó trực tiếp là Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2019 và năm 2023.

Ba là, bổ sung chủ thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh bao gồm các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (trừ Đội an ninh Công an cấp huyện). Bởi lẽ, các cơ quan này có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Theo đó, các cơ quan này có thẩm quyền thực hiện các hoạt động, biện pháp điều tra đối với người bị tố giác về tội phạm. Vì vậy, khoản 2 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần sửa đổi theo hướng: “Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113, điểm b khoản 3 Điều 145 Bộ luật này, thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh…”.

Bốn là, ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung, áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh nói riêng. Thời gian tới, liên ngành Tư pháp Trung ương cần tiếp tục tập hợp, nghiên cứu xây dựng, sớm ban hành văn bản hướng dẫn xác định trường hợp cần thiết mà cơ quan có thẩm quyền vẫn tiếp tục được áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Đồng thời, văn bản hướng dẫn cần giải thích rõ thời điểm chấm dứt tư cách tố tụng của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Việc ban hành văn bản hướng dẫn giải thích về các vấn đề trên sẽ giúp các chủ thể điều tra hình sự gặp thuận lợi trong quá trình nghiên cứu, tổ chức áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

Năm là, sửa đổi quyền, nghĩa vụ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố quy định tại Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, bổ sung quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố tại khoản 1 Điều 57 theo hướng: “Nhận quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này”, trong đó bao gồm quyết định tạm hoãn xuất cảnh, quyết định hủy bỏ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Đồng thời, bổ sung nghĩa vụ tại khoản 2 Điều 57 theo hướng: “Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”./.

TS. Sái Ngọc Hưng

Học viện An ninh nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 396), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: