Thứ bảy 16/05/2026 12:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo mẫu

Tóm tắt: Bài viết đề cập một số vấn đề lý luận chung và phân tích quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng theo mẫu, để chỉ ra những bất cập và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Tóm tắt: Bài viết đề cập một số vấn đề lý luận chung và phân tích quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng theo mẫu, để chỉ ra những bất cập và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The article mentions some general theoretical issues and analyzes the current Vietnamese legal provisions on model contracts, to point out inadequacies and proposes some recommendations to improve the law.

1. Nhận diện hợp đồng theo mẫu

Dưới góc độ pháp lý, pháp luật của các quốc gia khác nhau sử dụng nhiều tên gọi để nhận dạng hợp đồng theo mẫu như: Hợp đồng tiêu chuẩn, hợp đồng hàng loạt, hợp đồng gia nhập… Các tên gọi trên phần nào đã thể hiện các đặc điểm cơ bản, quan trọng của loại hợp đồng này. Theo Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Việt thì hợp đồng theo mẫu (Contrat-type) là một dạng của hợp đồng trong đó loại trừ mọi sự đàm phán[1].

Ở Việt Nam, hợp đồng theo mẫu được ghi nhận là “hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”[2]. Cũng theo cách tiếp cận này, ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng thì hợp đồng theo mẫu còn có thể được nhận diện bởi một số dấu hiệu đặc trưng sau:

Thứ nhất, tất cả các điều khoản trong hợp đồng theo mẫu đều do một bên đưa ra. Thông thường, các bên sẽ cùng nhau thỏa thuận về việc xây dựng, sửa đổi các điều khoản trong hợp đồng nhưng toàn bộ nội dung của hợp đồng theo mẫu đều do người cung cấp hàng hoá, dịch vụ soạn sẵn.

Thứ hai, người tiêu dùng hay bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu tham gia vào loại hợp đồng này theo nguyên tắc chọn hoặc bỏ (take it or leave it). Họ không có quyền thỏa thuận hay sửa đổi các nội dung trong hợp đồng theo mẫu mà chỉ có thể chọn đồng ý với tất cả nội dung của hợp đồng và tiến hành giao kết hoặc từ chối giao kết hợp đồng đó.

Thứ ba, hợp đồng theo mẫu thường có tính chuyên nghiệp và chuẩn hóa cao. Do nhu cầu sử dụng lâu dài và rộng rãi với nhiều khách hàng, đối tác nên khi xây dựng hợp đồng theo mẫu, bên đưa ra hợp đồng cần nghiên cứu cẩn thận, tỉ mỉ nội dung, tìm kiếm sự tư vấn của chuyên gia để có một hợp đồng tốt nhất. Ngoài ra, để có thể đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì nội dung của hợp đồng cũng phải được chuẩn hóa. Hình thức của hợp đồng theo mẫu cũng được bên đưa ra hợp đồng đặc biệt quan tâm, bởi hình thức đẹp, chuyên nghiệp sẽ tạo niềm tin cho khách hàng trong quá trình giao kết.

Thứ tư, do đã được chuẩn hóa cả về nội dung và hình thức, nên hợp đồng theo mẫu ít bị thay đổi và được sử dụng trong thời gian dài dẫn đến chúng có tính ổn định cao. Mặt khác, hợp đồng theo mẫu chỉ được sử dụng khi bên đưa ra hợp đồng đã công khai hợp đồng thông qua việc đăng ký[3] với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các hình thức công khai khác. Để có thể thay đổi nội dung của hợp đồng đã được đăng ký, bên đưa ra hợp đồng phải thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật.

Thứ năm, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được áp dụng với hợp đồng theo mẫu một cách tương đối. Việc xác lập, sửa đổi, thực hiện hay chấm dứt hợp đồng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản là mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng; các bên thiện chí, trung thực trong giao kết, thực hiện hợp đồng; tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng; việc xác lập, thực hiện, chấm dứt hợp đồng không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; đặc biệt là nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyên cam kết, thoả thuận[4]. Với hợp đồng theo mẫu, bên đưa ra hợp đồng và bên được đề nghị giao kết hợp đồng không bình đẳng do chỉ có bên đưa ra hợp đồng được quyết định nội dung của hợp đồng. Sự tự do ý chí, tự nguyện cam kết, thỏa thuận cũng chỉ thể hiện một cách hạn chế. Theo đó, bên được đề nghị giao kết hợp đồng không được tự do bày tỏ ý kiến liên quan đến việc thay đổi bất cứ điều khoản nào trong hợp đồng trước và sau khi giao kết mà chỉ tự do ý chí trong việc quyết định mình có tham gia hay không tham gia giao kết hợp đồng này.

2. Một số bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng theo mẫu

Thứ nhất, mâu thuẫn trong việc nhận diện hợp đồng theo mẫu.

Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận hợp đồng theo mẫu là “hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 lại tiếp cận hợp đồng theo mẫu là “hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng” (khoản 5 Điều 3). Cách tiếp cận của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 là chưa phù hợp, bởi vì, không phải bất cứ hợp đồng nào do người cung cấp hàng hóa, dịch vụ soạn thảo đều là hợp đồng theo mẫu. Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh soạn thảo trước hợp đồng nhưng khách hàng vẫn có quyền đàm phán, sửa đổi nội dung thì hợp đồng này là hợp đồng soạn sẵn, không phải là hợp đồng theo mẫu. Định nghĩa hợp đồng theo mẫu khác nhau tại các văn bản pháp luật dẫn đến hệ quả là các chủ thể khó tiếp cận và có cách nhận diện hợp đồng theo mẫu không thống nhất. Đặc biệt, định nghĩa hợp đồng theo mẫu tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 sẽ không giới hạn được phạm vi các hợp đồng được coi là hợp đồng theo mẫu, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của các bên. Việc vi phạm các quy định về soạn thảo, thực hiện hợp đồng theo mẫu có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý bất lợi như hợp đồng bị hủy bỏ, không đăng ký hợp đồng theo mẫu có thể bị xử phạt vi phạm hành chính[5]…

Thứ hai, bất cập trong quy định công khai, đăng ký hợp đồng theo mẫu.

Hiện nay, quy định về công khai hợp đồng theo mẫu còn mơ hồ, thiếu cụ thể. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng[6]. Quy định bắt buộc công khai hợp đồng theo mẫu là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, tuy nhiên, chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung cần công khai và những hình thức công khai nào là đúng quy định pháp luật. Đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một trong những cách công khai hiệu quả nhất và có căn cứ pháp lý rõ ràng. Hiện nay, pháp luật quy định tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trước khi áp dụng hợp đồng[7]. Theo Điều 9 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 29/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ Công Thương chịu trách nhiệm tiếp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu trong trường hợp hợp đồng theo mẫu áp dụng trên phạm vi cả nước hoặc áp dụng trên phạm vi từ hai tỉnh trở lên, Sở Công Thương chịu trách nhiệm tiếp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu trong trường hợp hợp đồng theo mẫu áp dụng trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký, hợp đồng theo mẫu được công bố công khai và lưu trữ trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký. Theo cách quy định trên thì hàng hóa, dịch vụ không thuộc danh mục thiết yếu phải công khai nhưng không cần đăng ký với cơ quan nhà nước thì cần có hình thức công khai như thế nào? Theo tác giả, có một số hình thức tự công khai như: Đăng trên website của doanh nghiệp, đặt bản hợp đồng mẫu công khai tại trụ sở doanh nghiệp, công khai qua một bên thứ ba… Tuy nhiên, các cách thức này đều phát sinh rủi ro vì bên đưa ra hợp đồng trực tiếp quản lý nên vẫn có cơ hội để chỉnh sửa, thay đổi hợp đồng. Mặt khác, dù hợp đồng đã được công khai nhưng không có cơ chế bảo đảm các bên không thể thay đổi nội dung của hợp đồng. Nếu các bên vẫn có thể sửa đổi hợp đồng thì một trong những đặc tính cơ bản của hợp đồng theo mẫu không được bảo đảm.

Thứ ba, danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu còn chưa hợp lý.

Hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu thì bắt buộc phải đăng ký hợp đồng theo mẫu. Theo Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg), Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg (Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg), Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg ngày 05/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg (Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg) và Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg ngày 13/8/2019 sửa đổi Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg (Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg), có 09 loại hàng hóa và dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu. Cụ thể đó là: Cung cấp điện sinh hoạt; cung cấp nước sinh hoạt; truyền hình trả tiền; dịch vụ điện thoại cố định mặt đất; dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán trả sau); dịch vụ truy nhập internet; vận chuyển hành khách đường hàng không; vận chuyển hành khách đường sắt; mua bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý khu chung cư cung cấp. Hai dịch vụ là phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng) và bảo hiểm nhân thọ được thêm vào danh mục theo Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg nhưng sau đó lần lượt Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg và Quyết định số 25/2019/QĐ-TTg bãi bỏ cho thấy việc đánh giá hàng hoá, danh mục cần thêm vào danh mục chưa có tính dự báo.

Quy định danh mục như trên còn có một số hạn chế như sau:

(i) Không phải hàng hóa, dịch vụ nào trong Danh mục trên cũng là thiết yếu. Luật Giá năm 2012 quy định, hàng hóa và dịch vụ thiết yếu là những hàng hóa, dịch vụ không thể thiếu cho sản xuất, đời sống, quốc phòng, an ninh, gồm: Nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, dịch vụ chính phục vụ sản xuất, lưu thông; sản phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người và quốc phòng, an ninh. Nếu đối chiếu với Danh mục hàng hóa và dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu ở trên thì có thể thấy có những nhu cầu thực sự thiết yếu với con người như sử dụng điện, nước; nhu cầu đi lại. Bên cạnh đó, những hàng hóa, dịch vụ như internet, dịch vụ di động, mua chung cư, vay vốn, mua bảo hiểm nhân thọ là những nhu cầu không thể thiếu mà chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Trong lĩnh vực vận tải hành khách, Việt Nam có dịch vụ vận tải bằng đường bộ, đường biển, đường sắt và đường hàng không. Trong đó, nhu cầu đi lại bằng đường bộ là lớn hơn so với đường hàng không. Vậy chỉ quy định vận chuyển hành khách bằng đường hàng không thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu là chưa phù hợp.

(ii) Theo tác giả, đặc điểm chung lớn nhất của các hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục kể trên là tính phổ biến, có số lượng người dùng lớn trên phạm vi cả nước. Vì vậy, cần phải lấy tính phổ biến và số lượng người sử dụng lớn để nói về những hàng hoá, dịch vụ trên mà không phải là tính thiết yếu.

Thứ tư, giải thích hợp đồng theo mẫu.

Khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó. Điều 15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng ghi nhận trường hợp có cách hiểu khác nhau về nội dung của hợp đồng thì giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng. Quy định trên là cần thiết, bởi lẽ bên tạo ra hợp đồng theo mẫu thường tìm cách lược bỏ những điều khoản có lợi cho bên kia và thay vào đó là những điều khoản có lợi cho mình hoặc những điều khoản “lập lờ” nhằm trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý làm người tiêu dùng hiểu sai nội dung hợp đồng. Mặt khác, bên được đề nghị giao kết hợp đồng không có quyền đàm phán sửa đổi nội dung hợp đồng nên cũng ít nghiên cứu sâu, nhiều người không đọc nội dung hợp đồng vẫn ký kết. Các quy định trên đều hướng tới bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đưa phần bất lợi về bên đưa ra hợp đồng khi giải thích hợp đồng để buộc họ phải xây dựng hợp đồng theo mẫu theo hướng rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu.

Thứ năm, điều khoản vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 405 thì: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Đây cũng là một quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng, người tiêu dùng. Tuy nhiên, quy định này tồn tại hai bấp cập cụ thể sau:

- Không xét đến mức độ, phạm vi, giới hạn của các điều khoản miễn trách nhiệm, tăng trách nhiệm mà quy định bất cứ điều khoản nào có nội dung như vậy đều bị vô hiệu. Thực tế, trong nhiều trường hợp việc miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng và hạn chế quyền của bên giao kết là hoàn toàn chính đáng và hợp lý, ví dụ như điều khoản miễn trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ trong trường hợp khách quan như gặp sự cố về thiên tai, dịch bệnh… Vì vậy, việc phủ nhận tuyệt đối quyền đưa ra các điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên chấp nhận hợp đồng là chưa phù hợp.

- Bất cập thứ hai của quy định này là thêm “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” ở phía cuối. Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng được soạn sẵn, bên được đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có thể thể hiện ý chí của mình trong việc có giao kết hay không giao kết mà không được sửa đổi nội dung, thêm các ý kiến khác. Thực tế, các bên cũng không xác lập phụ lục hợp đồng hay các văn bản khác với nội dung như: “Bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ đồng ý với những điều khoản bất lợi về miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của mình”. Vì vậy, các bên không thể đưa ra thỏa thuận khác và cũng không có cơ sở để xác định các bên có thỏa thuận. Do đó, quy định về thỏa thuận khác trong trường hợp này là không cần thiết và không có tính khả thi.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo mẫu

Thứ nhất, cần thống nhất định nghĩa hợp đồng theo mẫu trong các văn bản pháp luật. Theo đó, nên áp dụng thống nhất về hợp đồng theo mẫu theo quy định tại Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, vì định nghĩa này là đầy đủ, phù hợp pháp luật Việt Nam hiện hành. Cần sửa đổi định nghĩa về hợp đồng theo mẫu tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thống nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, sửa đổi nội dung về danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu bắt buộc phải đăng ký hợp đồng theo mẫu. Theo tác giả, nên sửa tên danh mục thành “Danh mục hàng hóa, dịch vụ bắt buộc phải đăng ký hợp đồng theo mẫu”, bỏ cụm từ “thiết yếu” đang được sử dụng. Bên cạnh đó, cần xem xét sửa đổi danh mục hàng hóa, dịch vụ theo hướng hợp lý hơn, thêm những hàng hóa, dịch vụ phổ biến khác như dịch vụ vận tải hành khách đường bộ vào danh mục này.

Thứ ba, cần sửa đổi quy định về công khai và đăng ký hợp đồng theo mẫu. Cụ thể, cần quy định tất cả các hợp đồng theo mẫu đều phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và áp dụng chung một trình tự, thủ tục đăng ký dù đó là hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu hay không bởi chỉ có việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới bảo đảm tính công khai của hợp đồng theo mẫu. Ngoài ra, vẫn phải áp dụng đồng bộ những biện pháp công khai khác như doanh nghiệp có sử dụng website thì phải đăng tải trên website của doanh nghiệp mình.

Thứ tư, sửa đổi quy định về giải thích hợp đồng theo mẫu, cụ thể là khoản 6 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015 về giải thích hợp đồng. Theo đó, sửa quy định “trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia” thành “trường hợp bên đưa ra hợp đồng theo mẫu có điều khoản vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích chính đáng của bên chấp nhận hợp đồng thì phải giải thích hợp đồng theo hướng có lợi cho bên chấp nhận hợp đồng”. Sửa đổi như vậy sẽ tránh được trường hợp bên soạn thảo không phải một trong hai bên trực tiếp giao kết hợp đồng và tránh được việc nhìn nhận những “nội dung bất lợi” một cách phiến diện mà phải đặt chúng trong mối tương quan với toàn bộ nội dung khác của hợp đồng để xem điều khoản đó có vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích chính đáng của bên chấp nhận giao kết hay chưa.

Thứ năm, sửa đổi quy định về điều khoản vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu. Cụ thể sửa quy định về điều khoản vô hiệu thành: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm của bên chấp nhận hợp đồng một cách không hợp lý, làm ảnh hưởng hoặc mất quyền và lợi ích chính đáng của bên chấp nhận hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực”. Cách quy định này vừa có thể xem xét mức độ, phạm vi và giới hạn của các điều khoản miễn trách nhiệm, cho phép sử dụng điều khoản đó một cách hợp lý vừa bỏ quy định “trừ trường hợp có thoả thuận khác” chưa phù hợp.

Vũ Hồng Nam
Trường Đại học Luật Hà Nội



[1]. Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Việt (2009), Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 192.

[2]. Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thì: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

[4]. Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 49 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

[6]. Khoản 1 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 29/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: