Thứ ba 27/10/2026 00:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Trên cơ sở những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án, nhóm tác giả nêu lên thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai trong thời gian tới.

1. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án

1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án

Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”[1]. Trong đó, giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án là hoạt động của Tòa án giải quyết các tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật. Cụ thể, Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự đối với các tranh chấp đất đai về tài sản gắn liền với đất và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013[2] hoặc không có một trong các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100, tranh chấp đã qua hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nhưng không thành và có yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.2. Các loại tranh chấp đất đai phổ biến hiện nay

Hiện nay, các dạng tranh chấp đất đai rất đa dạng, phong phú, nhiều khi đan xen lẫn nhau, có thể kể đến các loại tranh chấp đất đai phổ biến như sau:

Thứ nhất, tranh chấp về quyền sử dụng đất: Là tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới giữa các vùng đất, những vùng có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới. Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người khác, từ đó phát sinh tranh chấp, như tranh chấp đòi lại đất.

Thứ hai, tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất: Là tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất mang bản chất là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Các bên trong quan hệ tranh chấp có yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, công nhận hiệu lực của hợp đồng, tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc có thể là tranh chấp về mục đích sử dụng đất.

Thứ ba, tranh chấp liên quan đến đất, bao gồm tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn; tranh chấp về quyền thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất.

1.3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án

Nhà nước khuyến khích các bên tự giải quyết tranh chấp đất đai thông qua thương lượng hoặc hòa giải ở cơ sở. Nếu không tự giải quyết được thì các bên đương sự gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tranh chấp tổ chức hòa giải giải quyết. Nếu hòa giải vẫn không thành, các bên gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền tiếp theo là Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013. Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án giải quyết (khoản 1 Điều 203). Tức là các tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thủ tục giải quyết là thủ tục tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định tại khoản 2 Điều 203 là nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Như vậy, đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nay là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác trên đất) hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 thì đương sự được lựa chọn, nhưng chỉ được chọn một trong hai hình thức giải quyết như trên[3]. Với quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, Luật Đất đai năm 2013 đã tạo điều kiện cho đương sự có thêm nhiều quyền lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp đất đai.

Kế thừa cơ bản những quy định của Luật Đất đai năm 2013, song Luật Đất đai năm 2024 có sự điều chỉnh phù hợp với thực trạng hiện hành, cụ thể đã loại bỏ dạng “tranh chấp tài sản gắn liền với đất do Tòa án giải quyết” để quy về thống nhất tiêu chí lựa chọn thẩm quyền giải quyết theo tình trạng pháp lý ghi nhận quyền sử dụng đất của người sử dụng. Nội dung sửa đổi này có ý nghĩa tích cực, giúp các bên liên quan gồm người sử dụng, cơ quan hành chính, cũng như Tòa án xác định và lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai một cách nhanh chóng, góp phần giải quyết tình trạng né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai khi có phát sinh.

1.4. Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án

Để khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai tại Tòa án và được Tòa án thụ lý giải quyết thì các đương sự phải thỏa mãn 02 điều kiện, bao gồm: Đương sự phải thuộc trường hợp mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai; vụ việc đã qua hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã trong những trường hợp pháp luật quy định[4]. Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khi nhận được đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Tòa án sẽ xem xét, xử lý và thụ lý đơn. Theo Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì thẩm phán sẽ thông báo ngay cho người khởi kiện biết và dự tính số tiền tạm ứng án phí để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp đất đai là 04 tháng, vụ việc phức tạp được gia hạn không quá 02 tháng (tổng là 06 tháng); nếu vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử. Sau khi có bản án sơ thẩm, các bên tranh chấp có quyền kháng cáo nếu có căn cứ theo quy định[5].

2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

2.1. Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Trong thời gian qua, các tranh chấp dân sự liên quan đến vấn đề tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp. Theo thống kê tại Trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao, từ ngày 01/01/2021 đến ngày 01/01/2023[6], Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành 1.558 quyết định, bản án… Trong đó, các vụ án tranh chấp đất đai luôn chiếm đa số các vụ án tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai tại Thành phố Hồ Chí Minh và chiếm tỷ lệ cao nhất so với cả nước, theo thống kê, 70% các vụ việc giải quyết về khiếu nại, tố cáo, tranh chấp là liên quan tới đất đai[7]. Thẩm phán ngoài việc tích cực nâng cao số lượng giải quyết án thì còn phải bảo đảm yếu tố chất lượng giải quyết và xét xử án (cụ thể, tỷ lệ hủy, sửa do lỗi chủ quan của thẩm phán không vượt quá 1,5%). Điều này cũng tạo nên áp lực nhất định cho thẩm phán trong quá trình giải quyết tranh chấp. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy, quá trình giải quyết tranh chấp đất đai trong thực tiễn hiện nay còn gặp nhiều khó khăn và vẫn còn quan điểm khác nhau trong việc áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp.

2.1.1. Về xác định đất không có tranh chấp

Mặc dù, Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đất đai năm 2024 có đưa ra định nghĩa về tranh chấp đất đai, nhưng quy định này vẫn chưa cho biết cụ thể về dấu hiệu, cách thức để xác định như thế nào là đất không có tranh chấp cũng như chưa giải thích thế nào là quan hệ đất đai. Vấn đề còn bỏ ngỏ này của các Luật Đất đai đã tạo ra rào cản trong giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Thực tiễn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, có những trường hợp các chủ thể vì nhiều lý do mà cố ý ngăn chặn công chứng giao dịch thế chấp, làm cho các tổ chức hành nghề công chứng bối rối và không công chứng giao dịch để phòng tránh rủi ro. Sau đó, Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 358/QĐ-STP-BTTP ngày 28/8/2007 về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành và sử dụng Chương trình thông tin ngăn chặn quy định: Chỉ những cơ quan có thẩm quyền (Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan điều tra, Ủy ban nhân dân Thành phố và các cơ quan có thẩm quyền cấp “giấy hồng”, “giấy đỏ”) mới được yêu cầu ngăn chặn công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản[8].

Hiện nay, trên thực tế, để xác định đất không có tranh chấp, bên thế chấp phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về tình trạng đất không có tranh chấp. Bởi lẽ, theo Điều 202 Luật Đất đai năm 2013[9], tranh chấp đất đai bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất trước khi khởi kiện tranh chấp ra Tòa án. Vì vậy, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất sẽ chủ động nắm được tình trạng pháp lý của quyền sử dụng đất có đang bị tranh chấp hay không[10]. Tuy nhiên, mặt trái của thực trạng này là hình thành cơ chế “xin - cho” và sự lạm quyền của cán bộ địa phương, điều vốn được coi là hủ tục cần phải xóa bỏ, đặc biệt là trong giai đoạn xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với chủ trương kinh tế số như hiện nay.

2.1.2. Về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất trong trường hợp có nhiều người cùng sở hữu, sử dụng

Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 giấy chứng nhận (khoản 2 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013). Trong trường hợp một người sử dụng đất trong đồng sở hữu này muốn chuyển nhượng nhà đất nhưng không đủ điều kiện để tách thửa thì dù bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đều thống nhất chuyển nhượng một phần nhà đất đã bàn giao nhà đất và đã nhận đủ tiền chuyển nhượng nhưng trong trường hợp này, nếu như một bên trong đương sự không đồng ý về việc đồng sở hữu thì Tòa án sẽ không công nhận quyền sở hữu của các bên. Đơn cử như vụ việc của nguyên đơn (là chủ sở hữu và chủ sử dụng đất) có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) cho bị đơn. Tuy nhiên, trên thực tế, nguyên đơn chỉ chuyển nhượng cho bị đơn phần nhà đất tổng diện tích là 106,21m2 và phần nhà đất còn lại chiều ngang 2,67m, chiều dài 24,7m vẫn thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của nguyên đơn. Tuy nhiên, do bị đơn sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất nên đã đem toàn bộ nhà đất làm tài sản bảo đảm cho khoản vay của người khác tại ngân hàng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện với yêu cầu công nhận phần nhà đất có chiều ngang 2,67m thuộc quyền sở hữu của mình[11].

Khi nghiên cứu vụ án nêu trên, tác giả nhận thấy có hai quan điểm như sau:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, giao dịch chuyển nhượng giữa hai bên đã vi phạm điều cấm của pháp luật và đối tượng hợp đồng không thể thực hiện được, từ đó hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa các bên là vô hiệu toàn bộ.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, khi các bên thực hiện giao dịch đồng ý nhận chuyển nhượng và chuyển nhượng một phần nhà đất, các bên đã biết việc chuyển nhượng một phần thì không thể thực hiện công chứng và cũng không thể tách thửa nhưng các bên vẫn đồng ý thực hiện. Nếu một trong các bên không đồng ý đứng tên đồng sở hữu trên giấy chứng nhận thì bên còn lại yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án và Tòa án cũng có quyền công nhận đồng sở hữu. Nếu Tòa án không công nhận đồng sở hữu thì có thể gây thiệt hại cho bên nhận chuyển nhượng nhà đất.

2.1.3. Về nguyên tắc và thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Vận dụng “nguyên tắc thẩm quyền theo lãnh thổ” và “nguyên tắc thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn” trong giải quyết tranh chấp đất đai có khá nhiều quan điểm trên diễn đàn khoa học cũng như những cách tiếp cận khác nhau trong thực tiễn thi hành, trong đó đất đai là loại tài sản thuộc bất động sản (điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015). Điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, nếu tranh chấp có đối tượng là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Có ý kiến cho rằng, khi tồn tại nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp trong cùng vụ án (mỗi quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định thẩm quyền theo từng vụ việc khác nhau) thì thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án được xác định theo quan hệ pháp luật tranh chấp chính[12]. Nếu đó là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân, gia đình thì dù vợ chồng có tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất thì thẩm quyền của Tòa án vẫn được xác định theo nơi cư trú của bị đơn mà không phải là nơi có bất động sản. Trong thực tiễn, Tòa án ở các địa phương còn lúng túng trong việc xác định tranh chấp đất đai và thẩm quyền giải quyết. Có trường hợp Tòa án đã xác định một tranh chấp cụ thể là tranh chấp quyền sử dụng đất và xác định thẩm quyền của Tòa án là nơi có bất động sản nhưng sau khi thụ lý lại chuyển cho Tòa án khác vì đã có sự thay đổi trong nhận định về loại tranh chấp và thẩm quyền giải quyết.

2.2. Một số bất cập trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án

Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tác giả nhận thấy, vấn đề này còn tồn tại một số bất cập sau:

- Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013[13], có thể thấy, pháp luật đã mở rộng thẩm quyền đối với Tòa án nhân dân trong việc giải quyết những tranh chấp mà người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, việc chuyển giao phần lớn thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án sẽ gây áp lực rất lớn đối với Tòa án. Bởi lẽ, hiện nay, số lượng án tranh chấp nhà đất chiếm đa số trong án dân sự và loại án này phụ thuộc rất nhiều vào các thông tin từ phía cơ quan quản lý nơi có bất động sản, trong khi hệ thống thông tin chưa có sự kết nối liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý với nhau[14]. Đồng thời, các quy định pháp luật về tố tụng dân sự để giải quyết các loại án này rất phức tạp và Tòa án đang gặp rất nhiều khó khăn về vấn đề biên chế nguồn nhân lực.

- Về quy định hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai, theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 thì việc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải không phải là cơ chế bắt buộc trước khi Tòa án xem xét giải quyết tranh chấp đất đai. Việc này sẽ làm gia tăng số lượng vụ việc tranh chấp đất đai mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết. Vì vậy, cần phải đánh giá toàn diện quy định này, đồng thời nên có sự kế thừa Luật Đất đai năm 2013, theo đó, việc thực hiện thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở là điều kiện bắt buộc để Tòa án giải quyết tranh chấp đất đai.

3. Kiến nghị

Nhằm hoàn thiện pháp luật để khắc phục một số vướng mắc khi giải quyết tranh chấp đất đai như nêu trên, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị giải quyết vướng mắc như sau:

Một là, về thẩm quyền của Tòa án nhân dân giải quyết tranh chấp đất đai đối với tranh chấp mà các bên chưa được cấp giấy chứng nhận hoặc không có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 (Điều 137 Luật Đất đai năm 2024) nếu Tòa án nhân dân được các bên tranh chấp lựa chọn để giải quyết tranh chấp, sau khi đã thực hiện thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất mà kết quả hòa giải không thành. Trên tinh thần thống nhất áp dụng chính sách pháp luật đất đai, theo đó, chỉ cơ quan quản lý nhà nước về đất đai được pháp luật quy định có thẩm quyền giao đất cho các chủ thể quản lý, sử dụng. Vì vậy, cần xem xét, điều chỉnh thẩm quyền của Tòa án nhân dân đối với giải quyết loại tranh chấp đất đai này chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản trên đất hoặc công sức cải tạo trên loại đất này khi có yêu cầu. Xét theo từng trường hợp cụ thể, Tòa án xem xét và có thể chấp nhận tài sản, công sức của bên chủ thể được cơ quan quản lý cấp cho họ đất đang tranh chấp hoặc đối tượng khác thuộc diện chính sách hoặc không chấp nhận tài sản, công sức, thậm chí phải bồi thường, khôi phục “nguyên trạng” theo yêu cầu của cơ quan quản lý đất nhà nước vì đó là loại đất không được phép khai thác, sử dụng, như đất rừng đặc dụng, đất phòng hộ.

Hai là, về tăng cường hiệu quả của thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã, cần bổ sung một số quy định liên quan theo hướng: (i) Bổ sung quy định cho phép Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hòa giải vắng mặt, lập biên bản hòa giải có xác nhận của các tổ chức xã hội địa phương về sự vắng mặt của bên không tham gia hòa giải mặc dù đã được mời tham dự 02 lần mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và không được Ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận; (ii) Bổ sung chế tài đối với trường hợp một trong các bên thay đổi ý kiến, không chấp nhận kết quả đã được tổ chức hòa giải thành tại Ủy ban nhân dân cấp xã; (iii) Có quy trình, tiêu chí và bảng kiểm những thủ tục, nội dung cần thực hiện để hướng dẫn cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã khi thực hiện việc hòa giải tranh chấp đất đai, bảo đảm đúng quy định và tránh sai sót khi khối lượng công việc tăng.

Ba là, hướng dẫn, quy định cụ thể hơn vấn đề xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ đối với các tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất. Theo quan điểm của nhóm tác giả, tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất là tranh chấp về bất động sản, do đó, Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Bên cạnh đó, các cơ quan lập pháp cũng cần giải thích trường hợp nào là giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự và trường hợp nào là giải quyết các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai để Tòa án áp dụng một khoản thống nhất khi thụ lý đơn./.

Nguyễn Trọng Tuấn

Khoa Luật, Đại học Nguyễn Tất Thành

Phạm Thị Huyền Nga

Học viên cao học Khoa Luật, Đại học Nguyễn Tất Thành

Ảnh: internet

[1]. Nội dung này tiếp tục được quy định tại khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024.

[2]. Nội dung này tiếp tục được quy định tại Điều 137 Luật Đất đai năm 2024.

[3]. Lê Thị Bích Chi, “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án: Một số bất cập và kiến nghị”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 23 (471).

[4].“Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai”, https://pbgdpl.tayninh.gov.vn/tai-lieu-tuyen-truyen/trinh-tu-thu-tuc-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-411.html#:~:text=%C4%90%E1%BB%83%20kh%E1%BB%9Fi%20ki%E1%BB%87n%20v%E1%BB%A5%20%C3%A1n,h%E1%

BB%A3p%20ph%C3%A1p%20lu%E1%BA%ADt%20quy%20%C4%91%E1%BB%8Bnh.

[5]. Khắc Niệm, “Hướng dẫn thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai”, https://luatvietnam.vn/dat-dai-nha-o/khoi-kien-tranh-chap-dat-dai-567-25315-article.html.

[6]. Nguyễn Quốc Hưng, “Thực trạng tranh chấp đất đai hiện nay tại TP. HCM”, https://luatnguyenhung.com/thuc-trang-tranh-chap-dat-dai-hien-nay-tai-tphcm/, truy cập ngày 01/10/2023.

[7]. Quốc Bảo, “Băn khoăn Tòa án hay Ủy ban nhân dân giải quyết tranh chấp đất đai”, https://nld.com.vn/thoi-su/ban-khoan-toa-an-hay-Ủy ban nhân dân-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-20230301144916965.htm, truy cập ngày 01/3/2023.

[8]. Thụy Châu, “Cá nhân không được ngăn chặn công chứng”, https://plo.vn/ban-doc/ca-nhan-khong-duoc-ngan-chan-cong-chung-251216.html, truy cập ngày 13/4/2023.

[9]. Nội dung này tiếp tục được quy định tại Điều 235 Luật Đất đai năm 2024.

[10]. Huỳnh Thị Kim Thoa, “Hoàn thiện quy định của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình trong kinh tế số”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10 (482), tháng 5/2023.

[11]. Bản án số 47/2021/DS-PT về việc tranh chấp quyền sở hữu tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[12]. Minh Tuấn, “Vướng mắc, bất cập, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/vuongmac-bat-cap-kien-nghi-hoan-thien-phap-luat-vetham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai-theothu-tuc-to-tung-dan-su.

[13]. Quy định này tiếp tục được kế thừa tại khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai năm 2024.

[14]. Tài liệu góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) các vấn đề liên quan đến tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh”, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.

Theo dõi chúng tôi trên: