Thứ ba 17/03/2026 02:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Bài viết phân tích các quy định pháp luật về hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động và xử lý vi vi phạm pháp luật đối với hành vi này, từ đó, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

1. Quy định pháp luật về hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên. Khoản 1 Điều 168 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; người lao động được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp”. Hành vi vi phạm sẽ bị xử lý theo 03 hình thức: Kỷ luật, xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự.

Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) đã hình sự hóa những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm, được quy định cụ thể tại Mục 1 về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, bao gồm 04 điều luật quy định các tội danh là tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213); tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214); tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215); tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216).

Theo khoản 1 Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thì: “Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động”.

Điều 2 Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP ngày 15/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 214 về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, Điều 215 về tội gian lận bảo hiểm y tế và Điều 216 về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP) hướng dẫn về một số thuật ngữ được sử dụng trong quy định về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (bao gồm: (i) Trốn đóng bảo hiểm; (ii) Gian dối để không đóng, không đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; (iii) Không đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; (iv) Không đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp[1]).

Như vậy, tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là hành vi cố ý của các chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hiểm, nhằm trốn đóng hoặc đóng không đầy đủ mức đóng bảo hiểm theo quy định, làm thâm hụt về quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, gây rối loạn trong lĩnh vực bảo hiểm.

2. Một số vướng mắc trong xử lý các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Theo báo cáo của lực lượng Cảnh sát kinh tế, tính từ năm 2018 đến nay đã phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp tiến hành 835 cuộc thanh tra, kiểm tra, xác minh liên ngành tại 3.308 đơn vị (trong đó có 3.148 đơn vị sử dụng lao động và 160 cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế); phối hợp xác minh, làm rõ 270 hồ sơ, vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến bảo hiểm xã hội với những vi phạm chủ yếu như: Gian lận trong kinh doanh bảo hiểm; gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; trục lợi tiền bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh… Trên cơ sở đó, đã khởi tố 13 vụ án trong lĩnh vực bảo hiểm với 17 bị can; đề nghị xử lý vi phạm hành chính 185 đối tượng, 24 pháp nhân, qua đó góp phần truy thu hơn 60 tỷ đồng cho Nhà nước. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2018 đến nay, trên địa bàn cả nước chưa có vụ án nào về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động được cơ quan điều tra khởi tố, điều tra, mặc dù tính đến tháng 8/2022, bảo hiểm xã hội các cấp đã có tổng số 353 kiến nghị khởi tố gửi cơ quan điều tra kiến nghị khởi tố về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở nhiều doanh nghiệp, tổ chức. Kết quả là, trong 353 kiến nghị khởi tố của bảo hiểm xã hội, cơ quan điều tra các cấp đã xác minh, ra quyết định không khởi tố với 173 kiến nghị khởi tố của cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp; không thụ lý giải quyết 56 vụ; đang trong thời gian giải quyết 122 vụ và tạm đình chỉ giải quyết kiến nghị 02 vụ.

Thời gian qua, bên cạnh mặt tích cực của lĩnh vực bảo hiểm, tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm, làm giả hồ sơ để trục lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… diễn ra dưới nhiều hình thức, nhiều mức độ khác nhau và có chiều hướng ngày càng gia tăng với diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người lao động, người bệnh, cũng như ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, của Ngành Bảo hiểm. Tuy nhiên, công tác phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan thực thi pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là xử lý hình sự. Cụ thể:

Thứ nhất, về cơ bản, những hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP đã làm rõ một số khái niệm quan trọng liên quan đến hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động và xác định rõ hành vi này chỉ bị xử lý hình sự khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khi một tổ chức, cá nhân nợ bảo hiểm xã hội, việc xác định có sự “gian dối” hay không (hay chỉ đơn thuần là nợ vì khó khăn khách quan) là không dễ dàng; việc xử lý hình sự các doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm xã hội đến nay chưa được thực hiện do việc thu thập hồ sơ, tài liệu xác định tội danh hình sự đối với tội phạm này gặp nhiều khó khăn như báo cáo tài chính của đơn vị chưa sát, chưa đúng với thực trạng hoạt động của đơn vị, đơn vị không phối hợp trong việc cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu...

Đối với cơ quan điều tra, việc đang giải quyết 122 vụ và tạm đình chỉ 02 vụ cũng đã thể hiện một phần nào đó khó khăn trong công tác xác minh đối với kiến nghị khởi tố về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động của cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp chuyển sang. Bên cạnh đó, kết quả trên cho thấy những khó khăn trong công tác điều tra xử lý đối với tội danh này là bởi tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là tội danh mới được đưa vào Bộ luật Hình sự năm 2015, hiện nay cũng chưa có án lệ. Mặt khác, Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định chủ thể tội phạm phải có hành vi “gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác” để trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế còn có những cách hiểu khác nhau. Để gỡ vướng vấn đề này trong tiếp nhận, xử lý tội danh trên, Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP đã hướng dẫn áp dụng Điều 215 và Điều 216, trong đó, xác định cụ thể hành vi “gian dối”. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn còn một số vướng mắc, chủ yếu là trong việc xác định “thủ đoạn khác” và phân biệt với trường hợp chậm đóng bảo hiểm xã hội vì lý do khách quan cùng với việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, vì vậy, kết quả cho thấy, có đến 173 vụ việc cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố (chiếm 49%).

Thứ hai, đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm chỉ xử phạt hành chính các công ty là pháp nhân, do đó, người đại diện theo pháp luật không bị xử lý hành chính nên rất khó xử lý hình sự đối với người đại diện theo pháp luật của các công ty trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bởi vì họ chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này. Do vậy, đây cũng là một trong những vướng mắc dẫn đến tình trạng trốn đóng bảo hiểm hiện nay vẫn còn diễn ra tràn lan, phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước.

Thứ ba, từ kết quả xác minh điều tra của cơ quan điều tra đối với 353 kiến nghị khởi tố của các cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp trong thời gian qua cho thấy, việc xử lý hình sự đối với các hành vi trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động của cơ quan chức năng chưa thực sự hiệu quả và chưa bảo đảm tính “răn đe”. Từ đó dẫn đến tổng số dư nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên cả nước ngày càng tăng, từ 12.000 tỷ đồng (năm 2020) tăng lên 16.000 tỷ đồng (năm 2022). Việc dư nợ bảo hiểm xã hội lớn sẽ gây ra những hậu quả khó lường đối với quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế như: Người lao động không được bảo hiểm xã hội chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất; không nhận được trợ cấp thất nghiệp..., ảnh hưởng đến số tháng, số tiền hưởng các gói hỗ trợ của Chính phủ (như các chính sách hỗ trợ tại Nghị quyết số 68/2021/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, Nghị quyết số 116/2021/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động…), ảnh hưởng đến việc sử dụng và điều tiết quỹ bảo hiểm xã hội chung của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Thứ tư, việc quy định mức lãi suất chậm đóng chế độ bảo hiểm xã hội thấp hơn mức lãi suất vay ngân hàng; mức xử phạt tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội nhỏ hơn so với lợi ích từ chiếm dụng tiền bảo hiểm xã hội mang lại, dẫn đến trên thực tế, doanh nghiệp cố tình nợ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động và chấp nhận chịu phạt để chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội.

Thứ năm, lĩnh vực bảo hiểm là lĩnh vực rộng, liên quan đến hoạt động của nhiều doanh nghiệp và người lao động, nhiều ngành khác nhau, dẫn đến việc khó kiểm tra, kiểm soát các hành vi vi phạm tại các đơn vị sử dụng lao động. Cơ quan bảo hiểm xã hội chưa có số liệu thống kê chính xác số lượng doanh nghiệp có sử dụng lao động thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc do số liệu thống kê về số lượng doanh nghiệp đang hoạt động có sự khác nhau giữa các cơ quan quản lý (cơ quan thuế, cơ quan đăng ký và quản lý thành lập doanh nghiệp...). Cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ kiểm soát được các doanh nghiệp tự giác khai báo lao động tham gia bảo hiểm xã hội, chưa kiểm tra, giám sát hết được số lượng doanh nghiệp phải tham gia bảo hiểm xã hội.

Thứ sáu, theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, việc khởi kiện đơn vị sử dụng lao động vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là do tổ chức công đoàn thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về quy trình, thủ tục thực hiện; bên cạnh đó, để khởi kiện được đơn vị vi phạm thì phải được sự đồng ý của toàn bộ người lao động trong đơn vị, trong khi người lao động vì nhiều lý do khác nhau (như sợ mất việc làm...) nên không đề nghị khởi kiện đối với doanh nghiệp.

3. Một số kiến nghị

Một là, hoàn thiện chính sách pháp luật trong xử lý hình sự đối với tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Cụ thể, trước mắt, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về 04 yếu tố cấu thành của tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó, cụ thể hóa hành vi “gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác” để không đóng hoặc không đóng đầy đủ là như thế nào. Ngoài ra, trong thời gian tới, cần đưa hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động trong khi đã trích lập tiền lương của người lao động vào Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015 để nâng cao hiệu quả tính “răn đe”. Bên cạnh đó, hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang vận hành theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xu hướng cổ phần hóa doanh nghiệp đang diễn ra nhanh chóng, Nhà nước dần không nắm cổ phần chi phối tại các tập đoàn lớn. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của người lao động thì cần nghiên cứu tăng khung hình phạt của Điều 216 lên mức nghiêm trọng, rất nghiêm trọng.

Hai là, quy định rõ hơn Điều 38 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về hình thức phạt tiền, cụ thể: Ngoài phạt tiền đối với tổ chức vi phạm, cần quy định rõ việc đồng thời phạt tiền đối với người đứng đầu hoặc người đại diện theo pháp luật của tổ chức đó ở mức độ phù hợp để gắn với trách nhiệm của cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, tạo hành lang pháp lý làm căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với cá nhân khi thỏa mãn cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động về dấu hiệu “… đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm…”.

Ba là, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người lao động, trong đó, tập trung tuyên truyền quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trách nhiệm và quyền lợi khi đóng bảo hiểm xã hội; phương thức, thủ đoạn cũng như hậu quả, tác hại của việc trốn đóng bảo hiểm xã hội…, đồng thời kết hợp với việc thống kê, thông báo rộng rãi đối với các đơn vị chậm nộp bảo hiểm xã hội để đạt được hiệu quả kép trong hoạt động tuyên truyền.

Bốn là, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp giữa công an và cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp trong việc kịp thời trao đổi thông tin, thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, hỗ trợ xác minh. Nhanh chóng xác minh, điều tra làm rõ, kịp thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm, thu hồi triệt để tài sản thiệt hại để bảo đảm tính hiệu quả của chính sách, pháp luật; kết hợp với việc tuyên truyền về công tác xử lý các vụ việc, vi phạm điển hình để người sử dụng lao động và người lao động nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Bên cạnh đó, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra với cơ quan thanh tra bảo hiểm xã hội nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phân loại nguồn tin ban đầu, sớm phân loại và xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm để tập trung xác minh, giải quyết, nâng cao vai trò của Cơ quan thanh tra bảo hiểm xã hội trong thực hiện các nhiệm vụ cụ thể.

Năm là, tăng cường công tác điều tra, xử lý đối với tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu, tháo gỡ vướng mắc, định hướng điều tra, giải quyết và lấy vụ án cụ thể làm căn cứ điển hình, nhân rộng đến các địa phương trong cả nước.

Sáu là, phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể trong cơ quan, doanh nghiệp, đặc biệt, cần phát huy vai trò của công đoàn trong bảo vệ quyền lợi của người lao động và thực hiện tố giác tội phạm đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm của cơ quan, tổ chức. Trên thực tế, đã có văn bản hướng dẫn về việc tổ chức công đoàn có vai trò trong việc khởi kiện, bảo vệ quyền lợi của người lao động trong việc người sử dụng lao động chậm nộp, trốn nộp bảo hiểm cho người lao động, tuy nhiên, với góc độ tố tụng hình sự, tổ chức công đoàn và người lao động chưa phát huy hết hiệu quả trong việc tố giác tội phạm, vì vậy, trong thời gian tới, cần tăng cường phát huy vai trò của các lực lượng này bởi việc người sử dụng lao động trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế sẽ tác động trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, quyền lợi và trách nhiệm của công đoàn tổ chức đại diện người lao động.

ThS. Lê Thị Ly

Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Xem: Các khoản 10, 11, 12, 13 Điều 2 Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP ngày 15/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 214 về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, Điều 215 về tội gian lận bảo hiểm y tế và Điều 216 về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động của Bộ luật Hình sự.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: