Thứ sáu 01/05/2026 11:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ

Tóm tắt: Bài viết này trọng tâm đi vào phân tích các nội dung để xác định khái niệm của hợp đồng dịch vụ. Từ đó, bài viết đưa ra một số kiến nghị về việc hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về hợp đồng dịch vụ phù hợp với bản chất này.

Abstract: The article concentrates on analysis of contents in order to define the concept of service contract. On this basis, the article offers some proposals to completion of existing civil regulations with respect to service contract in accordance with this nature

.Hợp đồng dịch vụ (HĐDV) là căn cứ hình thành nên các quan hệ cung ứng, sử dụng dịch vụ giữa các chủ thể trong xã hội. Với vai trò quan trọng của dịch vụ và HĐDV, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã có quy định riêng dành cho hợp đồng này bên cạnh các quy định chung về hợp đồng dân sự. Các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 được kế thừa tại Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017).

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam chính thức chuyển mình từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tồn tại mặc dù còn khá giản đơn của nền kinh tế thị trường cũng đủ khiến cho dịch vụ có điều kiện “vươn mình” phát triển, trở thành một trong các hoạt động kinh tế đóng vai trò ngày càng quan trọng. Đến năm 2005, dịch vụ đã chiếm 38,13% cơ cấu nền kinh tế và năm 2014, tỉ lệ này là 41%[1]. Sự ra đời của dịch vụ tất yếu dẫn đến các quan hệ cung cấp, sử dụng dịch vụ ra đời giữa nhà cung ứng dịch vụ với người thuê dịch vụ. Công cụ pháp lý cơ bản nhất để xác lập các quan hệ này là HĐDV. Đây cũng là lý do để Bộ luật Dân sự năm 1995 và sau đó là Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận HĐDV là một trong các hợp đồng dân sự thông dụng cần pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, một thực tiễn hiện nay là các công trình nghiên cứu chưa đi sâu vào bản chất của HĐDV. Làm rõ bản chất HĐDV là cơ sở xem xét, đánh giá các quy định pháp luật về hợp đồng này có phù hợp hay không. Chính từ thực tế đó, tác giả tập trung làm rõ các yếu tố là cơ sở xác định bản chất của HĐDV. Để xây dựng khái niệm HĐDV, tác giả làm rõ nguồn gốc dịch vụ, phạm vi các dịch vụ là đối tượng của HĐDV. Trên cơ sở các phân tích này, tác giả xây dựng định nghĩa về HĐDV cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật trong góc nhìn đối chiếu với bản chất dịch vụ, bản chất HĐDV.

1. Khái niệm dịch vụ

1.1. Một số quan niệm về dịch vụ

Hiện nay, nhiều quan điểm về dịch vụ tồn tại tương ứng với các góc độ nghiên cứu khác nhau. Dịch vụ là hoạt động kinh tế nên nhiều nhà kinh tế học coi dịch vụ “là quá trình lao động, sinh ra và mất đi cùng thời điểm với quá trình lao động đó, theo đó dịch vụ là một hàng hóa vô hình và có tính chất nhất thời”[2]. Adam Smith cho rằng: “Dịch vụ không mang tính sản xuất (nonproductive) vì không để lại một sản phẩm vật chất hữu hình, trong đó những tầng lớp được coi trọng trong xã hội như cha đạo, luật sư, thầy thuốc, người viết thư thuê, nhạc công, ca sĩ opera, vũ công… thực sự không sản sinh ra bất kỳ giá trị nào và không được hàm chứa trong một vật thể xác định hay một loại mặt hàng có thể bán được và công việc của người này tàn lụi đúng lúc nó được sinh ra”[3]. Adam Smith phản ánh hai đặc điểm cơ bản của dịch vụ là sự vô hình (khác biệt với vật là tài sản hữu hình) và sự “tàn lụi” dịch vụ cùng với thời điểm dịch vụ sinh ra. Dịch vụ trong nền kinh tế hiện đại “có tính hàng hóa nhiều hơn, vừa lưu trữ được và vận chuyển được đến mọi nơi, vừa có thể sử dụng được trong một thời gian dài, thậm chí gần như vô hạn”[4].

Qua phân tích trên cho thấy, các quan niệm về dịch vụ đa dạng phụ thuộc vào góc độ nghiên cứu của các nhà khoa học. Quan niệm về dịch vụ là đối tượng của HĐDV hiện nay chưa được đề cập trong bất cứ nghiên cứu nào.

1.2. Nguồn gốc dịch vụ

Các Mác khẳng định: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển”[5]. Điều này đã phản ánh rõ nét nguồn gốc ra đời của dịch vụ. Kinh tế loài người trải qua hai giai đoạn sản xuất kinh tế: Kinh tế sản xuất tự cung tự cấp (còn được gọi là kinh tế tự nhiên) và kinh tế sản xuất hàng hóa. Khi giai đoạn kinh tế mang tính chất tự cung tự cấp không thể đáp ứng được, nền kinh tế của loài người chuyển dần sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Những điều kiện ra đời của nền kinh tế sản xuất hàng hóa cũng là các điều kiện ra đời của dịch vụ vì dịch vụ được thừa nhận là “con đẻ” của nền kinh tế sản xuất này. Như vậy, kinh tế sản xuất hàng hóa nói chung và dịch vụ nói riêng ra đời khi thỏa mãn các điều kiện:

(i) Hình thành nhóm người chuyên thực hiện một công việc hoặc một nhóm công việc nhất định. Xuất phát từ điều kiện phân công lao động xã hội của nền kinh tế hàng hóa, lao động tiến dần đến “chuyên môn hóa giữa các cá nhân, các nhóm người (tập thể) hoặc các vùng trong nền kinh tế để làm ra một hay một số loại sản phẩn nhất định với số lượng lớn”[6]. Dịch vụ chỉ ra đời khi xuất hiện các cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoặc một vùng trong nền kinh tế chuyên thực hiện một hoặc một nhóm công việc nhất định.

(ii) Năng lực thực hiện công việc của mỗi cá nhân, mỗi tập thể, thậm chí mỗi vùng kinh tế có sự khác biệt. Điều kiện này chi phối trực tiếp đến các đặc tính của nền kinh tế hàng hóa như có sự trao đổi hàng hóa, cạnh tranh giữa các nhà cung ứng cùng một mặt hàng. Đối với dịch vụ, thực hiện cùng một công việc hoặc nhóm công việc nhất định nhưng mỗi cá nhân, tập thể lại có năng lực thực hiện khác nhau. Do đó, khi tiến hành trao đổi dịch vụ với tư cách hàng hóa trên thị trường, các nhà cung ứng dịch vụ thực hiện trên cơ sở cạnh tranh với nhau, chấp nhận sự khác biệt trong giá cả của cùng một dịch vụ vì còn phụ thuộc vào tính chuyên nghiệp, kỹ năng, chuyên môn, điều kiện vật chất... khi thực hiện công việc.

1.3. Thuộc tính của dịch vụ

Từ nguồn gốc ra đời của dịch vụ có thể thấy dịch vụ mang các thuộc tính cơ bản sau:

- Dịch vụ là hành vi của con người thực hiện công việc nhất định đáp ứng nhu cầu của chủ thể trong xã hội. Dịch vụ là hành vi có ý chí của con người, có thể được hỗ trợ bởi máy móc, khoa học kỹ thuật với mục tiêu đem lại lợi ích vật chất (kết quả hoạt động gia công, kết quả hoạt động sửa chữa…) hoặc lợi ích tinh thần cho con người.

- Dịch vụ là các hoạt động được thực hiện có tính chuyên môn hóa, có tổ chức. Quá trình phân công lao động xã hội chính là quá trình nâng cao kinh nghiệm, chuyên môn hóa từng lĩnh vực cụ thể. Những chủ thể thực hiện chuyên môn hóa là những chủ thể “làm về một phạm vi, một việc gì đó”[7]. Xuất phát từ thuộc tính này nên giữa người cung ứng dịch vụ với người thuê dịch vụ luôn có sự độc lập trong quá trình thực hiện công việc.

- Dịch vụ là một loại hàng hóa luôn gắn liền với thị trường, chịu sự chi phối của quy luật thị trường. Dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt được mua đi - bán lại trên thị trường. Trao đổi dịch vụ trên thị trường được xác định theo hai giá trị là giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa. Các quy luật của kinh tế thị trường trực tiếp chi phối đến sự ra đời, lưu thông dịch vụ trên thị trường.

- Các giao dịch cung ứng, sử dụng dịch vụ luôn mang tính đền bù. Người thuê dịch vụ buộc phải trả một khoản tiền nhất định tương đương với giá trị dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.

Như vậy, từ các phân tích về nguồn gốc dịch vụ và thuộc tính dịch vụ, dịch vụ được định nghĩa như sau: Dịch vụ là hành vi thực hiện công việc nhất định đáp ứng nhu cầu của con người, được thực hiện có tính chuyên môn hóa, có tổ chức, là một loại hàng hóa luôn gắn liền với thị trường, chịu sự chi phối của quy luật thị trường và luôn có tính chất đền bù.

2. Phạm vi dịch vụ là đối tượng của hợp đồng dịch vụ

Nhu cầu lợi ích của con người rất đa dạng dẫn đến các hoạt động kinh tế đáp ứng nhu cầu này cũng đa dạng, trong đó có dịch vụ. Mặc dù các hoạt động dịch vụ đều có chung các thuộc tính như đã phân tích, nhưng khi xem xét trên cơ sở chủ thể thực hiện, vai trò của dịch vụ đối với phát triển kinh tế - xã hội thì dịch vụ phân thành hai loại: Dịch vụ công và dịch vụ tư. Dịch vụ công mang các đặc điểm: (i) Là các công việc được thực hiện bởi cơ quan công quyền hay những chủ thể được chính quyền ủy nhiệm đứng ra thực hiện; (ii) Mục đích của dịch vụ công là phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng và lợi ích tối thiểu cần thiết của xã hội để đảm bảo cuộc sống được bình thường và an toàn; (iii) Người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền; (iv) Lượng cung ứng dịch vụ công sẽ không phụ thuộc vào khả năng chi trả của người sử dụng dịch vụ: Mọi người dân (bất kể đóng thuế nhiều hay ít hoặc không phải đóng thuế) đều có quyền hưởng sự cung ứng dịch vụ công ở một mức độ tối thiểu, với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền. Lượng dịch vụ công cộng mà mỗi người tiêu dùng không phụ thuộc vào mức thuế mà người đó đóng góp[8]. Các đặc điểm này cho thấy, quan hệ cung ứng, sử dụng dịch vụ công cũng tuân theo các thủ tục đặc biệt và không mang tính bình đẳng địa vị pháp lý giữa nhà cung ứng dịch vụ với người sử dụng dịch vụ.

So sánh với dịch vụ công, nhóm dịch vụ tư mang những đặc điểm:

- Sự ra đời của dịch vụ tư xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của một chủ thể hoặc một nhóm chủ thể nhất định.

- Chủ thể cung ứng dịch vụ tư là các cá nhân, tổ chức mà quá trình thực hiện dịch vụ không gắn với quyền lực công - còn được gọi là tính chất công quyền. Cá nhân, tổ chức trước khi thực hiện việc cung ứng dịch vụ phải đăng ký hoạt động hoặc đăng ký thành lập, cấp phép hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật.

- Hoạt động cung ứng dịch vụ tư của bên cung ứng dịch vụ hướng đến mục đích thu lợi nhuận. Khoản lợi nhuận mà bên cung ứng dịch vụ có được là cơ sở để chủ thể này phát triển hoạt động kinh doanh của mình hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của bản thân.

- Lượng cung ứng dịch vụ tư phụ thuộc vào khả năng chi trả của người sử dụng dịch vụ. Mỗi khách hàng có nhu cầu và khả năng chi trả riêng nên lượng cung ứng dịch vụ cũng có sự khác biệt.

Những đặc điểm của dịch vụ tư cho thấy địa vị của bên cung ứng dịch vụ với bên sử dụng dịch vụ là bình đẳng với nhau cũng như để hình thành nên quan hệ cung ứng, sử dụng dịch vụ đòi hỏi các chủ thể phải thỏa thuận đi đến thống nhất. Do đó, cơ sở để xác lập quan hệ cung ứng, sử dụng dịch vụ phải thông qua một quan hệ hợp đồng. Chính vì vậy chúng ta có thể khẳng định, dịch vụ tư là đối tượng của HĐDV.

3. Khái niệm hợp đồng dịch vụ

HĐDV là thuật ngữ được sử dụng trong nhiều bối cảnh khác nhau. HĐDV có thể được dùng dưới góc độ là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và cũng có thể là tổng hợp các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các vấn đề liên quan đến cung ứng, sử dụng dịch vụ.

(i) Dưới góc độ là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh giữa bên cung ứng dịch vụ với bên sử dụng dịch vụ: HĐDV là quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ với bên thuê dịch vụ hướng mà bên cung ứng dịch vụ thực hiện một công việc nhất định đem lại lợi ích cho bên thuê dịch vụ. Lợi ích của bên thuê dịch vụ có thể là các lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần. Nội dung quan hệ HĐDV ghi nhận các quyền, nghĩa vụ của hai bên chủ thể. Như vậy, dưới góc độ là một quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, HĐDV được thiết lập dựa trên ba yếu tố cơ bản: Chủ thể, khách thể và nội dung.

(ii) Hợp đồng dịch vụ là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến cung ứng, sử dụng dịch vụ, bao gồm các quy định về quá trình hình thành, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ giữa các bên cung ứng dịch vụ với bên sử dụng dịch vụ do Nhà nước ban hành, có tính bắt buộc áp dụng hoặc hướng dẫn áp dụng đối với các chủ thể, được bảo đảm bởi cơ chế thực thi của Nhà nước.

4. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ trong Bộ luật Dân sự trên cơ sở đối chiếu bản chất của dịch vụ

Xác định các thuộc tính dịch vụ, xây dựng khái niệm dịch vụ dưới góc nhìn phân biệt với các công việc không mang tính dịch vụ, khái niệm HĐDV là cơ sở để hoàn thiện pháp luật về loại hợp đồng dân sự thông dụng này.

4.1. Quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng dịch vụ và một số điểm bất cập khi đối chiếu với bản chất dịch vụ

Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định riêng dành cho HĐDV là từ Điều 518 đến Điều 526. Với tổng cộng 9 điều luật dành cho hợp đồng dân sự thông dụng này, các quy định pháp luật đã tạo nên một khung pháp lý cơ bản dành cho HĐDV. Tuy nhiên, trên góc nhìn đối chiếu với các thuộc tính dịch vụ cho thấy một số điểm còn chưa phù hợp:

Một là, quy định pháp luật về HĐDV chưa quy định ranh giới giữa công việc mang tính chất dịch vụ và công việc không mang tính chất dịch vụ. Theo Điều 519 Bộ luật Dân sự năm 2005, nguyên tắc pháp luật đặt ra với công việc là đối tượng HĐDV gồm: Có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm và không trái đạo đức xã hội. Nguyên tắc “có thể thực hiện được” đối với dịch vụ được quy định chung chung. Thuộc tính của dịch vụ cho thấy, dịch vụ có hai đặc trưng so với công việc không mang tính dịch vụ là tính chuyên nghiệp và tính sinh kế của người thực hiện công việc. Điều 519 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định chưa cụ thể nên dẫn đến trong thực tiễn xét xử, nhiều Tòa án áp dụng quy định dành cho HĐDV giải quyết tranh chấp hợp đồng nếu hợp đồng có đối tượng là công việc.

Hai là, chưa quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng dành cho các nhà cung ứng dịch vụ chuyên nghiệp. Trong quy định về hợp đồng dân sự nói chung, Việt Nam chưa thừa nhận các nghĩa vụ tiền hợp đồng. Nhiều nghĩa vụ như cung cấp thông tin, tài liệu, yêu cầu… thường phải thực hiện trước khi hợp đồng được giao kết để xác định phạm vi đối tượng. Trong pháp luật của Liên minh Châu Âu đã xây dựng thống nhất một số nguyên tắc chung, trong đó có nguyên tắc chung về HĐDV (Principle of European Law: service contracts - viết tắt PEL SC) quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng dành cho các nhà cung ứng dịch vụ như Điều 1:103 quy định nghĩa vụ cảnh báo trước hợp đồng mà bên cung ứng dịch vụ…

Ba là, chưa quy định về tiêu chuẩn dịch vụ nói chung. Dịch vụ rất đa dạng và bản thân mỗi dịch vụ có một tiêu chuẩn khác nhau hoặc mỗi nhà cung ứng dịch vụ sẽ cung cấp dịch vụ ở một tiêu chuẩn nhất định. Tuy nhiên, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về chất lượng dịch vụ thì pháp luật cần đưa ra các phương thức xác định tiêu chuẩn dịch vụ.

Bốn là, không quy định về thời điểm thực hiện dịch vụ. Về nguyên tắc, sau khi HĐDV được giao kết và có hiệu lực, các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ được thỏa thuận, ghi nhận trong hợp đồng. Tuy nhiên, đối với một nhà cung ứng dịch vụ chuyên nghiệp, pháp luật cần phải có quy định mang tính chất chặt chẽ hơn. Thời điểm thực hiện dịch vụ cần được tham khảo trong pháp luật một số quốc gia, khu vực, đặc biệt là PEL SC.

Năm là, cần thay đổi góc nhìn đối với việc giao thực hiện dịch vụ cho người thứ ba. Theo quy định của pháp luật thì bên cung ứng dịch vụ phải tự mình thực hiện công việc, không được phép giao cho người khác thực hiện thay công việc. Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục kế thừa quy định này trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, dịch vụ là một hoạt động kinh tế đỉnh cao và chất lượng dịch vụ được đảm bảo bởi sự chuyên nghiệp. Nếu pháp luật tiếp tục quy định như vậy thì sẽ giảm bớt tính năng động, linh hoạt cho các nhà cung ứng dịch vụ.

4.2. Một số kiến nghị hoàn thiện đối với quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ

Tác giả xin đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về HĐDV nhằm tương thích với bản chất, thuộc tính của dịch vụ. Cụ thể:

- Hoàn thiện quy định về đối tượng HĐDV. Bên cạnh các yêu cầu đang được pháp luật ghi nhận, chỉ các công việc được thực hiện chuyên nghiệp, có chuyên môn, có tổ chức mới trở thành đối tượng của HĐDV. Hoàn thiện theo hướng này sẽ góp phần xác định rõ ràng quyền, nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ với bên thực hiện một công việc không mang tính dịch vụ.

- Pháp luật cần ghi nhận các nghĩa vụ tiền hợp đồng đối với các chủ thể trong HĐDV. Bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ buộc phải thực hiện các nghĩa vụ do luật định ngay cả khi HĐDV giữa các bên chưa ký kết. Các nghĩa vụ tiền hợp đồng cần được quy định đối với HĐDV bao gồm: (i) Nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu trung thực, cung cấp các chứng chỉ, giấy phép liên quan đến thực hiện dịch vụ và đưa ra các chỉ dẫn của bên thuê dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ; (ii) Nghĩa vụ thu thập thông tin liên quan đến thực hiện dịch vụ của bên cung ứng dịch vụ; (iii) Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin, bảo quản tài liệu, giấy phép hoặc chứng chỉ do bên thuê dịch vụ cung cấp của bên cung ứng dịch vụ; (iv) Nghĩa vụ xây dựng các phương án thực hiện dịch vụ của bên cung ứng dịch vụ. Việc ghi nhận nghĩa vụ xây dựng phương án dịch vụ đòi hỏi pháp luật phải có sự linh hoạt dựa trên đặc thù từng dịch vụ cũng như thói quen trong hoạt động nghề nghiệp hoặc hoạt động kinh doanh; (v) Nghĩa vụ cảnh báo rủi ro của bên cung ứng dịch vụ cho bên thuê dịch vụ; (vi) Nghĩa vụ cảnh báo sự kiện bất thường của bên thuê dịch vụ đối với bên cung ứng dịch vụ; (vii) Nghĩa vụ điều chỉnh nội dung đã đàm phán trong HĐDV khi hoàn cảnh thay đổi.

- Pháp luật cần ghi nhận tiêu chuẩn dịch vụ nhằm tạo nên hành lang pháp lý cho các chủ thể trong quá trình thỏa thuận hoặc cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp nếu có về vấn đề này. Pháp luật cần ghi nhận các phương thức xác định tiêu chuẩn dịch vụ như theo thỏa thuận của các bên, theo nguyên tắc thực hiện dịch vụ của bên cung ứng dịch vụ. Tiêu chuẩn này có thể được xác định theo tiêu chuẩn đã quảng cáo, công bố hoặc tiêu chuẩn chung nhất định của nhóm các nhà cung ứng dịch vụ.

- Pháp luật cần ghi nhận về thời điểm thực hiện dịch vụ. Vấn đề này, pháp luật Việt Nam nên học hỏi quy định trong PEL SC. Thời điểm thực hiện dịch vụ phải là thời điểm mà bên cung ứng dịch vụ đã thu thập đủ thông tin cần thiết và bảo đảm đầy đủ các điều kiện để thực hiện dịch vụ trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

- Pháp luật cần ghi nhận việc giao công việc cho người thứ ba là một quyền của bên cung ứng dịch vụ. Người thứ ba phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố thuộc về chuyên môn, kinh nghiệm tương đương như bên cung ứng dịch vụ. Trường hợp loại trừ là bên thuê dịch vụ yêu cầu đích danh bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc thì chủ thể này không có quyền giao cho người thứ ba.

ThS. Kiều Thị Thùy Linh & ThS. Đèo Thị Thủy

Đại học Luật Hà Nội

Đại học Tây Bắc

Tài liệu tham khảo:

[1]. Báo cáo của Tổng cục Thống kê về cơ cấu kinh tế theo ngành năm 2014 (nguồn: gso.gov.vn).

[2]. Nguyễn Hồng Sơn - Nguyễn Mạnh Hùng (đồng chủ biên - năm 2010), Phát triển ngành dịch vụ: Xu hướng và kinh nghiệm quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 78.

[3]. Adam Smith (1975), An inquiry into the nature and causes of the wealth of nation, Pennsylvania State University, USA, tr. 271.

[4]. Nguyễn Hồng Sơn - Nguyễn Mạnh Hùng (đồng chủ biên - năm 2010), Phát triển ngành dịch vụ: Xu hướng và kinh nghiệm quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 20.

[5]. K. Marx, Ph.Angghen Toàn tập, Phần II, Nxb. Chính trị quốc gia, 1995, tr. 576.

[6]. Đại học Luật Hà Nội (2001), Đề cương bài giảng Kinh tế chính trị học Mác - Lê Nin (lưu hành nội bộ), Nxb. Thống Kê, tr. 33.

[7]. GS.TS. Nguyễn Như ý (chủ biên) (2011), Đại từ điển tiếng Việt (tái bản lần thứ 12), Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr. 309.

[8]. PGS.TS. Lê Chi Mai (2008), Dịch vụ công, Tạp chí Bảo hiểm số 3 năm 2008 (nguồn: http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/05/24/d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-cng).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: