Thứ hai 25/05/2026 20:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam

Bài viết tập trung nghiên cứu, đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam hiện nay.

Đặt vấn đề

Trên thế giới, giải quyết tranh chấp (GQTC) kinh doanh, thương mại (KDTM) theo phương thức hòa giải và trọng tài hay còn gọi là phương thức GQTC tư, phương thức GQTC ngoài Tòa án, phương thức thay thế khác (ADR)[1] có nhiều ưu điểm như tiết kiệm thời gian, chi phí, bảo mật, giúp các bên có thể duy trì mối quan hệ thương mại nên thường được các bên tranh chấp lựa chọn áp dụng. GQTC KDTM theo phương thức ADR đã xuất hiện từ rất lâu, phổ biến, hoạt động hiệu quả và phát triển mạnh ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Để hài hòa pháp luật, thúc đẩy việc GQTC theo phương thức ADR phát triển, Ủy ban Liên hợp quốc về Thương mại quốc tế (Uncitral) đã ban hành Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế từ năm 1985 (được sửa đổi, bổ sung năm 2006) (Luật Mẫu về trọng tài của Uncitral) và Luật Mẫu về hòa giải thương mại quốc tế và Thỏa thuận hòa giải quốc tế năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) (Luật Mẫu về hòa giải của Uncitral).

Đối với Việt Nam, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, thay thế Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 1993, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại (Nghị định số 22/2017/NĐ-CP) cùng với các văn bản quy phạm pháp luật khác như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và các luật sửa đổi, bổ sung... tạo thành hệ thống các văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc GQTC KDTM theo phương thức ADR phát triển. Tuy nhiên, qua hơn 13 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và hơn 07 năm thi hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, nhất là qua thực tế GQTC cho thấy, hệ thống văn bản pháp luật về GQTC KDTM còn nhiều điểm bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thực sự phù hợp với thực tế, chưa tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động GQTC KDTM theo cơ chế ADR phát triển. Nhằm góp phần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bài viết phân tích và đề xuất một số định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài để phù hợp với các Luật Mẫu, thông lệ quốc tế và nhất là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài phải bảo đảm các định hướng cơ bản sau:

Thứ nhất, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để thúc đẩy việc GQTC KDTM theo phương thức ADR nhằm giảm tải áp lực giải quyết công việc cho hệ thống Tòa án, phù hợp với thông lệ quốc tế, thúc đẩy đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia như: “Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế (trọng tài, hoà giải) phù hợp với tập quán thương mại quốc tế. Tham gia các điều ước quốc tế đa phương về tương trợ tư pháp, nhất là các điều ước liên quan tới việc công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, quyết định trọng tài thương mại”[2]; “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”[3]; “nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động hòa giải, trọng tài thương mại”[4]; “kết hợp các phương thức phi tố tụng tư pháp với phương pháp tố tụng tư pháp”[5]. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài phải phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về hội nhập quốc tế…

Thứ hai, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi cao.

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, tránh mâu thuẫn, chồng chéo, dễ hiểu, dễ áp dụng, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi cao là yêu cầu, đòi hỏi bắt buộc của Việt Nam trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Vì vậy, Việt Nam cần phải nghiên cứu xây dựng Luật Hòa giải thương mại; hoàn thiện Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến GQTC KDTM bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ. Đồng thời, các văn bản pháp luật được ban hành phải giải quyết được các tranh chấp KDTM phát sinh trên thực tế, phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung và phải rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, tránh hiểu theo đa nghĩa... để áp dụng thống nhất, đồng bộ trên thực tế.

Thứ ba, bảo đảm phù hợp pháp luật và thông lệ quốc tế.

Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục hội nhập sâu, rộng, toàn diện vào đời sống quốc tế nên hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài nói riêng cần phải được xây dựng, hoàn thiện bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia và phải hài hòa với pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam được ban hành sau Luật Mẫu về hòa giải của Uncitral và Luật Mẫu về trọng tài của Uncitral nên nhiều điều, khoản của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam đã quy định theo các Luật Mẫu đó nhưng Việt Nam chưa được coi là quốc gia áp dụng các Luật Mẫu của Uncitral[6]. Vì vậy, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần được sửa đổi, hoàn thiện phù hợp với các Luật Mẫu của Uncitral để thúc đẩy việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài, qua đó tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư kinh doanh, thu hút các nguồn lực đầu tư, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các Luật Mẫu của Uncitral cũng chưa bao quát được hết những vấn đề có liên quan đến việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài nên Việt Nam cần phải nghiên cứu, học hỏi thêm các quy định pháp luật về hòa giải và trọng tài của một số nước để xây dựng, hoàn thiện pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài, phù hợp với bối cảnh, đặc thù của Việt Nam. Đặc biệt, pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài của Việt Nam phải phù hợp với các cam kết quốc tế, các công ước, tổ chức quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài.

2. Một số kiến nghị, đề xuất cụ thể hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài

2.1. Mở rộng và quy định cụ thể, rõ hơn phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của hòa giải, trọng tài thương mại

Điều 2 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định hòa giải thương mại, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp: (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại, trọng tài. Qua thực tiễn GQTC cho thấy, còn có những cách hiểu, áp dụng khác nhau về quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Có quan điểm cho rằng, với các quy định này thì chỉ cần một bên tranh chấp có hoạt động thương mại thì tranh chấp đó có thể được giải quyết theo phương thức hòa giải, trọng tài mà không phụ thuộc vào bản chất của quan hệ tranh chấp có liên quan đến hoạt động thương mại hay không. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, quy định tại khoản 2 Điều 2 vẫn phải phù hợp với tinh thần chung của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, đó là tranh chấp phải liên quan đến hoạt động thương mại. Cho nên, khi xem xét tranh chấp có thuộc thẩm quyền giải quyết của hòa giải thương mại, trọng tài hay không thì phải quan tâm đến cả chủ thể các bên tranh chấp và bản chất của tranh chấp. Điều này có nghĩa, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của hòa giải thương mại, trọng tài phải đáp ứng đầy đủ cả hai yếu tố về chủ thể và về bản chất. Về chủ thể thì ít nhất một bên có hoạt động thương mại và về bản chất tranh chấp thì phải liên quan đến hoạt động thương mại.

Đồng thời, Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài. Tuy nhiên, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chưa quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết của trọng tài đối với những tranh chấp mà chỉ có một bên có hoạt động thương mại và các tranh chấp không có tính thương mại hoặc tranh chấp dân sự khác, thậm chí, có quan điểm cho rằng, nên mở rộng thẩm quyền của trọng tài đối với cả tranh chấp lao động[7].

Vì vậy, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần sửa đổi, quy định theo hướng mở rộng hơn, cụ thể và rõ hơn về phạm vi thẩm quyền GQTC của hòa giải thương mại, trọng tài, tôn trọng tự do ý chí thỏa thuận giữa các bên tranh chấp. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 nên quy định thẩm quyền của hòa giải thương mại, trọng tài theo phương pháp chọn bỏ và mở rộng tối đa thẩm quyền của hòa giải thương mại, trọng tài ra tất cả các lĩnh vực và chỉ loại trừ một số tranh chấp mà pháp luật không cho phép GQTC theo phương thức hòa giải hoặc trọng tài. Vì thế, các đạo luật khác chỉ cần quy định những tranh chấp không được giải quyết theo phương thức hòa giải và trọng tài. Việc quy định và mở rộng phạm vi thẩm quyền GQTC của hòa giải thương mại, trọng tài như vậy sẽ khắc phục được tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, vừa thiếu, lại vừa thừa trong các văn bản pháp luật hiện nay và phù hợp với phạm vi giải quyết của các Luật Mẫu vì thuật ngữ thương mại theo các Luật Mẫu được hiểu theo nghĩa rộng.

2.2. Hoàn thiện các quy định về hòa giải viên thương mại, trọng tài viên

Các quy định về hòa giải viên thương mại và trọng tài viên cần phải được hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể, rõ hơn, mang tính định lượng và chú trọng vào các tiêu chuẩn, điều kiện để nâng cao chất lượng GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài.

- Đối với hòa giải viên thương mại: Các quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại tại Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP còn chung chung, mang tính định tính, chưa chú trọng vào việc nâng cao chất lượng hòa giải. Vì thế, để nâng cao chất lượng GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP sửa đổi cần quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại cụ thể, rõ hơn, đưa ra các tiêu chuẩn mang tính định lượng, hạn chế tiêu chuẩn mang tính định tính và chú trọng vào các tiêu chuẩn về năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng của hòa giải viên như đã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ về hòa giải. Đồng thời, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP sửa đổi cần quy định về nội dung chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng cho hòa giải viên và mở rộng đối tượng được làm hòa giải viên thương mại như các chuyên gia pháp luật, giảng viên giảng dạy luật, công chứng viên, luật sư… để thu hút được những người có kiến thức, có kỹ năng, nghiệp vụ về pháp luật, về thực tiễn xã hội, hoạt động KDTM tham gia làm hòa giải viên.

- Đối với trọng tài viên: Để nâng cao chất lượng GQTC KDTM theo phương thức trọng tài, cần phải nâng cao chất lượng trọng tài viên. Vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần bổ sung và quy định trọng tài viên phải có năng lực trình độ chuyên môn tốt, có đạo đức nghề nghiệp, giàu kinh nghiệm thực tiễn, có kiến thức pháp luật, đã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ về GQTC theo phương thức trọng tài. Cho nên, những người chưa có kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ về công tác pháp luật như các thương nhân, kỹ sư…, những người chưa có kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ về GQTC mà muốn trở thành trọng tài viên thì cần phải tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về trọng tài với thời gian từ 04 đến 06 tháng.

Đồng thời, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần quy định các biện pháp quản lý của Nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các trung tâm trọng tài trong việc thực hiện các biện pháp để bảo đảm nâng cao chất lượng chuyên môn của trọng tài viên.

2.3. Bổ sung các quy định về áp dụng công nghệ thông tin trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài

Hiện nay, chuyển đổi số trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mọi quốc gia và tổ chức trên thế giới. Ở Việt Nam, Tòa án đã thực hiện Tòa án điện tử và GQTC trực tuyến. Đồng thời, một số Trung tâm trọng tài ở Việt Nam đã quy định trong Quy tắc tố tụng trọng tài về hình thức phiên họp trực tuyến như khoản 2 Điều 25 Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam quy định: “Hội đồng Trọng tài có thể tiến hành phiên họp giải quyết vụ tranh chấp bằng hình thức teleconference, video-conference hoặc các hình thức thích hợp khác nếu các bên có thỏa thuận”; hay Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hà Nội quy định về GQTC trực tuyến đối với các tranh chấp thương mại điện tử giá trị nhỏ (dưới 30 triệu), các tranh chấp tiêu dùng giá trị nhỏ (dưới 30 triệu), các tranh chấp thương mại xuyên biên giới (theo sự lựa chọn hình thức của các bên) hoặc các tranh chấp KDTM khác tại Việt Nam (giá trị dưới 30 triệu hoặc không giới hạn giá trị nếu các bên đều có chữ ký số).

Khảo cứu cho thấy, trên thế giới, nhiều nước cũng như nhiều trung tâm hòa giải, trung tâm trọng tài đã quy định về việc GQTC theo phương thức hòa giải, trọng tài bằng hình thức trực tuyến như: Ủy ban Trọng tài thương mại và Kinh tế quốc tế Trung Quốc (CIETAC), Tòa Trọng tài Quốc tế Thẩm Quyến (SCIA), Trung tâm Trọng tài Istanbul (ISTAC)… Đặc biệt, nghiên cứu cho thấy, việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài rất phù hợp với các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại điện tử đang phổ biến và phát triển mạnh mẽ hiện nay.

Vì vậy, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần sửa đổi, bổ sung quy định về việc áp dụng, ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin và quy định cụ thể các yêu cầu, điều kiện bảo đảm về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, bảo mật thông tin, an toàn an ninh mạng trong việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài bằng trực tuyến để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu quả GQTC và tiết kiệm chi phí cho các bên.

2.4. Hoàn thiện một số quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp theo phương thức hòa giải và trọng tài

2.4.1. Về việc giải quyết tranh chấp theo phương thức hòa giải

Thứ nhất, Việt Nam cần tổng kết đánh giá Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và tiến tới xây dựng Luật Hòa giải thương mại để quy định các vấn đề có liên quan đến hoạt động hòa giải giải thương mại theo Luật Mẫu, phù hợp với pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế và điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật hiện nay về việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải.

Luật Hòa giải thương mại cần bổ sung nguyên tắc tự quyết trong GQTC bằng hòa giải thương mại vì đây là nguyên tắc phản ánh rõ nhất bản chất khác biệt giữa hòa giải thương mại với trọng tài thương mại và các phương thức GQTC khác.

Thứ hai, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chưa quy định rõ về thời điểm bắt đầu thủ tục hòa giải là từ khi nào, cho nên, khi xây dựng Luật Hòa giải thương mại cần quy định thủ tục hòa giải được coi là bắt đầu vào thời điểm các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận về việc tiến hành thủ tục hòa giải. Trường hợp bên đưa ra đề nghị hòa giải mà không nhận được trả lời đồng ý của các bên còn lại trong vòng 30 ngày kể từ ngày gửi đề nghị hòa giải hoặc trong thời hạn khác được ghi rõ trong đề nghị thì có nghĩa là bên/các bên được đề nghị từ chối tiến hành hòa giải. Việc quy định rõ, cụ thể thời điểm bắt đầu thủ tục hòa giải như vậy sẽ tạo điều kiện cho việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải trên thực tế hiện nay và phù hợp với Luật Mẫu cũng như thông lệ quốc tế.

Thứ ba, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP mới chỉ quy định về nghĩa vụ của hòa giải viên thương mại trong việc bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp và cấm tiết lộ thông tin vụ việc, khách hàng mà hòa giải viên thương mại biết được trong quá trình hòa giải trừ trường hợp được các bên chấp thuận đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, các quy định này còn rất chung chung, chưa cụ thể, chưa rõ ràng[8]. Vì thế, khi xây dựng Luật Hòa giải thương mại cần quy định rõ, cụ thể hơn về nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức hòa giải và của hòa giải viên trong việc bảo mật các thông tin, tài liệu, chứng cứ, việc trao đổi giữa các bên, biên bản làm việc… liên quan đến vụ việc tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Việc pháp luật quy định cụ thể, chi tiết về việc bảo mật thông tin sẽ giúp cho các bên tranh chấp tin tưởng, cởi mở hơn trong việc cung cấp thông tin và dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm giải pháp hòa giải và thực thi kết quả hòa giải được nhanh chóng, hiệu quả.

Thứ tư, hiện nay, các điều kiện để công nhận kết quả hòa giải thành được quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mới chỉ đề cập đến các điều kiện về các bên tranh chấp mà không đề cập đến các điều kiện về hòa giải viên. Vì thế, trong trường hợp các bên lựa chọn một hòa giải viên thương mại mà không bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định tại Nghị định số 22/2017/NĐ-CP thì Tòa án có ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành hay không. Đồng thời, việc pháp luật không quy định điều kiện hòa giải viên là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận kết quả hòa giải thành đã làm cho các quy định về tiêu chuẩn của hòa giải viên thương mại trong Nghị định số 22/2017/NĐ-CP không còn nhiều ý nghĩa vì việc lựa chọn hòa giải viên thương mại có đủ hay không đủ tiêu chuẩn thì kết quả hòa giải thành có thể vẫn sẽ được công nhận. Vì thế, khi xây dựng Luật Hòa giải thương mại và sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần hoàn thiện các quy định về việc công nhận kết quả hòa giải thành, trong đó có các quy định về các điều kiện, tiêu chuẩn của hòa giải viên thương mại. Đồng thời, các quy định về việc công nhận kết quả hòa giải thành cần phải mang tiêu chuẩn quốc tế, thông lệ quốc tế để thúc đẩy hoạt động GQTC KDTM theo phương thức hòa giải.

2.4.2. Về thủ tục giải quyết tranh chấp theo phương thức trọng tài

Thứ nhất, bổ sung và hoàn thiện quy định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài: Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chưa quy định về việc trọng tài được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi Hội đồng trọng tài được thành lập, trong khi đó, các bên tranh chấp mà đề nghị Tòa án tham gia hỗ trợ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài gặp rất nhiều khó khăn. Đồng thời, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà trọng tài được áp dụng còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp với thực tế hiện nay và chưa có cơ chế thi hành các quy định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài viên. Vì thế, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần:

- Bổ sung các quy định về trọng tài viên khẩn cấp tạm thời và cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước thời điểm Hội đồng trọng tài được thành lập để phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp Hội đồng trọng tài chưa được thành lập.

- Sửa đổi Điều 49 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 theo hướng Hội đồng trọng tài có quyền áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tương tự như thẩm quyền của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để nâng cao chất lượng GQTC KDTM theo phương thức trọng tài.

- Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần bổ sung quy định về điều kiện áp dụng và cơ chế thi hành các quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài viên.

- Ngoài ra, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 không nên quy định quá chi tiết, cụ thể về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài viên mà trao quyền cho các trung tâm trọng tài quy định để tạo sự linh hoạt trong hoạt động.

Thứ hai, bổ sung người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia GQTC KDTM theo phương thức trọng tài. Khoản 3 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chỉ quy định người tham gia tố tụng trọng tài là nguyên đơn, bị đơn mà không quy định về người có quyền, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trọng tài. Tuy nhiên, trong nhiều vụ việc tranh chấp, ngoài nguyên đơn, bị đơn còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cần phải tham gia tố tụng trọng tài thì mới bảo đảm được quyền lợi cho các bên có liên quan. Vì thế, khoản 3 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần sửa đổi và bổ sung các bên tham gia giải quyết tranh chấp bằng trọng phải bao gồm cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Thứ ba, bổ sung quy định về thủ tục trọng tài rút gọn: Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chưa có quy định về thủ tục trọng tài rút gọn nên chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho các trung tâm trọng tài áp dụng để giải quyết, nhất là các vụ tranh chấp đơn giản, có giá trị nhỏ, nên chưa thúc đẩy việc GQTC KDTM mại theo phương thức trọng tài. Nghiên cứu cho thấy, nhiều trung tâm trọng tài trên thế giới đã quy định trong quy tắc tố tụng trọng tài và áp dụng thủ tục trọng tài rút gọn với thời gian ngắn hơn, chi phí thấp hơn so với thủ tục trọng tài thông thường để áp dụng đối với các vụ việc đơn giản. Vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần quy định về thủ tục tố tụng trọng tài rút gọn để tạo cơ sở pháp lý cho các trung tâm trọng tài thực hiện, có như vậy mới tạo điều kiện và thúc đẩy việc GQTC KDTM theo phương thức trọng tài phát triển.

Thứ tư, cần hoàn thiện quy định về mất quyền phản đối: Điều 13 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định, trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định thì mất quyền phản đối tại trọng tài hoặc Tòa án. Điều này có nghĩa là một bên sẽ mất quyền phản đối nếu bên đó phát hiện vi phạm mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối. Tuy nhiên, trong trường hợp bên phát hiện vi phạm không phản đối và quyết định không tham gia tố tụng trọng tài nữa thì sẽ giải quyết như thế nào. Vì thế, Điều 13 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần quy định bổ sung về việc một bên sẽ mất quyền phản đối tại trọng tài hoặc Tòa án nếu bên đó phát hiện có vi phạm quy định của Luật Trọng tài thương mại hoặc của thỏa thuận trọng tài mà không phản đối những vi phạm đó trong thời hạn do pháp luật quy định cho dù bên đó lựa chọn không tham gia tố tụng trọng tài nữa.

Thứ năm, hoàn thiện về nội dung phán quyết và thời hạn ban hành phán quyết: Điểm c khoản 1 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định nội dung phán quyết trọng tài phải có nội dung chủ yếu “địa chỉ của trọng tài viên” là không cần thiết và đặc biệt, không nên coi đây là nội dung chủ yếu trong phán quyết trọng tài vì nếu coi là nội dung chủ yếu mà thiếu nội dung này sẽ bị coi là vi phạm tố tụng trọng tài. Nghiên cứu Luật Mẫu về trọng tài của Uncitral và pháp luật trọng tài của nhiều nước trên thế giới đều cho thấy không có quy định này. Đồng thời, khoản 3 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định phán quyết trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng, nghiên cứu Luật Mẫu về trọng tài của Uncitral và pháp luật trọng tài của nhiều nước cũng cho thấy không quy định thời hạn phải lập phán quyết trọng tài. Thực tiễn giải quyết tranh chấp có nhiều vụ việc phức tạp, nhiều trường hợp Hội đồng trọng tài không thể ban hành phán quyết trong thời hạn 30 ngày. Vì vậy, khoản 1 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần bỏ quy định nội dung phán quyết trọng tài phải có nội dung “địa chỉ của trọng tài viên” và khoản 3 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần nghiên cứu kéo dài thời hạn ban hành phán quyết trọng tài hoặc cho phép Hội đồng trọng tài được quyền gia hạn thời hạn ban hành phán quyết trọng tài đối với những vụ việc phức tạp thay vì quy định cố định 30 ngày như quy định hiện nay.

Ngoài ra, Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định căn cứ để xem xét, hủy phán quyết trọng tài chưa rõ ràng, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất trên thực tế, nhất là căn cứ “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Khảo cứu cho thấy, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là những nguyên tắc nào nên quy định này có thể dẫn việc hiểu, áp dụng khác nhau trên thực tế. Vì thế, Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần nghiên cứu và quy định rõ nội dung các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là những nội dung gì và những nguyên tắc nào để thuận lợi cho việc áp dụng thống nhất trên thực tế.

Kết luận

Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý, góp phần quan trọng, tích cực thúc đẩy việc GQTC ngoài Tòa án tại Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, quá trình thực hiện trên thực tế cho thấy, pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài đã bộc lộ một số bất cập, chưa thực sự phù hợp với thực tế, chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu GQTC KDTM như quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, quy định về hòa giải viên, trọng tài viên, về thủ tục… Đồng thời, mặc dù được ban hành sau các Luật Mẫu nhưng nhiều điều khoản của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định chưa thực sự phù hợp với các Luật Mẫu và thông lệ quốc tế nên Việt Nam vẫn chưa được xem là quốc gia theo Luật Mẫu. Điều này tạo ra rào cản tương đối lớn cho hội nhập quốc tế khi Việt Nam chưa có cơ chế GQTC KDTM phù hợp với khung pháp lý chung toàn cầu. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài ở Việt Nam hiện nay phù hợp với Luật Mẫu, thông lệ quốc tế và nhất là phù hợp với thực tiễn là rất cần thiết./.

TS. Trương Thế Côn

Học viện Tư pháp

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

3. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại.

4. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

5. Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 03/10/2017 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

6. Nghị quyết số 19/2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo.

7. Báo cáo phát triển Việt Nam (2010), Các thể chế hiện đại, Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, ngày 03 - 04/12/2009, Hà Nội.

8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nhóm Ngân hàng Thế giới (2016), Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.

9. Đỗ Văn Đại, Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức, 2023.

10. Eurocham (2017), Sách Trắng - Các vấn đề thương mại và đầu tư và kiến nghị, Ấn bản lần thứ 9, www.eurochamvn.org/whitebook.

11. Eurocham (2018), Sách Trắng - Các vấn đề thương mại và đầu tư và kiến nghị, Ấn bản lần thứ 9, www.eurochamvn.org/whitebook.

12. Học viện Tư pháp, Tài liệu Hội thảo khoa học “Thực trạng và định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam”, Hà Nội, tháng 5/2024.

13. Hội Luật gia Việt Nam (2022), Báo cáo nghiên cứu, rà soát Luật Trọng tài thương mại số 343/BC-HLGVN ngày 20/12/2022.

14. World Bank Group (2019), Doing Business 2019, Training for Reform, trên www.doingbusiness.com, truy cập 20/5/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: