Thứ tư 20/05/2026 10:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng tài sản chung của vợ chồng vào doanh nghiệp

Hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng tài sản chung của vợ chồng vào doanh nghiệp

Tóm tắt: Hiện nay, quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và Luật Doanh nghiệp chưa có sự tương thích về việc góp vốn bằng tài sản chung của vợ chồng vào các loại hình doanh nghiệp. Trong bài viết này, tác giả phân tích vấn đề góp vốn bằng tài sản chung của vợ chồng vào doanh nghiệp, chỉ ra các hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện.

Abstract: Current provisions of the Law on Marriage and Family and the Law on Enterprises are not compatible with respect to the contribution of capital with common property of husband and wife to various types of enterprises. In this article, the author analyzes the issue of capital contribution by the husband and wife's common property to the business, points out the limitations and inadequacies of the current law and makes recommendations for improvement.

1. Quy định về sử dụng tài sản chung của vợ chồng vào hoạt động kinh doanh theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật năm 2014) quy định về hai loại chế độ tài sản (TS) của vợ chồng, đó là chế độ TS theo thỏa thuận và chế độ TS theo luật định. Đối với mỗi loại chế độ TS, việc xác định TS chung của vợ chồng và TS riêng của mỗi bên vợ, chồng có những điểm khác biệt nhất định.

Đối với các cặp vợ chồng áp dụng chế độ TS theo luật định, TS chung của vợ chồng bao gồm các loại TS phát sinh trong thời kỳ hôn nhân có nguồn gốc theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật năm 2014. Ngoài ra, khoản 2 Điều 33 cũng quy định, TS chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Mặt khác, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh TS mà vợ, chồng đang có tranh chấp là TS riêng của mỗi bên thì TS đó được coi là TS chung. Trong trường hợp này, vợ chồng được xác định là đồng sở hữu đối với TS. Khi một bên vợ, chồng có nhu cầu định đoạt TS thì phải bảo đảm sự đồng thuận của bên còn lại trong quan hệ hôn nhân hoặc theo thỏa thuận khác của vợ chồng. Ngoài ra, trong trường hợp TS là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, TS là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình thì hình thức định đoạt TS chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản.

Đối với các cặp vợ chồng lựa chọn áp dụng chế độ TS theo thỏa thuận, Điều 47 Luật năm 2014 quy định, “trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ TS theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ TS của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn”. Bên cạnh đó, Điều 48 Luật này có quy định nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ TS. Mặt khác, Luật cũng quy định khi thực hiện chế độ TS theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ, chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31, 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ TS theo luật định (khoản 2 Điều 48 Luật năm 2014). Thêm vào đó, Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (Nghị định số 126/2014/NĐ-CP) cũng hướng dẫn khá chi tiết, theo đó, vợ chồng có thể lựa chọn một trong các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 15. Như vậy, khi lựa chọn chế độ TS theo thỏa thuận, về cơ bản, vợ chồng được tự do xây dựng một hành lang pháp lý cho riêng mình tùy thuộc vào hoàn cảnh, khả năng kinh tế, tình trạng TS và các mối quan hệ của từng cá nhân mà không phụ thuộc hoàn toàn vào quy định của pháp luật.

Về việc vợ chồng tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, Điều 25 Luật năm 2014 đã quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh. Không chỉ vậy, Điều 36 Luật năm 2014 còn quy định về cách thức đưa TS chung của vợ chồng vào hoạt động kinh doanh: “Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa TS chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến TS chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản”. Thỏa thuận này thể hiện nội dung thỏa thuận đưa một phần hoặc toàn bộ khối TS chung của vợ chồng vào việc kinh doanh. Nội dung thỏa thuận cần thể hiện chi tiết đối tượng của hợp đồng gồm loại TS, số lượng TS, quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch liên quan đến TS đó. Như vậy, nếu một bên tự ý sử dụng TS chung để đưa vào hoạt động kinh doanh thì giao dịch đó có thể bị tuyên là vô hiệu.

2. Quy định về thủ tục đầu tư vốn vào doanh nghiệp với tư cách chủ sở hữu doanh nghiệp và quy định về thỏa thuận bằng văn bản đưa tài sản chung của vợ chồng vào kinh doanh

Khi vợ chồng thực hiện quyền định đoạt đối với TS chung bằng cách thức sử dụng TS chung góp vốn vào vốn điều lệ của công ty, bên cạnh việc tuân thủ quy định của Luật năm 2014 về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS chung thì còn phải thực hiện quy định của pháp luật doanh nghiệp như quy định tại Điều 35, Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về chuyển quyền sở hữu TS góp vốn và định giá TS góp vốn. TS được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân (DNTN) không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp (khoản 4 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2020).

Trong tương quan so sánh với quy định của Luật năm 2014, TS chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng áp dụng chế độ TS theo luật định bao gồm những TS có nguồn gốc theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và được liệt kê theo quy định của pháp luật dân sự; còn trường hợp vợ chồng áp dụng chế độ TS theo thỏa thuận thì đó là những TS mà vợ chồng thỏa thuận là TS chung. Theo đó, mỗi loại TS khác nhau thì việc chuyển quyền sở hữu TS góp vốn vào doanh nghiệp là TS chung của vợ chồng được thực hiện theo những cách thức khác nhau, cụ thể:

Thứ nhất, đối với TS chung là tiền, có thể là Đồng Việt Nam, vàng, ngoại tệ tự do chuyển đổi. Đây là loại TS dễ dàng định giá và theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì việc góp vốn được thực hiện bằng hình thức biên bản giao nhận TS góp vốn giữa công ty và người góp vốn, có chữ ký của người góp vốn (hoặc người đại diện theo ủy quyền của người góp vốn) và chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty. Luật năm 2014 quy định tại Điều 35 với nội dung “việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS chung phải do vợ chồng thỏa thuận”. TS chung của vợ chồng dưới hình thức là tiền không phải là loại TS mà khi định đoạt bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật năm 2014, do đó, có thể hiểu, sự thỏa thuận của vợ chồng khi góp vốn bằng TS là tiền thuộc sở hữu chung vào doanh nghiệp có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản, tùy thuộc vào sự lựa chọn của vợ chồng. Mặt khác, việc góp vốn cũng có thể được thực hiện thông qua việc chuyển tiền qua tài khoản, mà đối với giao dịch liên quan đến tài khoản ngân hàng, Điều 32 Luật năm 2014 quy định, “trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến TS đó”, do đó, vợ, chồng là người đứng tên hoàn toàn có quyền chuyển tiền góp vốn qua tài khoản hoặc rút tiền từ tài khoản rồi thực hiện việc góp vốn bằng tiền mặt vào doanh nghiệp.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 không yêu cầu phải có văn bản thỏa thuận của vợ chồng về việc đưa TS chung của vợ chồng dưới hình thức Đồng Việt Nam, vàng, ngoại tệ tự do chuyển đổi kèm theo biên bản bàn giao TS góp vốn. Mặt khác, trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp cũng không yêu cầu phải kèm theo văn bản thỏa thuận của vợ chồng về việc đưa TS chung của vợ chồng góp vốn vào công ty. Nói cách khác, Luật Doanh nghiệp chỉ điều chỉnh việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chuyển giao tiền, vàng, ngoại tệ tự do chuyển đổi cho doanh nghiệp với mục đích góp vốn mà không quan tâm đến phần vốn góp đó là TS chung của vợ chồng hay TS riêng của một bên. Hành vi góp vốn vào công ty được thừa nhận là hoàn thành khi người góp vốn đã thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu hợp pháp TS góp vốn sang công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Do pháp luật doanh nghiệp chưa tính đến mối liên hệ với quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, nên khi xảy ra tranh chấp về TS góp vốn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ, chồng hay sở hữu chung của vợ chồng hoàn toàn phụ thuộc vào việc vợ, chồng có các bằng chứng chứng minh về TS góp vốn đó có phù hợp với quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình không[1]. Về nguyên tắc, khi có tranh chấp liên quan đến việc xác định TS chung, TS riêng trong đó có nguồn gốc TS góp vốn vào doanh nghiệp thì bên yêu cầu xác định đó là TS chung của vợ chồng hoặc TS riêng của một bên phải đưa ra những chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Các chứng cứ chứng minh có thể là sự thừa nhận của bên kia hoặc giấy tờ chứng minh nguồn gốc TS như hợp đồng tặng cho, nhận chuyển nhượng, biên bản phân chia di sản thừa kế…

Thứ hai, đối với TS chung của vợ chồng được sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp là những TS theo quy định pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất, tương tự như góp vốn bằng các TS khác thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu TS đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty theo quy định của pháp luật doanh nghiệp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật năm 2014, nếu TS chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất hoặc những loại TS khác mà pháp luật quy định phải đăng ký thì phải ghi tên của cả hai vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định này không được tuân thủ triệt để, tình trạng TS chung của vợ chồng là những loại phải đăng ký nhưng trên giấy chứng nhận chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng vẫn còn tồn tại. Mặt khác, cũng phải lưu ý rằng, trong trường hợp giấy chứng nhận chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến TS này không phải do người đứng tên xác lập, thực hiện mà các giao dịch có liên quan đến TS sẽ được thực hiện theo quy định về đại diện giữa vợ chồng được quy định tại Điều 26 Luật năm 2014. Do đó, đối với việc định đoạt TS thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký phải ghi tên cả hai vợ chồng, khi làm thủ tục chuyển quyền sở hữu TS đó cho công ty, đương nhiên hai vợ chồng biết và về nguyên tắc phải được sự đồng ý của hai vợ chồng thì việc định đoạt TS chung là những loại TS này mới là hợp pháp.

Như vậy, Luật năm 2014 yêu cầu khi đầu tư vốn vào kinh doanh bằng TS chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng, nhưng Luật Doanh nghiệp năm 2020 lại không quy định văn bản thỏa thuận là nội dung bắt buộc. Dó đó, việc một bên vợ, chồng tự ý sử dụng TS chung là những TS không phải đăng ký hoặc phải đăng ký nhưng giấy chứng nhận chỉ ghi tên một bên để đầu tư kinh doanh là hoàn toàn có thể xảy ra.

3. Hoàn thiện pháp luật về đưa tài sản chung của vợ chồng góp vốn vào doanh nghiệp

Thứ nhất, bổ sung văn bản thỏa thuận góp vốn bằng TS chung của vợ chồng khi thực hiện việc góp vốn vào doanh nghiệp.

Pháp luật doanh nghiệp cần bổ sung quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản pháp luật điều chỉnh việc đầu tư vốn vào tổ chức kinh doanh theo hướng: Khi vợ, chồng dùng TS chung để góp vốn thành lập doanh nghiệp phải kèm theo xác nhận bằng văn bản của vợ chồng về sử dụng TS chung đầu tư vào kinh doanh và đây là loại giấy tờ bắt buộc trong hồ sơ góp vốn, trong đó, xác định rõ loại TS chung, giá trị phần TS chung của vợ chồng được sử dụng. Bên cạnh đó, cũng nên xác định rõ ràng việc một bên vợ, chồng hay cả hai vợ chồng đều tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp. Điều này không chỉ liên quan đến việc xác định quyền của mỗi bên trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, mà còn là cơ sở để xác định quyền lợi của mỗi bên đối với lợi nhuận thu được từ hoạt động của doanh nghiệp. Hoặc khi vợ, chồng ly hôn, đây là cơ sở để Tòa án giải quyết vấn đề TS của vợ chồng, đáp ứng nguyên tắc bảo đảm lợi ích của mỗi bên trong hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật năm 2014. Bên cạnh đó, do trong Luật năm 2014 đã dự liệu về việc vợ chồng có thể áp dụng chế độ TS theo thỏa thuận nên pháp luật doanh nghiệp cần bổ sung quy định người góp vốn phải cung cấp thông tin về chế độ TS của vợ chồng cho các thành viên khác trong giai đoạn thực hiện thủ tục góp vốn nếu người góp vốn đã kết hôn, bởi vì, mặc dù trong Nghị định số 126/2014/NĐ-CP đã có quy định tại Điều 16 nhưng trong pháp luật doanh nghiệp chưa quy định về nội dung này.

Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của Cộng hòa Pháp về việc minh bạch ý chí của vợ chồng khi đầu tư vốn vào kinh doanh theo tinh thần Điều L.1823-1, Điều L.1832-2 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp: “Vợ hoặc chồng có thể là thành viên trong cùng một công ty và cùng tham gia hoặc không cùng tham gia vào việc điều hành công ty. Vợ hoặc chồng không thể đơn phương sử dụng TS chung vào công ty hoặc mua cổ phần loại không thể chuyển nhượng được nếu không thông báo trước cho bên kia và không ghi rõ trong chứng thư góp vốn hoặc mua cổ phần. Nếu không tuân thủ quy định này, vợ hoặc chồng sẽ phải chịu các hình thức chế tài”[2].

Thứ hai, xác định phạm vi TS chung góp vốn vào DNTN.

Đối với loại hình DNTN, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, chủ sở hữu DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ TS liên quan đến hoạt động của DN, tức là chủ DNTN phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ TS thuộc sở hữu hợp pháp của mình mà không chỉ bằng phần TS đã đưa vào doanh nghiệp để kinh doanh. Do vậy, để phân định rạch ròi TS chung của vợ chồng chủ DNTN với TS được đưa vào DNTN và nhằm tránh phức tạp thì đối với việc góp vốn vào DNTN, pháp luật doanh nghiệp cần quy định theo hướng bắt buộc vợ chồng chủ DNTN phải làm văn bản thỏa thuận để xác định rõ phạm vi, số lượng, giá trị TS chung của vợ chồng được đưa vào DNTN. Văn bản này phải được thực hiện trước khi chủ DNTN nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp (trong trường hợp chủ DNTN đã kết hôn và còn trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp) hoặc khi tăng vốn của DNTN. Ngoài ra, có thể quy định đó là một trong những điều kiện kinh doanh bắt buộc đối với DNTN. Do đó, nên bổ sung quy định tại Điều 19 Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng bắt buộc chủ DNTN phải nộp văn bản thỏa thuận về TS giữa hai vợ chồng trong hồ sơ đăng ký DNTN[3].

Có quan điểm cho rằng, không cần thiết phải bổ sung các quy định của pháp luật doanh nghiệp liên quan đến văn bản thỏa thuận của vợ chồng về việc đưa TS chung vào kinh doanh, vì nếu có tranh chấp xảy ra thì luật chuyên ngành điều chỉnh vấn đề này là Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản pháp luật có liên quan sẽ được áp dụng. Có nghĩa là, trường hợp một bên vợ, chồng tự ý định đoạt TS chung bằng cách góp vốn vào doanh nghiệp, theo quy định tại khoản 2 Điều 35 và Điều 36 Luật năm 2014 thì việc định đoạt này phải thể hiện dưới hình thức thỏa thuận bằng văn bản mới có giá trị. Tuy nhiên, pháp luật doanh nghiệp lại quy định chỉ cần người góp vốn là chủ sở hữu hợp pháp của TS góp vốn. Điều này dẫn tới việc nếu có tranh chấp, bên vợ hoặc chồng còn lại có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu (khoản 2 Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP). Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật doanh nghiệp thì việc góp vốn này lại tuân thủ các quy định có liên quan, do đó, nếu áp dụng Luật Doanh nghiệp để giải quyết thì Tòa án không thể tuyên giao dịch góp vốn vô hiệu. Tác giả không đồng tình với quan điểm này, bởi lẽ, nếu giải quyết tranh chấp theo hướng như trên thì vô hình trung các quy định của Luật năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan hoàn toàn không có giá trị trong trường hợp này, trong khi Luật Hôn nhân và gia đình cũng là luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Hơn nữa, việc giải quyết theo hướng trên đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của một bên vợ, chồng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với TS chung, trái với nguyên tắc bình đẳng trong hôn nhân, không bảo đảm được mục đích xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, bền vững.

ThS. Trần Danh Phú

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. PGS.TS. Nguyễn Thị Lan chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Chế định tài sản của vợ chồng - Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện, Đại học Luật Hà Nội, 2021, tr. 253.

[2]. PGS.TS. Nguyễn Thị Lan chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Chế định tài sản của vợ chồng - Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện, Đại học Luật Hà Nội, 2021, tr. 268.

[3]. http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/211567/Xac-dinh-tai-san-chung-cua-vo-chong-doi-voi-doanh-nghiep-tu-nhan—-mot-so-vuong-mac-va-kien-nghi.html?fbclid=IwAR14odkVE7IzCS9-Oakmn_6y9lPGZax_ AN5FubvMNilJIEVvP6RE6FeNTOs&mibextid=Zxz2cZ.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: