Thứ hai 26/10/2026 23:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam

Bài viết tập trung nghiên cứu, đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam hiện nay.

Đặt vấn đề

Trên thế giới, giải quyết tranh chấp (GQTC) kinh doanh, thương mại (KDTM) theo phương thức hòa giải và trọng tài hay còn gọi là phương thức GQTC tư, phương thức GQTC ngoài Tòa án, phương thức thay thế khác (ADR)[1] có nhiều ưu điểm như tiết kiệm thời gian, chi phí, bảo mật, giúp các bên có thể duy trì mối quan hệ thương mại nên thường được các bên tranh chấp lựa chọn áp dụng. GQTC KDTM theo phương thức ADR đã xuất hiện từ rất lâu, phổ biến, hoạt động hiệu quả và phát triển mạnh ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Để hài hòa pháp luật, thúc đẩy việc GQTC theo phương thức ADR phát triển, Ủy ban Liên hợp quốc về Thương mại quốc tế (Uncitral) đã ban hành Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế từ năm 1985 (được sửa đổi, bổ sung năm 2006) (Luật Mẫu về trọng tài của Uncitral) và Luật Mẫu về hòa giải thương mại quốc tế và Thỏa thuận hòa giải quốc tế năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) (Luật Mẫu về hòa giải của Uncitral).

Đối với Việt Nam, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, thay thế Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 1993, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại (Nghị định số 22/2017/NĐ-CP) cùng với các văn bản quy phạm pháp luật khác như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và các luật sửa đổi, bổ sung... tạo thành hệ thống các văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc GQTC KDTM theo phương thức ADR phát triển. Tuy nhiên, qua hơn 13 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và hơn 07 năm thi hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, nhất là qua thực tế GQTC cho thấy, hệ thống văn bản pháp luật về GQTC KDTM còn nhiều điểm bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thực sự phù hợp với thực tế, chưa tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động GQTC KDTM theo cơ chế ADR phát triển. Nhằm góp phần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bài viết phân tích và đề xuất một số định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài để phù hợp với các Luật Mẫu, thông lệ quốc tế và nhất là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài phải bảo đảm các định hướng cơ bản sau:

Thứ nhất, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để thúc đẩy việc GQTC KDTM theo phương thức ADR nhằm giảm tải áp lực giải quyết công việc cho hệ thống Tòa án, phù hợp với thông lệ quốc tế, thúc đẩy đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia như: “Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế (trọng tài, hoà giải) phù hợp với tập quán thương mại quốc tế. Tham gia các điều ước quốc tế đa phương về tương trợ tư pháp, nhất là các điều ước liên quan tới việc công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, quyết định trọng tài thương mại”[2]; “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”[3]; “nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động hòa giải, trọng tài thương mại”[4]; “kết hợp các phương thức phi tố tụng tư pháp với phương pháp tố tụng tư pháp”[5]. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài phải phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về hội nhập quốc tế…

Thứ hai, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi cao.

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, tránh mâu thuẫn, chồng chéo, dễ hiểu, dễ áp dụng, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi cao là yêu cầu, đòi hỏi bắt buộc của Việt Nam trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Vì vậy, Việt Nam cần phải nghiên cứu xây dựng Luật Hòa giải thương mại; hoàn thiện Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến GQTC KDTM bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ. Đồng thời, các văn bản pháp luật được ban hành phải giải quyết được các tranh chấp KDTM phát sinh trên thực tế, phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung và phải rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, tránh hiểu theo đa nghĩa... để áp dụng thống nhất, đồng bộ trên thực tế.

Thứ ba, bảo đảm phù hợp pháp luật và thông lệ quốc tế.

Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục hội nhập sâu, rộng, toàn diện vào đời sống quốc tế nên hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài nói riêng cần phải được xây dựng, hoàn thiện bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia và phải hài hòa với pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam được ban hành sau Luật Mẫu về hòa giải của Uncitral và Luật Mẫu về trọng tài của Uncitral nên nhiều điều, khoản của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam đã quy định theo các Luật Mẫu đó nhưng Việt Nam chưa được coi là quốc gia áp dụng các Luật Mẫu của Uncitral[6]. Vì vậy, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần được sửa đổi, hoàn thiện phù hợp với các Luật Mẫu của Uncitral để thúc đẩy việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài, qua đó tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư kinh doanh, thu hút các nguồn lực đầu tư, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các Luật Mẫu của Uncitral cũng chưa bao quát được hết những vấn đề có liên quan đến việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài nên Việt Nam cần phải nghiên cứu, học hỏi thêm các quy định pháp luật về hòa giải và trọng tài của một số nước để xây dựng, hoàn thiện pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài, phù hợp với bối cảnh, đặc thù của Việt Nam. Đặc biệt, pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài của Việt Nam phải phù hợp với các cam kết quốc tế, các công ước, tổ chức quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài.

2. Một số kiến nghị, đề xuất cụ thể hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài

2.1. Mở rộng và quy định cụ thể, rõ hơn phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của hòa giải, trọng tài thương mại

Điều 2 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định hòa giải thương mại, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp: (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại, trọng tài. Qua thực tiễn GQTC cho thấy, còn có những cách hiểu, áp dụng khác nhau về quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Có quan điểm cho rằng, với các quy định này thì chỉ cần một bên tranh chấp có hoạt động thương mại thì tranh chấp đó có thể được giải quyết theo phương thức hòa giải, trọng tài mà không phụ thuộc vào bản chất của quan hệ tranh chấp có liên quan đến hoạt động thương mại hay không. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, quy định tại khoản 2 Điều 2 vẫn phải phù hợp với tinh thần chung của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, đó là tranh chấp phải liên quan đến hoạt động thương mại. Cho nên, khi xem xét tranh chấp có thuộc thẩm quyền giải quyết của hòa giải thương mại, trọng tài hay không thì phải quan tâm đến cả chủ thể các bên tranh chấp và bản chất của tranh chấp. Điều này có nghĩa, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của hòa giải thương mại, trọng tài phải đáp ứng đầy đủ cả hai yếu tố về chủ thể và về bản chất. Về chủ thể thì ít nhất một bên có hoạt động thương mại và về bản chất tranh chấp thì phải liên quan đến hoạt động thương mại.

Đồng thời, Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài. Tuy nhiên, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chưa quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết của trọng tài đối với những tranh chấp mà chỉ có một bên có hoạt động thương mại và các tranh chấp không có tính thương mại hoặc tranh chấp dân sự khác, thậm chí, có quan điểm cho rằng, nên mở rộng thẩm quyền của trọng tài đối với cả tranh chấp lao động[7].

Vì vậy, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần sửa đổi, quy định theo hướng mở rộng hơn, cụ thể và rõ hơn về phạm vi thẩm quyền GQTC của hòa giải thương mại, trọng tài, tôn trọng tự do ý chí thỏa thuận giữa các bên tranh chấp. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 nên quy định thẩm quyền của hòa giải thương mại, trọng tài theo phương pháp chọn bỏ và mở rộng tối đa thẩm quyền của hòa giải thương mại, trọng tài ra tất cả các lĩnh vực và chỉ loại trừ một số tranh chấp mà pháp luật không cho phép GQTC theo phương thức hòa giải hoặc trọng tài. Vì thế, các đạo luật khác chỉ cần quy định những tranh chấp không được giải quyết theo phương thức hòa giải và trọng tài. Việc quy định và mở rộng phạm vi thẩm quyền GQTC của hòa giải thương mại, trọng tài như vậy sẽ khắc phục được tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, vừa thiếu, lại vừa thừa trong các văn bản pháp luật hiện nay và phù hợp với phạm vi giải quyết của các Luật Mẫu vì thuật ngữ thương mại theo các Luật Mẫu được hiểu theo nghĩa rộng.

2.2. Hoàn thiện các quy định về hòa giải viên thương mại, trọng tài viên

Các quy định về hòa giải viên thương mại và trọng tài viên cần phải được hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể, rõ hơn, mang tính định lượng và chú trọng vào các tiêu chuẩn, điều kiện để nâng cao chất lượng GQTC KDTM theo phương thức hòa giải và trọng tài.

- Đối với hòa giải viên thương mại: Các quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại tại Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP còn chung chung, mang tính định tính, chưa chú trọng vào việc nâng cao chất lượng hòa giải. Vì thế, để nâng cao chất lượng GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP sửa đổi cần quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại cụ thể, rõ hơn, đưa ra các tiêu chuẩn mang tính định lượng, hạn chế tiêu chuẩn mang tính định tính và chú trọng vào các tiêu chuẩn về năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng của hòa giải viên như đã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ về hòa giải. Đồng thời, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP sửa đổi cần quy định về nội dung chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng cho hòa giải viên và mở rộng đối tượng được làm hòa giải viên thương mại như các chuyên gia pháp luật, giảng viên giảng dạy luật, công chứng viên, luật sư… để thu hút được những người có kiến thức, có kỹ năng, nghiệp vụ về pháp luật, về thực tiễn xã hội, hoạt động KDTM tham gia làm hòa giải viên.

- Đối với trọng tài viên: Để nâng cao chất lượng GQTC KDTM theo phương thức trọng tài, cần phải nâng cao chất lượng trọng tài viên. Vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần bổ sung và quy định trọng tài viên phải có năng lực trình độ chuyên môn tốt, có đạo đức nghề nghiệp, giàu kinh nghiệm thực tiễn, có kiến thức pháp luật, đã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ về GQTC theo phương thức trọng tài. Cho nên, những người chưa có kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ về công tác pháp luật như các thương nhân, kỹ sư…, những người chưa có kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ về GQTC mà muốn trở thành trọng tài viên thì cần phải tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về trọng tài với thời gian từ 04 đến 06 tháng.

Đồng thời, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần quy định các biện pháp quản lý của Nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các trung tâm trọng tài trong việc thực hiện các biện pháp để bảo đảm nâng cao chất lượng chuyên môn của trọng tài viên.

2.3. Bổ sung các quy định về áp dụng công nghệ thông tin trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài

Hiện nay, chuyển đổi số trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mọi quốc gia và tổ chức trên thế giới. Ở Việt Nam, Tòa án đã thực hiện Tòa án điện tử và GQTC trực tuyến. Đồng thời, một số Trung tâm trọng tài ở Việt Nam đã quy định trong Quy tắc tố tụng trọng tài về hình thức phiên họp trực tuyến như khoản 2 Điều 25 Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam quy định: “Hội đồng Trọng tài có thể tiến hành phiên họp giải quyết vụ tranh chấp bằng hình thức teleconference, video-conference hoặc các hình thức thích hợp khác nếu các bên có thỏa thuận”; hay Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hà Nội quy định về GQTC trực tuyến đối với các tranh chấp thương mại điện tử giá trị nhỏ (dưới 30 triệu), các tranh chấp tiêu dùng giá trị nhỏ (dưới 30 triệu), các tranh chấp thương mại xuyên biên giới (theo sự lựa chọn hình thức của các bên) hoặc các tranh chấp KDTM khác tại Việt Nam (giá trị dưới 30 triệu hoặc không giới hạn giá trị nếu các bên đều có chữ ký số).

Khảo cứu cho thấy, trên thế giới, nhiều nước cũng như nhiều trung tâm hòa giải, trung tâm trọng tài đã quy định về việc GQTC theo phương thức hòa giải, trọng tài bằng hình thức trực tuyến như: Ủy ban Trọng tài thương mại và Kinh tế quốc tế Trung Quốc (CIETAC), Tòa Trọng tài Quốc tế Thẩm Quyến (SCIA), Trung tâm Trọng tài Istanbul (ISTAC)… Đặc biệt, nghiên cứu cho thấy, việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài rất phù hợp với các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại điện tử đang phổ biến và phát triển mạnh mẽ hiện nay.

Vì vậy, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần sửa đổi, bổ sung quy định về việc áp dụng, ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin và quy định cụ thể các yêu cầu, điều kiện bảo đảm về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, bảo mật thông tin, an toàn an ninh mạng trong việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài bằng trực tuyến để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu quả GQTC và tiết kiệm chi phí cho các bên.

2.4. Hoàn thiện một số quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp theo phương thức hòa giải và trọng tài

2.4.1. Về việc giải quyết tranh chấp theo phương thức hòa giải

Thứ nhất, Việt Nam cần tổng kết đánh giá Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và tiến tới xây dựng Luật Hòa giải thương mại để quy định các vấn đề có liên quan đến hoạt động hòa giải giải thương mại theo Luật Mẫu, phù hợp với pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế và điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật hiện nay về việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải.

Luật Hòa giải thương mại cần bổ sung nguyên tắc tự quyết trong GQTC bằng hòa giải thương mại vì đây là nguyên tắc phản ánh rõ nhất bản chất khác biệt giữa hòa giải thương mại với trọng tài thương mại và các phương thức GQTC khác.

Thứ hai, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chưa quy định rõ về thời điểm bắt đầu thủ tục hòa giải là từ khi nào, cho nên, khi xây dựng Luật Hòa giải thương mại cần quy định thủ tục hòa giải được coi là bắt đầu vào thời điểm các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận về việc tiến hành thủ tục hòa giải. Trường hợp bên đưa ra đề nghị hòa giải mà không nhận được trả lời đồng ý của các bên còn lại trong vòng 30 ngày kể từ ngày gửi đề nghị hòa giải hoặc trong thời hạn khác được ghi rõ trong đề nghị thì có nghĩa là bên/các bên được đề nghị từ chối tiến hành hòa giải. Việc quy định rõ, cụ thể thời điểm bắt đầu thủ tục hòa giải như vậy sẽ tạo điều kiện cho việc GQTC KDTM theo phương thức hòa giải trên thực tế hiện nay và phù hợp với Luật Mẫu cũng như thông lệ quốc tế.

Thứ ba, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP mới chỉ quy định về nghĩa vụ của hòa giải viên thương mại trong việc bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp và cấm tiết lộ thông tin vụ việc, khách hàng mà hòa giải viên thương mại biết được trong quá trình hòa giải trừ trường hợp được các bên chấp thuận đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, các quy định này còn rất chung chung, chưa cụ thể, chưa rõ ràng[8]. Vì thế, khi xây dựng Luật Hòa giải thương mại cần quy định rõ, cụ thể hơn về nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức hòa giải và của hòa giải viên trong việc bảo mật các thông tin, tài liệu, chứng cứ, việc trao đổi giữa các bên, biên bản làm việc… liên quan đến vụ việc tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Việc pháp luật quy định cụ thể, chi tiết về việc bảo mật thông tin sẽ giúp cho các bên tranh chấp tin tưởng, cởi mở hơn trong việc cung cấp thông tin và dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm giải pháp hòa giải và thực thi kết quả hòa giải được nhanh chóng, hiệu quả.

Thứ tư, hiện nay, các điều kiện để công nhận kết quả hòa giải thành được quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mới chỉ đề cập đến các điều kiện về các bên tranh chấp mà không đề cập đến các điều kiện về hòa giải viên. Vì thế, trong trường hợp các bên lựa chọn một hòa giải viên thương mại mà không bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định tại Nghị định số 22/2017/NĐ-CP thì Tòa án có ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành hay không. Đồng thời, việc pháp luật không quy định điều kiện hòa giải viên là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận kết quả hòa giải thành đã làm cho các quy định về tiêu chuẩn của hòa giải viên thương mại trong Nghị định số 22/2017/NĐ-CP không còn nhiều ý nghĩa vì việc lựa chọn hòa giải viên thương mại có đủ hay không đủ tiêu chuẩn thì kết quả hòa giải thành có thể vẫn sẽ được công nhận. Vì thế, khi xây dựng Luật Hòa giải thương mại và sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần hoàn thiện các quy định về việc công nhận kết quả hòa giải thành, trong đó có các quy định về các điều kiện, tiêu chuẩn của hòa giải viên thương mại. Đồng thời, các quy định về việc công nhận kết quả hòa giải thành cần phải mang tiêu chuẩn quốc tế, thông lệ quốc tế để thúc đẩy hoạt động GQTC KDTM theo phương thức hòa giải.

2.4.2. Về thủ tục giải quyết tranh chấp theo phương thức trọng tài

Thứ nhất, bổ sung và hoàn thiện quy định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài: Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chưa quy định về việc trọng tài được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi Hội đồng trọng tài được thành lập, trong khi đó, các bên tranh chấp mà đề nghị Tòa án tham gia hỗ trợ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài gặp rất nhiều khó khăn. Đồng thời, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà trọng tài được áp dụng còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp với thực tế hiện nay và chưa có cơ chế thi hành các quy định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài viên. Vì thế, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần:

- Bổ sung các quy định về trọng tài viên khẩn cấp tạm thời và cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước thời điểm Hội đồng trọng tài được thành lập để phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp Hội đồng trọng tài chưa được thành lập.

- Sửa đổi Điều 49 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 theo hướng Hội đồng trọng tài có quyền áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tương tự như thẩm quyền của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để nâng cao chất lượng GQTC KDTM theo phương thức trọng tài.

- Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần bổ sung quy định về điều kiện áp dụng và cơ chế thi hành các quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài viên.

- Ngoài ra, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 không nên quy định quá chi tiết, cụ thể về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài viên mà trao quyền cho các trung tâm trọng tài quy định để tạo sự linh hoạt trong hoạt động.

Thứ hai, bổ sung người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia GQTC KDTM theo phương thức trọng tài. Khoản 3 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chỉ quy định người tham gia tố tụng trọng tài là nguyên đơn, bị đơn mà không quy định về người có quyền, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trọng tài. Tuy nhiên, trong nhiều vụ việc tranh chấp, ngoài nguyên đơn, bị đơn còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cần phải tham gia tố tụng trọng tài thì mới bảo đảm được quyền lợi cho các bên có liên quan. Vì thế, khoản 3 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần sửa đổi và bổ sung các bên tham gia giải quyết tranh chấp bằng trọng phải bao gồm cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Thứ ba, bổ sung quy định về thủ tục trọng tài rút gọn: Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chưa có quy định về thủ tục trọng tài rút gọn nên chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho các trung tâm trọng tài áp dụng để giải quyết, nhất là các vụ tranh chấp đơn giản, có giá trị nhỏ, nên chưa thúc đẩy việc GQTC KDTM mại theo phương thức trọng tài. Nghiên cứu cho thấy, nhiều trung tâm trọng tài trên thế giới đã quy định trong quy tắc tố tụng trọng tài và áp dụng thủ tục trọng tài rút gọn với thời gian ngắn hơn, chi phí thấp hơn so với thủ tục trọng tài thông thường để áp dụng đối với các vụ việc đơn giản. Vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần quy định về thủ tục tố tụng trọng tài rút gọn để tạo cơ sở pháp lý cho các trung tâm trọng tài thực hiện, có như vậy mới tạo điều kiện và thúc đẩy việc GQTC KDTM theo phương thức trọng tài phát triển.

Thứ tư, cần hoàn thiện quy định về mất quyền phản đối: Điều 13 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định, trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định thì mất quyền phản đối tại trọng tài hoặc Tòa án. Điều này có nghĩa là một bên sẽ mất quyền phản đối nếu bên đó phát hiện vi phạm mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối. Tuy nhiên, trong trường hợp bên phát hiện vi phạm không phản đối và quyết định không tham gia tố tụng trọng tài nữa thì sẽ giải quyết như thế nào. Vì thế, Điều 13 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần quy định bổ sung về việc một bên sẽ mất quyền phản đối tại trọng tài hoặc Tòa án nếu bên đó phát hiện có vi phạm quy định của Luật Trọng tài thương mại hoặc của thỏa thuận trọng tài mà không phản đối những vi phạm đó trong thời hạn do pháp luật quy định cho dù bên đó lựa chọn không tham gia tố tụng trọng tài nữa.

Thứ năm, hoàn thiện về nội dung phán quyết và thời hạn ban hành phán quyết: Điểm c khoản 1 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định nội dung phán quyết trọng tài phải có nội dung chủ yếu “địa chỉ của trọng tài viên” là không cần thiết và đặc biệt, không nên coi đây là nội dung chủ yếu trong phán quyết trọng tài vì nếu coi là nội dung chủ yếu mà thiếu nội dung này sẽ bị coi là vi phạm tố tụng trọng tài. Nghiên cứu Luật Mẫu về trọng tài của Uncitral và pháp luật trọng tài của nhiều nước trên thế giới đều cho thấy không có quy định này. Đồng thời, khoản 3 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định phán quyết trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng, nghiên cứu Luật Mẫu về trọng tài của Uncitral và pháp luật trọng tài của nhiều nước cũng cho thấy không quy định thời hạn phải lập phán quyết trọng tài. Thực tiễn giải quyết tranh chấp có nhiều vụ việc phức tạp, nhiều trường hợp Hội đồng trọng tài không thể ban hành phán quyết trong thời hạn 30 ngày. Vì vậy, khoản 1 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần bỏ quy định nội dung phán quyết trọng tài phải có nội dung “địa chỉ của trọng tài viên” và khoản 3 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần nghiên cứu kéo dài thời hạn ban hành phán quyết trọng tài hoặc cho phép Hội đồng trọng tài được quyền gia hạn thời hạn ban hành phán quyết trọng tài đối với những vụ việc phức tạp thay vì quy định cố định 30 ngày như quy định hiện nay.

Ngoài ra, Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định căn cứ để xem xét, hủy phán quyết trọng tài chưa rõ ràng, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất trên thực tế, nhất là căn cứ “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Khảo cứu cho thấy, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là những nguyên tắc nào nên quy định này có thể dẫn việc hiểu, áp dụng khác nhau trên thực tế. Vì thế, Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 sửa đổi cần nghiên cứu và quy định rõ nội dung các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là những nội dung gì và những nguyên tắc nào để thuận lợi cho việc áp dụng thống nhất trên thực tế.

Kết luận

Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý, góp phần quan trọng, tích cực thúc đẩy việc GQTC ngoài Tòa án tại Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, quá trình thực hiện trên thực tế cho thấy, pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài đã bộc lộ một số bất cập, chưa thực sự phù hợp với thực tế, chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu GQTC KDTM như quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, quy định về hòa giải viên, trọng tài viên, về thủ tục… Đồng thời, mặc dù được ban hành sau các Luật Mẫu nhưng nhiều điều khoản của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định chưa thực sự phù hợp với các Luật Mẫu và thông lệ quốc tế nên Việt Nam vẫn chưa được xem là quốc gia theo Luật Mẫu. Điều này tạo ra rào cản tương đối lớn cho hội nhập quốc tế khi Việt Nam chưa có cơ chế GQTC KDTM phù hợp với khung pháp lý chung toàn cầu. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về GQTC KDTM theo phương thức hòa giải, trọng tài ở Việt Nam hiện nay phù hợp với Luật Mẫu, thông lệ quốc tế và nhất là phù hợp với thực tiễn là rất cần thiết./.

TS. Trương Thế Côn

Học viện Tư pháp

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

3. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại.

4. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

5. Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 03/10/2017 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

6. Nghị quyết số 19/2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo.

7. Báo cáo phát triển Việt Nam (2010), Các thể chế hiện đại, Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, ngày 03 - 04/12/2009, Hà Nội.

8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nhóm Ngân hàng Thế giới (2016), Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.

9. Đỗ Văn Đại, Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức, 2023.

10. Eurocham (2017), Sách Trắng - Các vấn đề thương mại và đầu tư và kiến nghị, Ấn bản lần thứ 9, www.eurochamvn.org/whitebook.

11. Eurocham (2018), Sách Trắng - Các vấn đề thương mại và đầu tư và kiến nghị, Ấn bản lần thứ 9, www.eurochamvn.org/whitebook.

12. Học viện Tư pháp, Tài liệu Hội thảo khoa học “Thực trạng và định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam”, Hà Nội, tháng 5/2024.

13. Hội Luật gia Việt Nam (2022), Báo cáo nghiên cứu, rà soát Luật Trọng tài thương mại số 343/BC-HLGVN ngày 20/12/2022.

14. World Bank Group (2019), Doing Business 2019, Training for Reform, trên www.doingbusiness.com, truy cập 20/5/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.

Theo dõi chúng tôi trên: