Thứ ba 18/08/2026 09:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hình thức đầu tư theo BOT trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, các văn bản pháp luật quy định về đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) còn chồng chéo, bộc lộ nhiều kẽ hở dẫn đến các vi phạm của các nhà đầu tư, sự phản đối của người dân. Bài viết này nghiên cứu thực trạng pháp luật về BOT ở Việt Nam và đề xuất giải pháp để hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới.


Abstract: In recent time, legal documents with respect to investment in form of build-operation-transfer (BOT) have been overlapping, and have many gaps which lead to violations of investors, protest of citizens. This article conducts research on legal practice of BOT in Vietnam and proposes solutions for law completion in the next time.

1. Thực trạng pháp luật về đầu tư theo hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT)

Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) lần đầu tiên được quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992: “Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao là văn bản ký kết giữa tổ chức, cá nhân nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam để xây dựng, khai thác kinh doanh công trình hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, tổ chức, cá nhân nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Chính phủ Việt Nam” (khoản 1 Điều 1). Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 tiếp tục khẳng định về đầu tư theo hình thức BOT và ghi nhận thêm hai hình thức đầu tư mới trong xây dựng cơ sở hạ tầng là hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). Chính phủ cũng đã ban hành Quy chế đầu tư theo hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam kèm theo Nghị định số 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 (sau đây gọi là Quy chế đầu tư BOT nước ngoài) và được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 02/1999/NĐ-CP ngày 27/01/1999.

Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực áp dụng chung cho mọi nhà đầu tư kinh doanh vào mọi ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, trong đó đặc biệt khuyến khích các dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản để tạo cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hóa của đất nước. Theo đó, hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT cũng cần được pháp luật quy định thống nhất về nội dung và hình thức[1]. Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2007/NĐ-CP ngày 11/5/2007 và sau đó là Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 về đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). Đến ngày 05/4/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2011/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP.

Ngày 14/02/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) thay thế các nghị định trước đây nhằm khắc phục các hạn chế trong quy định về các hợp đồng BOT, BTO, BT. Ngoài các hợp đồng BOT, BTO, BT, Nghị định này quy định thêm các dạng hợp đồng mới về PPP như: Hợp đồng xây dựng - sở hữu - kinh doanh (BOO); hợp đồng xây dựng - chuyển giao - thuê dịch vụ (BTL); hợp đồng xây dựng - thuê dịch vụ - chuyển giao (BLT); hợp đồng kinh doanh - quản lý (O&M). Các quy định mới này thể hiện sự hội nhập, phù hợp với thế giới về PPP và khuyến khích, thu hút hơn nữa tư nhân trong và ngoài nước đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng.

Để làm rõ hơn các nghị định này, các Bộ liên quan cũng ban hành nhiều thông tư hướng dẫn thi hành chi tiết như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 06/2016/TT-BKHĐT ngày 28/6/2016 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP); Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 55/2016/TT-BTC ngày 23/3/2016 quy định một số nội dung về quản lý tài chính đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư và chi phí lựa chọn nhà đầu tư (Thông tư số 75/2017/TT-BTC ngày 21/7/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 55/2016/TT-BTC); Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 35/2016/TT-BGTVT ngày 15/11/2016 quy định mức giá tối đa dịch vụ sử dụng đường bộ các dự án đầu tư xây dựng đường bộ để kinh doanh do Bộ Giao thông vận tải quản lý và Thông tư số 49/2016/TT-BGTVT ngày 30/12/2016 quy định về xây dựng, tổ chức và hoạt động của trạm thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ. Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng ban hành nhiều văn bản để hướng dẫn thực hiện về PPP...

Nhìn chung, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nói chung và đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT nói riêng được hình thành và từng bước hoàn thiện đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ. Nhiều công trình trọng điểm quốc gia, nhiều tuyến đường cao tốc, một số tuyến đường thủy nội địa, cảng biển, sân bay đã được hình thành, nâng cấp tạo ra sự thay đổi nhanh chóng về hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của nước ta, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc đầu tư theo hình thức PPP, trong đó có hình thức hợp đồng BOT đã tạo cơ chế, chính sách thu hút nguồn lực xã hội, góp phần giảm bớt gánh nặng của ngân sách nhà nước đầu tư cho hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông.

Theo thống kê, trong giai đoạn 2011-2016, Bộ Giao thông vận tải đã huy động khoảng 171.308 tỷ đồng, trong đó vốn BOT là 154.481 tỷ đồng/59 dự án, chiếm khoảng 90,2% (các dự án đường bộ 169.813 tỷ đồng/57 dự án). Đến nay, đã hoàn thành đưa vào vận hành khai thác 55 dự án BOT với tổng mức đầu tư 137.819 tỷ đồng (toàn bộ là lĩnh vực đường bộ). Tại các địa phương, theo báo cáo của 43 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã huy động được hơn 80.000 tỷ đồng cho các dự án BOT. Nhiều công trình giao thông hiện đại được hoàn thành như: Cao tốc Nội Bài - Lào Cao, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng[2]...

Mặc dù vậy, qua quá trình thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo hình thức BOT, bên cạnh những thành quả đạt được, việc triển khai, thực hiện, khai thác các công trình BOT giao thông phát sinh nhiều vướng mắc, vi phạm pháp luật, như không đấu thầu rộng rãi mà chỉ định thầu; thi công sai thiết kế; nâng khống giá trị dự toán để kéo dài thời gian thu phí; mức thu phí quá cao; đặt trạm thu phí không đúng vị trí, không đúng khoảng cách... Từ đó, dẫn đến xung đột giữa chủ đầu tư với người tham gia giao thông, người dân tụ tập đông người phản đối trạm BOT, nhiều đối tượng quá khích hành hung nhân viên thu phí, gây mất ổn định an ninh - trật tự ở nhiều địa phương...

2. Hạn chế, bất cập của pháp luật và một số giải pháp hoàn thiện

Tình trạng được dẫn ra ở trên một phần do cán bộ thực hiện chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ, nhưng phần lớn là do sự chồng chéo, thiếu chặt chẽ, bộc lộ nhiều kẽ hở, thiếu sót của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về PPP nói chung và BOT nói riêng. Cụ thể:

Thứ nhất, theo Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, nhà đầu tư được tự lập báo cáo nghiên cứu khả thi (Điều 24). Song quy định này dẫn đến hậu quả nhà đầu tư thường đưa ra số liệu không chính xác để được phê duyệt và rất khó kiểm soát. Hay tại Điều 34 của Nghị định cho phép nhà đầu tư chuyển nhượng một phần hay toàn bộ hợp đồng. Đây là một kẽ hở pháp luật dẫn đến nhà đầu tư sau khi ký hợp đồng BOT có thể chuyển nhượng ngay cho các chủ thể khác thực hiện nhằm hưởng chênh lệch và chủ đầu tư khác không có đủ năng lực tài chính thực hiện dự án. Điều 42 của Nghị định không quy định loại hình doanh nghiệp đối với doanh nghiệp dự án nên hạn chế khả năng kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các nhà đầu tư chuyển nhượng cổ phần đối với công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán. Nghị định cũng không quy định rõ về việc không áp dụng đầu tư BOT đối với các tuyến đường độc đạo, tuyến đường đã được xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước. Vì vậy, nhiều địa phương cho phép cải tạo, nâng cấp các tuyến đường sẵn có, độc đạo (làm từ ngân sách) rồi đặt trạm BOT thu phí, dẫn đến phí chồng phí, người tham gia giao thông không có sự lựa chọn nào khác, gây bức xúc trong dư luận (như Trạm thu phí BOT Cai Lậy; Trạm thu phí Bến Thủy 1…).

Thứ hai, Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư có quy định chưa phù hợp về tiêu chí đấu thầu trong trường hợp các công trình giao thông đối với dự án không có vốn góp nhà nước.

Thứ ba, đối với Thông tư số 159/2013/TT-BTC ngày 14/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ hoàn vốn đầu tư xây dựng đường bộ: Điểm b khoản 2 Điều 2 về vị trí đặt trạm thu phí BOT quy định khoảng cách tối thiểu giữa hai trạm thu phí trên cùng tuyến đường BOT phải cách nhau tối thiểu 70 km. Tuy nhiên, theo thống kê hiện nay có 88 trạm thu phí BOT trên các tuyến giao thông nhưng có tới 30 trạm thu phí không đảm bảo khoảng cách tối thiểu 70km, 03 trạm thu phí nằm ngoài tuyến đường BOT (chiếm 37,5%). Mặc dù vậy, việc tính phí của các trạm BOT vẫn dựa trên biểu phí chung, gây thiệt hại rất lớn cho người tham gia giao thông.

Về mức thu phí theo quy định tại Phụ lục 1 (biểu khung mức thu phí), độ dao động trong khung mức phí này đối với từng loại xe là tương đối cao (đối với loại xe dưới 12 ghế ngồi, xe tải có tải trọng dưới 2 tấn; các loại xe buýt vận tải khách công cộng hiện có khung mức phí từ 15.000 - 52.000 đồng) nên các trạm thu phí khác nhau trên cùng tuyến quốc lộ có mức thu khác nhau. Mức thu phí được tính dựa trên nguyên tắc hạch toán giữa chi phí đầu tư và giá thành, tuy nhiên vẫn gây bức xúc cho người sử dụng dịch vụ do chênh lệch về mức thu phí không công bằng giữa mức phí và chất lượng dịch vụ được sử dụng, chưa có quy định mức thu phí đối với các hộ dân, doanh nghiệp tại địa phương xung quanh nơi đặt trạm thu phí.

Về thời điểm ban hành mức thu phí (Điều 7), thì tại thời điểm thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư chưa thể xác định được mức phí chính thức, ảnh hưởng đến tính toán phương án tài chính, phương án thu hồi vốn cũng như tính hiệu quả của báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án. Về lộ trình tăng phí, cũng theo Thông tư trên, mức phí chỉ là tạm tính và sẽ được Bộ Giao thông vận tải và Bộ Tài chính xem xét quyết định điều chỉnh 03 năm một lần phù hợp với điều kiện thực tế, việc điều chỉnh mức phí do Bộ Tài chính quyết định (đối với đường quốc lộ) và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định (đối với đường địa phương). Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải, từ ngày 01/01/2017, phí sử dụng đường bộ chuyển thành giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo quy định của Luật Giá. Khi áp dụng các quy định của Luật Giá có những bất cập nhất định khi áp dụng đối với giá sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng giao thông đầu tư theo hình thức BOT do đặc thù khung giá phải được xác định ngay từ đầu và áp dụng trong cả vòng đời dự án lên tới 20 - 30 năm mới có thể tính toán được phương án tài chính và đấu thầu. Bên cạnh đó, Thông tư cũng chưa có quy định về việc xác định dân cư ở khoảng cách bao nhiêu xung quanh trạm thu phí BOT thì được miễn, giảm phí phương tiện giao thông, dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các đơn vị thu phí (nơi thì áp dụng bán kính 5km, có địa phương thì áp dụng bán kính 10km...) và để được miễn, giảm, chủ phương tiện cũng rất vất vả để được cấp giấy miễn, giảm. Điều này đã gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, dẫn đến những xung đột gay gắt, phản đối các trạm thu phí BOT, gây ách tắc giao thông ở nhiều địa phương.

Có thể thấy, vấn đề hợp tác công - tư (PPP) nói chung và BOT nói riêng đã được quy định ở rất nhiều văn bản khác nhau, từ luật, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ đến thông tư hướng dẫn của các Bộ liên quan. Để phù hợp với thực tiễn, các văn bản này cũng thường xuyên được bổ sung, sửa đổi, thay thế, nhưng chúng lại đã và đang bộc lộ nhiều mâu thuẫn, chồng chéo như đã phân tích ở trên.

Để khắc phục những vấn đề trên, theo tác giả, cần phải quan tâm điều chỉnh và hoàn thiện một số quy định sau:

Một là, đối với việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo tài chính của chủ đầu tư phải do một tổ chức độc lập thực hiện, nhà đầu tư không được tự lập các loại báo cáo này để đảm bảo tính khách quan.

Hai là, chỉ cho phép nhà đầu tư chuyển nhượng hợp đồng BOT khi đã thực hiện xong ít nhất 50% khối lượng công việc; không cho phép nhà đầu tư chuyển nhượng một phần hay toàn bộ hợp đồng khi chưa triển khai thực hiện dự án BOT.

Ba là, cần quy định không áp dụng đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông theo hình thức BOT đối với các tuyến đường độc đạo, huyết mạch, tuyến đường đã được xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước. Toàn bộ các dự án BOT giao thông phải xây mới hoàn toàn để tránh tình trạng phí chồng phí, người tham gia giao thông có sự lựa chọn các tuyến đường khác nhau khi lưu thông.

Bốn là, việc thực hiện các dự án PPP nói chung và BOT giao thông nói riêng phải được tổ chức đấu thầu rộng rãi, công khai thông tin dự án để các tổ chức, doanh nghiệp có năng lực tham gia, không được chỉ định thầu như thời gian vừa qua.

Năm là, việc đặt trạm thu phí không cần quy định khoảng cách nhưng quy định biểu giá hợp lý BOT giao thông trên km đường (có thể quy định khoảng dao động 1.000đ/km - 2.000đ/km) để đặt trạm ở đâu thì tính theo km đường để xác định mức phí các phương tiện phải nộp, tránh tình trạng như hiện nay quy định khoảng cách 70km mới được lập trạm thu phí nhưng hầu hết đều dưới 70km và vẫn tính phí cao. Đặc biệt, không được đặt trạm thu phí ngoài tuyến đường BOT giao thông để tránh gây bức xúc dư luận về việc không đi đường BOT vẫn phải đóng phí BOT (hiện nay vẫn tồn tại 03 trạm thu phí đặt ngoài đường BOT).

Sáu là, cần quy định rõ việc miễn, giảm phí BOT cho các phương tiện của người dân sống xung quanh trạm thu phí. Cụ thể, đối với các phương tiện không sử dụng mục đích kinh doanh trong bán kính 5km thì miễn phí, các phương tiện trong bán kính 10km thì giảm 50%. Từ đó, áp dụng thống nhất trên tất cả các tuyến giao thông BOT, tránh tình trạng như hiện nay, mỗi nơi áp dụng một kiểu theo cơ chế xin – cho dẫn đến bất bình trong dư luận, tâm lý phản đối BOT giao thông ngày càng tăng.

Trên đây là một số giải pháp hoàn thiện các quy định về BOT nói chung và BOT giao thông nói riêng nhằm phát huy ưu thế của loại hình hợp tác công - tư này, thu hút các nguồn lực trong xã hội phát triển mạng lưới giao thông nước ta ngày càng hiện đại, kết nối liên thông, đồng bộ.

Nguyễn Doãn Phương

Học viện An ninh nhân dân



[1]. Luật Đầu tư năm 2005 số 59/2005/QH11.

[2]. Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư và khai thác các công trình giao thông theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) số 177/BC-ĐGS ngày 11/8/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: