Thứ năm 20/08/2026 04:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại

Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia và đang tiến hành đàm phán các hiệp định thương mại tự do, yêu cầu sửa đổi các quy định về hợp đồng thương mại nhằm phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 và các cam kết quốc tế đang trở nên cấp bách. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: In the context that Vietnam has joined and is negotiating free trade agreements, it is required to amend regulations on commercial contracts to be consistent with the 2015 Civil Code and international commitments becoming urgent. Within the scope of this article, the author focuses on analyzing the legal status of commercial contracts, thereby proposing some solutions to improve the law on this issue.

1. Sự cần thiết sửa đổi các quy định về hợp đồng thương mại

Sau gần 20 năm thi hành, Luật Thương mại năm 2005 đã có những tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội, tạo ra hành lang pháp lý thống nhất cho các hoạt động kinh tế, thương mại và góp phần cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mở rộng tự do hóa thương mại, “làn sóng” ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở nên mạnh mẽ trên khắp thế giới và trở thành một xu thế tất yếu trong quan hệ kinh tế quốc tế. Không nằm ngoài xu thế đó, trong những năm qua, Việt Nam đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều hiệp định FTA, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội. Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới, có khoảng 300 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực, các hiệp định này có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia ký kết được 15 hiệp định FTA, điển hình như Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam; Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc; Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc… Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn đang tích cực tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định FTA, góp phần mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đi liền với đó là những thách thức đòi hỏi nước ta sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển, hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Thương mại đáp ứng, phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như phát triển kinh tế trong nước, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bền vững, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong những năm tới.

Hợp đồng thương mại là dạng đặc thù của hợp đồng dân sự nên hợp đồng thương mại mang những đặc điểm cơ bản của hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, do phát sinh trong quan hệ thương mại nên hợp đồng thương mại còn có những đặc thù so với hợp dồng dân sự thuần túy. Những điểm đặc thù này gắn liền với lĩnh vực phát sinh quan hệ hợp đồng, thành phần chủ thể, mục đích của hợp đồng và tính đền bù của hợp đồng trong thương mại. Có thể nói, hợp đồng thương mại là cơ sở pháp lý giúp các bên thực hiện hoạt động thương mại, cam kết thực hiện các thỏa thuận và nghĩa vụ mà các bên đã đặt ra và là cơ sở bảo vệ lợi ích cho các bên khi có tranh chấp xảy ra. Hiện nay, Luật Thương mại năm 2005 là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định về vấn đề liên quan đến việc thực hiện hoạt động thương mại trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian qua, các quy định về hợp đồng thương mại trong Luật Thương mại năm 2005 đã bộc lộ những hạn chế nhất định: Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành làm cho một số quy định về hợp đồng thương mại chưa thống nhất, đồng bộ với quy định về hợp đồng dân sự, chưa bảo đảm phù hợp với nguyên tắc của pháp luật dân sự, trong đó nguyên tắc tôn trọng tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được xác định là nền tảng của hợp đồng thương mại; bảo đảm sự phù hợp với các điều ước quốc tế về thương mại mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập và pháp luật, tập quán thương mại quốc tế; bảo đảm tính minh bạch nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước nhưng không làm cản trở cho hoạt động thương mại hợp pháp. Vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành đã đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung những văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực có liên quan, trong đó có Luật Thương mại năm 2005. Trong bối cảnh đó, dễ dàng nhận thấy một số quy định trong Luật Thương mại năm 2005 trùng lặp hoặc mâu thuẫn với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 như: Quy định liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa, gia công trong thương mại, cho thuê hàng hóa, đấu giá hàng hóa, xử lý hành vi vi phạm hợp đồng... Do vậy, cần sửa đổi Luật Thương mại năm 2005 nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình tự do hóa thương mại.

2. Một số vướng mắc, bất cập về hợp đồng thương mại theo quy định pháp luật hiện hành

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 thì chủ thể của hợp đồng thương mại phải có ít nhất một bên là thương nhân, đây là chủ thể bắt buộc trong hợp đồng thương mại. Qua thực tiễn thi hành cho thấy, quy định này không còn phù hợp, khái niệm “thương nhân” hiện chưa bao quát được nhiều hoạt động ở khu vực “phi chính thức” cũng nhằm mục đích sinh lợi nhưng hoạt động thường xuyên như buôn bán ô tô, bất động sản… Bên cạnh đó, với quy định yêu cầu thương nhân phải có đăng ký kinh doanh cũng không còn phù hợp bởi quy định này cũng đang bỏ sót các chủ thể hoạt động thương mại nhưng không đăng ký kinh doanh. Như vậy, vô hình trung sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này như công tác quản lý thuế thu nhập của các thương nhân có phát sinh thu nhập; bảo vệ quyền lợi cho người mua, người bán, trung gian thương mại...

Bên cạnh đó, bất cập trong khái niệm “thương nhân” cũng đã dẫn đến thực tế là Luật Thương mại năm 2005 chỉ điều chỉnh đối với hợp đồng thương mại có ít nhất một bên là thương nhân, những trường hợp còn lại thì theo sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các luật chuyên ngành khác. Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn trong quy định của Luật Thương mại năm 2005 với Bộ luật Dân sự năm 2015 về phạt vi phạm hợp đồng; mâu thuẫn với quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 về phạm vi điều chỉnh. Như vậy, pháp luật thương mại đã có sự mâu thuẫn so với các luật khác trong cùng hệ thống pháp luật quốc gia, dẫn đến việc tham chiếu với quy định của các hiệp định FTA thế hệ mới càng trở nên khó khăn hơn khi đàm phán, ký kết, thi hành các hiệp định FTA hay nội luật hóa quy định của các hiệp định FTA trong lĩnh vực thương mại.

Thứ hai, một số quy định của Luật Thương mại năm 2005 về hợp đồng mua bán hàng hóa còn tồn tại một số bất cập đã và đang gây cản trở nhất định tới việc lựa chọn áp dụng pháp luật Việt Nam trong thực tiễn hoạt động thương mại như:

- Theo Điều 62 Luật Thương mại năm 2005 quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa thì trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thoả thuận, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao. Như vậy, có thể hiểu rằng, khi hàng xuống cảng thì đã mặc nhiên được coi là chuyển quyền sở hữu cho người mua hàng, theo tác giả, điều này gây bất lợi cho bên mua và không phù hợp với thông lệ quốc tế. Bởi, theo thông lệ quốc tế, hàng hóa được chuyển quyền sở hữu cho người mua kể từ khi người này nhận được các chứng từ định đoạt về hàng hóa.

- Theo Điều 61 Luật Thương mại năm 2005 quy định về thời điểm chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển thì trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá đang trên đường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng. Quy định này cho phép xác định thời điểm rủi ro được chuyển sang người mua trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, dưới góc độ thực tiễn thì quy định này chưa thực sự phù hợp bởi rủi ro có thể phát sinh kể từ thời điểm hàng hóa không còn nằm trong tầm kiểm soát của người bán, tức là thời điểm hàng hóa được người bán giao cho người vận chuyển và rất có thể hàng hóa bị hư hỏng trước thời điểm ký kết hợp đồng. Như vậy, vô hình trung đã bỏ qua vai trò của người vận chuyển hàng hóa khiến bên mua dễ bị nhận rủi ro về hàng hóa.

Thứ ba, hiện nay, đối với hợp đồng dân sự thông thường thì mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, còn đối với hợp đồng thương mại thì mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm… Có thể thấy rằng, việc Luật Thương mại năm 2005 vẫn giữ quy định về giới hạn mức phạt vi phạm 8% như trên là chưa thực sự hợp lý bởi hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, quy định trên phần nào hạn chế sự tự do thỏa thuận giữa các bên khi giao kết hợp đồng.

Thứ tư, theo Điều 307 Luật Thương mại năm 2005, chế tài phạt vi phạm có thể áp dụng đồng thời với chế tài buộc bồi thường thiệt hại, hay nói cách khác, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm không làm mất quyền áp dụng chế tài buộc bồi thường thiệt hại của bên bị vi phạm. Tuy nhiên, nội dung này đã được ghi nhận trong Điều 316 Luật Thương mại năm 2005: “Một bên không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác”. Do đó, việc đặt ra một điều luật riêng để điều chỉnh mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như trong Điều 307 là không cần thiết. Không những thế, nội dung của Điều 307 lại chưa hoàn chỉnh, không đề cập đến căn cứ áp dụng của chế tài buộc bồi thường thiệt hại nên gây lúng túng khi áp dụng.

Thứ năm, có sự mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 trong quy định về chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Vi phạm nghĩa vụ thanh toán là hành vi vi phạm tương đối phổ biến trong các hợp đồng thương mại. Chính vì vậy, các bên chủ thể của hợp đồng rất quan tâm đến thỏa thuận lãi suất trong trường hợp chậm thanh toán. Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 cho phép các bên thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán trong hợp đồng thương mại mà không bị giới hạn mức tối đa. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các bên có quyền thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán nhưng không được vượt quá 20%/năm. Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 được coi là luật gốc điều chỉnh quan hệ hợp đồng, trong đó có khống chế mức lãi suất các bên được phép thỏa thuận thì việc thỏa thuận vượt quá mức lãi suất này trong hợp đồng thương mại có thực sự phù hợp hay không?

3. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại

Để khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quy định về hợp đồng thương mại trong Luật Thương mại năm 2005, tác giả kiến nghị một số giải pháp cụ thể như sau:

Một là, nghiên cứu sửa khái niệm “thương nhân” theo hướng, thương nhân là các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên; thương nhân bao gồm thương nhân đăng ký kinh doanh và thương nhân thực tế (không đăng ký kinh doanh nhưng thực hiện hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên trên thị trường).

Hai là, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần có quy định cụ thể về vai trò, trách nhiệm của người vận chuyển theo các hiệp định FTA mà Việt Nam tham gia ký kết. Về vấn đề này, cần nghiên cứu sửa đổi để pháp luật thương mại Việt Nam phù hợp với Công ước Viên năm 1980, theo đó, thời điểm chuyển rủi ro là thời điểm hàng hóa được giao cho người chuyên chở là người đã phát hành chứng từ xác nhận hợp đồng vận chuyển. Trừ trường hợp lúc ký kết hợp đồng mua bán, người bán đã biết hoặc bắt buộc phải biết, không thể không biết rằng hàng hóa đã bị mất mát hay hư hỏng nhưng không thông báo cho người mua. Như vậy, việc phát sinh rủi ro hàng hoá có thể từ người bán, người mua hoặc người chuyên chở chứ không phải chỉ có người mua và người bán.

Ba là, bổ sung quy định để thống nhất cách hiểu về thời điểm tồn tại của điều khoản phạt vi phạm, mức phạt vi phạm trong quy định của Luật Thương mại năm 2005. Theo quan điểm của tác giả, thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng phải tồn tại vào thời điểm bên bị vi phạm đưa ra yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng và không nhất thiết phải tồn tại trước khi hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, không nên quy định giới hạn của mức phạt vi phạm mà nên để các bên tự do thỏa thuận. Bên cạnh đó, cần có sự thống nhất trong quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 về mối quan hệ giữa hai chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Bốn là, như đã phân tích ở phần trên, việc đặt ra một điều luật riêng để điều chỉnh mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như trong Điều 307 Luật Thương mại năm 2005 là không cần thiết, vì vậy, tác giả đề xuất bãi bỏ Điều 307 của Luật này.

Năm là, bổ sung những quy định cụ thể về giao kết hợp đồng điện tử như khái niệm “đề nghị giao kết hợp đồng điện tử”, thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng điện tử; bổ sung quy định về chủ thể hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hình thức hợp đồng mua bán doanh nghiệp đối với các thương vụ mua bán doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, không phải là doanh nghiệp trong lĩnh vực đặc thù. Ngoài ra, cần đa dạng nhiều loại hình thức hợp đồng thương mại nhằm tạo thuận lợi cho thương nhân trong giao kết hợp đồng và phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Bên cạnh đó, Luật Thương mại năm 2005 cần bổ sung quy định rõ ràng về hình thức của hợp đồng môi giới thương mại, nên cho phép các bên có quyền tự quyết định hình thức của hợp đồng dưới dạng văn bản hoặc các hình thức có giá trị pháp lý tương đương văn bản. Đối với hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, cần quy định rõ trường hợp bên nhận ủy thác không làm theo đúng sự chỉ dẫn của bên ủy thác nhưng mang lại lợi ích kinh tế cho bên ủy thác sẽ giải quyết như thế nào để bảo đảm quyền lợi cho cả hai bên. Đối với hợp đồng đại lý thương mại, cần bổ sung quy định cho phép bên đại lý có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân để phù hợp với thực tiễn thực hiện hoạt động thương mại này.

Sáu là, Luật Thương mại năm 2005 cần bổ sung quy định rõ ràng về việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, theo đó, Luật cần quy định lãi suất chậm thanh toán mà các bên được áp dụng trong hợp đồng thương mại phù hợp với quy định với Bộ luật Dân sự năm 2015.

Có thể nói, đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì việc tham gia vào các hiệp định FTA tiêu chuẩn cao được xem là cơ hội để rà soát, điều chỉnh các quy định pháp luật tiệm cận hơn với xu hướng thương mại quốc tế hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng đặt ra những thách thức đòi hỏi hệ thống pháp luật cần phải được xem xét kỹ lưỡng cả về nội dung và tầm nhìn, đặc biệt là việc xác định được những rủi ro thương mại có thể phát sinh, đề ra cơ chế, giải pháp đối với các vấn đề pháp lý mới đặt ra trong quan hệ thương mại. Do vậy, việc tiếp tục rà soát, đánh giá khả năng tương thích của pháp luật Việt Nam và cơ chế bảo đảm thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại đóng vai trò hết sức quan trọng. Việt Nam phải bảo đảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp để phát triển trong sự ràng buộc bởi các cam kết mở cửa thị trường cũng như các hiệp định đã, đang và sẽ đàm phán. Khi các vấn đề này được hoàn thiện theo hướng giải pháp sẽ là điều kiện cần thiết để giúp hoạt động thương mại được diễn ra hiệu quả, đáp ứng với các yêu cầu hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các quy định về hợp đồng thương mại hiện nay ở Việt Nam là cần thiết, nhằm thúc các hoạt động của thương nhân, đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước, thúc đẩy sự hội nhập kinh tế của các thương gia trong nền kinh tế thế giới.

TS. Lê Minh Thái

Khoa Luật, Đại học Văn Lang

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 376), tháng 3/2023

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: