Thứ ba 22/09/2026 06:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức

Bài viết phân tích các quy định pháp luật có liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật vấn đề này. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật đối với quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức trong thời gian tới.

1. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức và một số vướng mắc, bất cập

1.1. Cơ sở pháp lý về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức là việc viên chức tự nguyện chấm dứt việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và chấm dứt việc thụ hưởng quyền và lợi ích từ đơn vị sự nghiệp công lập khi thỏa mãn điều kiện luật định về trường hợp và thời gian báo trước. Đây là một quyền rất cơ bản của người lao động[1] nói chung và viên chức nói riêng. Rất nhiều quy định trong Luật Viên chức năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2019 (Luật Viên chức) về quyền, hợp đồng làm việc, chế độ thôi việc, chế độ hưu trí được quy định trên nền tảng của pháp luật lao động. Điều đó một phần thể hiện bản chất quan hệ lao động giữa viên chức và đơn vị nghiệp công lập - quan hệ pháp luật bình đẳng. Tuy nhiên, chính vì sự đặc thù về hoạt động nghề nghiệp và hợp đồng làm việc nên các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của viên chức cũng khác so với người lao động khác.

Khoản 5 Điều 5 Luật Viên chức quy định: “Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc quyền và nghĩa vụ của mỗi bên”. Bên cạnh đó, “hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”[2].

Không phải ngẫu nhiên mà quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động[3] được quy định trước cả quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động[4], điều đó thể hiện pháp luật ưu tiên bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế. Ngược lại, tại Điều 29 Luật Viên chức quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của đơn vị sự nghiệp[5] trước quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của viên chức[6]. Đây là một trong những chế định quan trọng trong pháp luật viên chức cũng như thể hiện sự cân bằng và hài hòa về lợi ích trong mối quan hệ của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Vì vậy, để thể hiện quyền bình đẳng trong mối quan hệ pháp luật đó, cần có những quy định về các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng để thể hiện sự cân bằng và bảo đảm quyền và lợi ích của hai phía.

1.2. Các trường hợp viên chức được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc

Tại Điều 29 Luật Viên chức đã quy định rõ về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập cũng như viên chức trong những trường hợp cụ thể. Đối với viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn thì Luật quy định viên chức có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 45 ngày[7]. Viên chức làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn thì chỉ được thực hiện quyền này trong các trường hợp cụ thể quy định tại khoản 5 Điều 29 của Luật như sau: (i) Không được bố trí theo đúng vị trí việc làm, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng làm việc; (ii) Không được trả lương đầy đủ hoặc không được trả lương đúng thời hạn theo hợp đồng làm việc; (iii) Bị ngược đãi, bị cưỡng bức lao động; (iv) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; (v) Viên chức nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở chữa bệnh; (vi) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị từ 03 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục. Trong các trường hợp này, viên chức phải thông báo bằng văn bản về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 03 ngày, đối với trường hợp ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị từ 03 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục thì thông báo trước ít nhất 30 ngày.

Quy định này của Luật Viên chức thực chất là cụ thể hóa quy định pháp luật lao động là người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải có lý do nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động theo thời gian quy định. Tuy nhiên, quy định này đối với viên chức có một số trường hợp ngoại lệ mà đơn vị sự nghiệp chưa giải quyết thôi việc cho viên chức theo nguyện vọng.

Đặc thù của hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, các nghị định hướng dẫn Luật Viên chức về sử dụng và quản lý viên chức (Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ và Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ (Nghị định số 115/2020/NĐ-CP)) đều xác định một số trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chưa giải quyết thôi việc cho viên chức như: (i) Đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử; (ii) Chưa làm việc đủ thời gian cam kết với đơn vị sự nghiệp công lập khi được cử đi đào tạo; (iii) Chưa hoàn thành việc thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập; (iv) Do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế[8]. Nếu thuộc các trường hợp này, đơn vị sự nghiệp công lập tạm thời chưa giải quyết thôi việc cho viên chức để có thể giải quyết xong vấn đề nêu trên. Quy định này không làm viên chức mất quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà chỉ tạm ngưng quá trình giải quyết thôi việc. Nếu như các trường hợp khác đều được quy định chi tiết về trình tự, thủ tục cũng như thực hiện khá rõ ràng thì trường hợp “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế” lại chưa được hướng dẫn chi tiết. Vì vậy, đã xảy ra một số trường hợp viên chức xin thôi việc đúng theo quy định của Luật Viên chức nhưng vì quy định này của Nghị định nên viên chức không được đơn vị đồng ý và sau đó vì lý do cá nhân khó khăn của mình, viên chức không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được giao thì lại bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc. Do đó, quyền lợi hợp pháp viên chức có thể bị ảnh hưởng.

1.3. Trách nhiệm giải quyết của đơn vị sự nghiệp công lập

Có thể thấy, quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế” mà chưa giải quyết thôi việc của viên chức được đặt ra để bảo đảm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập không bị ảnh hưởng do việc chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức. Quy định này được áp dụng khi thỏa mãn hai điều kiện: (i) Do yêu cầu công tác; (ii) Chưa bố trí được người thay thế tại đơn vị.

Tại các đơn vị sự nghiệp công lập, mỗi vị trí việc làm của viên chức đều gắn với công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng. Như vậy, điều kiện về yêu cầu công tác cần phải xác định rõ những công việc và nhiệm vụ nào mà viên chức đang được giao thực hiện mà không thể chuyển giao cho viên chức khác được, hoặc có cơ sở cho rằng chuyển giao đó sẽ không đạt hiệu quả, chất lượng. Hoặc trong trường hợp viên chức quản lý xin thôi việc nhưng đơn vị sự nghiệp công lập chưa lựa chọn được viên chức phù hợp để bổ nhiệm hoặc người được quy hoạch còn thiếu một số chứng chỉ, nghiệp vụ quản lý tương ứng để đủ điều kiện bổ nhiệm.

Vị trí việc làm của viên chức cũng là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập[9]. Do đó, việc một viên chức thôi việc sẽ ảnh hưởng đến vị trí việc làm của đơn vị, do đó cần tiến hành xem xét, đánh giá vị trí việc làm để có thể quyết định điều động, bổ nhiệm thậm chí là tuyển dụng viên chức để bù đắp cho việc thiếu hụt do viên chức thôi việc. Như vậy, khi viên chức thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà đơn vị không bố trí được người thay thế thì trách nhiệm của đơn vị có cần báo cáo cơ quan chủ quản để có chỉ đạo giải quyết (đối với các đơn vị chưa được giao quyền tự chủ), hoặc đơn vị có thể quyết định viên chức khác thực hiện kiêm nhiệm hoặc phải tiến hành kế hoạch tuyển dụng viên chức mới thay thế (đơn vị đã được giao quyền tự chủ) hay không? Trách nhiệm này của đơn vị sự nghiệp vẫn chưa được đề cập trong pháp luật và rõ ràng nếu vì một lý do nào đó mà đơn vị không thể thực hiện hoặc vẫn chưa thể thực hiện được thì quyền lợi của viên chức lúc này bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Có thể thấy rằng, các trường hợp “chưa được giải quyết thôi việc” mà Nghị định số 115/2020/NĐ-CP nêu ra ở khoản 2 Điều 57 đều là sự cụ thể hóa quy định của Luật Viên chức. Cụ thể như sau:

- Trường hợp “đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử”[10] là cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 56 Luật Viên chức: “Viên chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì không được bổ nhiệm, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết nghỉ hưu hoặc thôi việc”. Quy định này nhằm bảo đảm cho công tác xử lý kỷ luật, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành thuận lợi.

- Trường hợp “chưa làm việc đủ thời gian cam kết với đơn vị sự nghiệp công lập khi được cử đi đào tạo” là cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 35 Luật Viên chức: “Viên chức được đơn vị sự nghiệp công lập cử đi đào tạo nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc tự ý bỏ việc phải đền bù chi phí đào tạo theo quy định của Chính phủ”. Khi chưa thực hiện xong việc đền bù chi phí đào tạo thì chưa giải quyết cho thôi việc.

- Trường hợp “chưa hoàn thành việc thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập” là quy định chi tiết cho Điều 55 Luật Viên chức về trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức: “Viên chức làm mất, hư hỏng trang bị, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của đơn vị sự nghiệp công lập thì phải bồi thường thiệt hại. Viên chức khi thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được phân công có lỗi gây thiệt hại cho người khác mà đơn vị sự nghiệp công lập phải bồi thường thì có nghĩa vụ hoàn trả cho đơn vị sự nghiệp công lập”. Khi chưa thực hiện xong trách nhiệm bồi thường, hoàn trả thì chưa được giải quyết cho thôi việc.

Tuy nhiên, quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế” trong Nghị định số 115/2020/NĐ-CP là quy định mới, chưa được đề cập trong Luật Viên chức. Pháp luật xác định đơn vị sự nghiệp được quyền áp dụng “chưa được giải quyết” thôi việc nhưng trên thực tế, có lúc, có nơi lại vận dụng và thực hiện là “không giải quyết” thôi việc cho viên chức. Điều này ảnh hưởng đến quyền đơn phương chấm dứt hợp động làm việc của viên chức.

Do đó, trong trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập không đồng ý cho viên chức thôi việc bằng việc viện dẫn quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế” thì phải trả lời viên chức bằng văn bản và nêu rõ lý do theo quy định. Trong đó, cần xác định rõ các vấn đề do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế tại đơn vị. Đặc biệt, văn bản cần phải xác định một mốc thời gian cụ thể để giải quyết yêu cầu công tác cũng như bố trí người thay thế làm cơ sở giải quyết thôi việc cho viên chức.

1.4. Cân bằng lợi ích của viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập

Điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức quy định: “Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn” thì đơn vị sự nghiệp công lập hoàn toàn có quyền chấm dứt hợp đồng làm việc (có xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn với viên chức một cách đương nhiên). Điều này là hợp lý vì đó là trường hợp bất khả kháng từ phía của đơn sự nghiệp công lập mà không có một trường hợp loại trừ. Tuy nhiên, nếu đặt trong hoàn cảnh ngược lại, không loại trừ viên chức có hoàn cảnh đặc biệt, hoàn cảnh bất khả kháng không thể tiếp tục làm việc thì lại không được giải quyết cho thôi việc mà lại bị ràng buộc bởi quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế”. Nếu so sánh hai quy định này thì rõ ràng, Luật Viên chức có thể đã đặt lợi ích đơn vị sự nghiệp công lập cao hơn lợi ích viên chức.

Về quyền lợi của viên chức sau khi chấm dứt hợp đồng làm việc đúng quy định pháp luật, Điều 45 Luật Viên chức quy định: “Khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội”. Viên chức ký hợp đồng không xác định thời hạn sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Bị buộc thôi việc; (ii) Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm thời hạn báo trước[11].

Vì vậy, việc viên chức không được giải quyết cho đơn phương chấm dứt hợp đồng mà bị kỷ luật với hình thức buộc thôi việc là vi phạm quyền, lợi ích của viên chức.

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, cần bổ sung quy định về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trong Luật Viên chức “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế”, bởi đây thực sự là một trường hợp cần thiết nhằm bảo đảm lợi ích của đơn vị sự nghiệp công lập trong trường hợp vị trí việc làm đòi hỏi yêu cầu trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, chưa có người đảm nhận, thay thế. Đồng thời, bảo đảm sự hạn chế quyền của viên chức bằng một quy định của luật chứ không phải bằng quy định của văn bản hướng dẫn (dưới luật).

Thứ hai, cần bổ sung danh mục những vị trí việc làm đặc thù hoặc chức vụ quản lý và tương đương trở lên cho việc áp dụng quy định “do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế”. Vì theo nhóm tác giả, đối với chức danh nghề nghiệp bình thường như giảng viên, nghiên cứu viên… thì không nên và cũng không cần áp dụng quy định này. Cùng với đó, cần quy định thêm thời gian cụ thể, tùy đặc thù của ngành, lĩnh vực, có thể là ba tháng hoặc cần thiết có thể kéo dài nhưng không quá sáu tháng để giải quyết cho thôi việc đối với viên chức. Thời gian đó là cần thiết cho đơn vị sự nghiệp công lập có thể chuẩn bị cho sự chuyển giao, bố trí người khác, tuyển dụng nhân sự hoặc tiếp nhận viên chức biệt phái đảm nhận vị trí, cũng như là thời gian để viên chức chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc nghỉ việc, bảo đảm quyền lợi của mình và thực hiện nghĩa vụ trong thời gian hạn định.

Như vậy, trường hợp viên chức sử dụng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc thì đơn vị sự nghiệp cần cân nhắc giải quyết chấm dứt hợp đồng làm việc và giải quyết chế độ thôi việc một các hợp tình, hợp lý cho viên chức thay vì kết thúc với viên chức bằng một quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Có thể thấy, việc cân bằng lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động, trong trường hợp này là đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức, là điều kiện tiên quyết bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của viên chức cũng như bảo đảm quá trình hoạt động cũng như sự phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập trong tương lai.

Lâm Bá Khánh Toàn

Huỳnh Thị Cẩm Hồng

Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Điểm đ khoản 1 Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2019.

[2]. Điều 4 Luật Viên chức.

[3]. Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019.

[4]. Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019.

[5]. Khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức.

[6]. Khoản 4, 5 Điều 29 Luật Viên chức.

[7]. Khoản 4 Điều 29 Luật Viên chức.

[8]. Khoản 2 Điều 57 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP.

[9]. Khoản 1 Điều 7 Luật Viên chức .

[10]. Điểm a khoản 2 Điều 57 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP .

[11]. Khoản 2 Điều 45 Luật Viên chức.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: