Thứ ba 01/09/2026 03:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người ở Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế và pháp luật quốc gia, song vẫn còn nhiều bất cập trong thực tiễn. Bài viết này nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam, làm cơ sở đề xuất việc hoàn thiện chính sách pháp luật về môi trường để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: Everyone's right to live in a healthy environment is recognized in many international documents and national laws, but there are still many shortcomings in practice. This article studies the theory, international experience and the current legal situation of Vietnam, as a basis for proposing the improvement of legal policies on the environment to ensure everyone's right to live in a healthy environment in Vietnam at present.

1. Khái quát về quyền được sống trong môi trường trong lành

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan, như quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Đó là những quyền tối thiểu của con người phải được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật của bất kỳ quốc gia nào và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Quyền được sống trong môi trường trong lành đã được ghi nhận từ lâu trong nhiều văn kiện, công ước, điều ước quốc tế như: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948; các công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự, kinh tế văn hóa, xã hội năm 1966; Tuyên bố Stockholm về các vấn đề môi trường năm 1972; Tuyên bố RiO về môi trường và phát triển năm 1992; Tuyên bố Johame về phát triển bền vững năm 2002. Tuy nhiên, Tuyên bố Stockholm năm 1972 và Tuyên bố RiO đều không phải các điều ước quốc tế, nên không có tính ràng buộc pháp lý đối với các quốc gia, do đó dẫn đến việc thực hiện cũng như hiệu quả đạt được trong thực tế không rõ ràng. Đến năm 1981 mới có văn kiện mang tính ràng buộc đề cập đến quyền về môi trường, đó là Hiến chương châu Phi về cquyềncon người và quyền của các dân tộc. Theo Điều 24 của Văn kiện này, “mọi dân tộc đều có quyền được hưởng môi trường phù hợp cơ bản và thuận lợi cho sự phát triển của họ”[1]. Hiến chương châu Phi chỉ là điều ước có hiệu lực ở cấp khu vực, chưa có tính ràng buộc cao đối với tất cả các quốc gia. Tuy sự thúc đẩy quyền về môi trường chưa thực sự rõ nét nhưng cách tiếp cận của Hiến chương châu Phi xem quyền con người là một quyền chung của cộng đồng chứ không hẳn là quyền của cá nhân riêng lẻ đã góp phần nêu cao trách nhiệm và huy động sự chung tay của toàn cộng đồng trong bảo vệ môi trường.

Tại Việt Nam, Hiến pháp lần đầu tiên quy định nội dung này tại Điều 43 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Để triển khai quy định này của Hiến pháp, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014[2], Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 1261/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 về Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Quyết định số 166/QĐ- TTg ngày 21/01/2014 về Kế hoạch thực hiện Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và nay là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng nhiều văn bản hướng dẫn thi hành. Đây là cơ sở quan trọng để huy động sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị trong công tác bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, việc thi hành các quy định của pháp luật về môi trường còn nhiều bất cập, nhận thức của người dân chưa thực sự được nâng cao về môi trường nói chung và quyền con người với môi trường nói riêng.

Nhìn nhận lại giai đoạn lịch sử trước đây, khái niệm về quyền con người, quyền của mọi người được sống trong môi trường trong lành được xem như một ý tưởng khá mới mẻ, thậm chí lạ lẫm không thực tiễn. Hiện nay, điều này được công nhận rộng rãi trong luật pháp quốc tế, được hầu hết các quốc gia tán thành và áp dụng thực hiện.

Bồ Đào Nha (năm 1976) và Tây Ban Nha (năm 1978) là những quốc gia đầu tiên đưa quyền về môi trường trong lành vào hiến pháp của mình. Điều 66 Hiến pháp Bồ Đào Nha nêu rõ: “Mọi người có quyền có một môi trường lành mạnh và cân bằng về mặt sinh thái và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường đó”[3]. Kể từ giữa những năm 1970 - 1995, Bồ Đào Nha đã cấp quy chế hiến pháp cho quyền này. Các chuyên gia luật nhận thấy rằng, việc công nhận quyền được sống trong môi trường trong lành đã phát triển nhanh chóng hơn trong 30 năm qua so với bất kỳ quyền con người nào khác.

Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi năm 1996 quy định: Mọi người đều có quyền sống trong môi trường không nguy hại cho sức khỏe hoặc hạnh phúc và bảo vệ môi trường cho các thế hệ hiện tại và tương lai thông qua các biện pháp lập pháp và các biện pháp thích hợp khác... Đây cũng có thể nói là bản Hiến pháp mà quyền con người về môi trường được quy định rất đầy đủ và chi tiết[4], đặc biệt, Hiến pháp này còn xác lập quyền này cho cả thế hệ tương lai.

Tại Philippines, một phán quyết của Tòa án tối cao nước này, quyền của người dân được sống trong môi trường trong lành có vai trò quan trọng không kém so với các quyền dân sự, chính trị khác. Tòa án tối cao Philippines đã ban hành các quy định mới trong việc xét xử các vụ án môi trường nhằm thực thi công lý về môi trường, trong đó, công nhận nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ hay ưu tiên các vụ việc về môi trường trong hồ sơ xét xử của Tòa án.

Hệ thống pháp luật Singapore trong lĩnh vực môi trường hướng đến bảo đảm sự toàn diện của con người, xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh để mọi người chung sống. Singapore đã ban hành những đạo luật riêng[5] quy định chi tiết bao trùm mọi khía cạnh của vấn đề môi trường như: Ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn đất, nguồn nước, tiếng ồn..., nhiều quy định chặt chẽ về sự phát triển của con người và chăm sóc sức khỏe, giáo dục như đạo luật năng lực tinh thần (Mental Capacity Act), Đạo luật chương trình ưu đãi chăm sóc người cao tuổi và y tế (Medical and Elderly Care Endowment Schemes Act)…

Việc công nhận và thực hiện quyền môi trường cũng như bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành trong bối cảnh phát triển bền vững đã chỉ ra mối quan hệ rõ ràng giữa bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền với việc bảo tồn, bảo vệ và khôi phục môi trường. Điều này đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải cùng nhau hợp tác và xây dựng các chuẩn mực chung để đối phó với thách thức ngày càng gia tăng đối với môi trường và phát triển.

2. Thực trạng pháp luật về quyền sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam

Những điểm mới về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 là cơ sở pháp lý quan trọng, định hướng cho những thay đổi của luật pháp nước ta về quyền con người nói chung cũng như quyền được sống trong môi trường trong lành nói riêng.

Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan được ban hành nhằm khai thác, sử dụng tổng hợp, hiệu quả, quản lý, bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ra đời đã kế thừa và khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật bảo vệ môi trường năm 2014, luật hóa chủ trương của Đảng, quy định cụ thể hơn nội dung bảo vệ môi trường trong các hoạt động kinh tế, sản xuất, kinh doanh, nhất là trách nhiệm của chủ đầu tư và người đứng đầu cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; ghi nhận 08 nguyên tắc cốt lõi về bảo vệ môi trường. Đồng thời, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 bổ sung chủ thể “cộng đồng dân cư”. Có thể thấy, quy định này phản ánh rõ nét nhất phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” của Đảng và Nhà nước và cũng là tiền đề pháp lý để người dân có quyền nêu lên ý kiến và chủ động bảo vệ môi trường của họ đối với nơi mà họ đang sinh sống.

Pháp luật về bảo đảm quyền sống trong môi trường trong lành của mọi người ở nước ta hiện nay đã được tiếp cận và “nội luật hóa” quan điểm phát triển và quản lý môi trường quốc tế; thể hiện sâu sắc quan điểm bảo vệ, khai thác, sử dụng môi trường; phòng, chống và khắc phục hậu quả, tác hại do ô nhiễm môi trường. Các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên đều phải phù hợp với quy hoạch phát triển của đất nước.

Tuy nhiên, thực trạng thi hành pháp luật về bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành vẫn còn những tồn tại, hạn chế:

Thứ nhất, các quy định liên quan đến bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành còn chưa được hoàn thiện và chưa được thực thi triệt để trên thực tế. Nguyên nhân là do thiếu cơ chế triển khai thực hiện, thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể dẫn đến việc triển khai không hiệu quả hoặc không thể phù hợp với thực tiễn.

Thứ hai, hiện nay, mặc dù chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được quy định tập trung vào một đầu mối thống nhất là Bộ Tài nguyên và Môi trường, tuy nhiên, vẫn chưa thật sự triệt để. Vì hiện nay, việc quản lý môi trường vẫn còn được quy định rải rác phân bổ cho các bộ, ngành khác nhau. Trong khi đó, sự phối hợp giữa các cơ quan thiếu sự thống nhất, mức độ phân cấp không rõ ràng gây ra những khó khăn nhất định cho việc phát hiện và xử lý kịp thời, dứt điểm của chính quyền cơ sở, cũng như cơ quan phát hiện hành vi gây hại môi trường.

Thứ ba, dự toán Ngân sách nhà nước hằng năm chưa thực sự coi trọng, đề cao các khoản chi dành cho môi trường: Nguồn kinh phí bổ sung hằng năm cho sự nghiệp môi trường gồm phí đối với chất thải rắn, nước thải, khoáng sản và phân hủy động ngoài ngân sách của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Cơ chế sử dụng các nguồn thu từ các khoản thuế, phí bảo vệ môi trường, tiền phạt, nguồn tài trợ ODA, tài trợ phi chính phủ cho bảo vệ môi trường chưa rõ ràng; thiếu sự điều hòa phối hợp. Tổng kinh phí thu được từ khoản thu thuế, phí bảo vệ môi trường chưa đủ để đầu tư trở lại cho các công trình xử lý môi trường[6].

Thứ tư, các biện pháp chế tài chưa đủ mạnh để thực thi quyền môi trường, cũng như còn thiếu các quy định cụ thể liên quan đến thủ tục thực thi. Chẳng hạn, hệ thống pháp luật hình sự hiện nay chưa quy định chế tài cụ thể đối với những hành vi vi phạm môi trường, đồng thời thiếu các quy định chi tiết về quyền khiếu kiện của cá nhân đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm.

Thứ năm, hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế hiện nay còn chưa tính đến chi phí môi trường trong sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, các chính sách, pháp luật về kinh tế hiện nay chưa thực sự “thân thiện với môi trường”.

3. Hoàn thiện chính sách pháp luật về môi trường để bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người

Thứ nhất, chính sách và pháp luật về môi trường không chỉ là những quy định, khuyến nghị và hướng dẫn cụ thể về gìn giữ và cải thiện môi trường mà còn xác định rõ mức độ trừng phạt đối với tổ chức, cá nhân vi phạm luật và các quy định của Nhà nước, ngăn chặn những hành vi chạy theo lợi ích cá nhân, không quan tâm đến môi trường sống của cộng đồng. Trong chính sách phải quy định rõ các chế tài và biện pháp kinh tế thích đáng, bảo đảm đúng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chi phí và coi đó là công cụ hữu hiệu, bảo đảm sự chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Thứ hai, để nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, cần xây dựng hệ thống chính sách pháp luật, thể chế hóa đầy đủ các nghị quyết của Đảng về bảo vệ môi trường trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cần có quy định pháp luật về quy hoạch chặt chẽ, phù hợp với tình hình thực tiễn. Cần vận dụng các lý luận khoa học về hệ thống sinh thái đô thị, các hoạt động kinh tế - xã hội, để thiết lập cơ cấu sinh thái đô thị một cách hợp lý; điều chỉnh bố trí lại cơ cấu công nghiệp để giảm bớt các nguồn gây ô nhiễm; mở rộng diện tích cây xanh, điều chỉnh cơ cấu sinh thái đô thị, cải thiện chất lượng môi trường các vùng nông thôn.

Thứ ba, những quy định pháp luật về cơ chế giải quyết tình trạng suy thoái môi trường ở thành phố lớn và một số vùng nông thôn nhằm cải tạo, khắc phục sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên các sông, hồ, kênh mương, bảo đảm sử dụng hợp lý tài nguyên theo hướng tiết kiệm và tiết chế sử dụng tài nguyên không tái tạo được, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, công dân về từng lĩnh vực bảo vệ môi trường trong các văn bản pháp luật: Chính quyền địa phương các cấp có vai trò rất quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường; cần xác định rõ và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và mọi công dân bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành hiện nay.

Thứ tư, điều chỉnh chủ thể có trách nhiệm xác định thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường theo hướng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm xác định thiệt hại chung về môi trường làm cơ sở cho các cá nhân, tổ chức khác xác định thiệt hại của mình. Đặc biệt, trong bồi thường thiệt hại sức khỏe liên quan đến ô nhiễm môi trường, kể cả trường hợp áp dụng phương pháp dịch tễ học để chứng minh nguyên nhân thiệt hại, thì việc thực hiện nghiên cứu dịch tễ học cũng vượt quá khả năng của người bị thiệt hại.

Thứ năm, pháp luật cần điều chỉnh tối đa các hành vi xâm hại môi trường trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, kết hợp giữa hướng dẫn, xử lý với việc răn đe giáo dục, trong đó chú ý các quy định có tính hướng dẫn việc bảo vệ môi trường, bảo đảm phương châm lấy phòng ngừa là chính. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức môi trường của người dân nhằm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành.

Thứ sáu, xây dựng một số chương trình hợp tác có quy mô lớn và dài hạn, có sự đầu tư tài trợ của các tổ chức nước ngoài để giải quyết những vấn đề môi trường mà điều kiện của chúng ta chưa đủ khả năng đáp ứng. Cung cấp thông tin, dự báo xu hướng các hành vi gây ô nhiễm môi trường trong khu vực và trên thế giới. Tăng cường tham gia, ký kết các công ước quốc tế, dự án, hiệp định song phương, đa phương về bảo vệ môi trường trên cơ sở có đi, có lại, các bên cùng có lợi, không làm phương hại môi trường của các bên, tận dụng các nguồn tài trợ quốc tế, đặc biệt là quỹ môi trường toàn cầu; thành lập quỹ môi trường quốc tế và quỹ ở các địa phương nhằm huy động, tiếp nhận và cho vay vốn phục vụ mục đích bảo vệ môi trường.

Thứ bảy, tăng cường nội luật hoá các điều ước quốc tế, hiệp ước song phương và đa phương mà Việt Nam gia nhập hoặc tham gia ký kết, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế. Chú trọng hợp tác chặt chẽ với các nước có liên quan đến sản phẩm và hàng hóa xuất nhập khẩu với Việt Nam, các nước láng giềng có chung đường biên giới, chung các dòng sông để kiểm soát ô nhiễm, phối hợp triển khai các đề án đối với các dòng sông, vùng biển đang bị ô nhiễm nặng.

Thứ tám, xây dựng các cơ chế đề giải quyết các tranh chấp liên quan đến môi trường có tính chuyên biệt góp phần nhằm giải quyết một cách tốt nhất và hạn chế các tranh chấp liên quan đến môi trường, như việc thành lập tòa án môi trường hay cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường ngoài tòa án theo kinh nghiệm quốc tế[7].

Cuối cùng, tăng cường xác lập các cơ chế tư vấn, trợ giúp pháp lý, luật sư giúp người dân tiếp cận với các văn bản chính sách pháp luật, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích của người dân khi bị xâm hại bởi ô nhiễm môi trường.

ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Giảng viên Bộ môn Luật Hiến pháp - Trường Đại học Luật Hà Nội

Phạm Thị Khánh Ly

Sinh viên khoá 45 - Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. African Charter on Human and People’s Rights, http://www.achpr.org/instruments/achpr/#a2, truy cập ngày 16/12/2022.

[2]. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, có rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến môi trường được ban hành như Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2005), Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 1999), Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước. Cùng với đó, nhiều văn bản pháp luật được ban hành đã có các quy định về bảo đảm quyền con người có liên quan tới môi trường, hệ sinh thái như Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân; Luật Khám, chữa bệnh; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Luật An toàn thực phẩm; Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá; Luật Phòng cháy và chữa cháy…

[3]. Constitution of Portugal, 1976. In R. Wolfrun and R. Grote, Constitution of the Countries of the World. G.H. Flanz, ed emeritus. New York: Oceana Law, 2012.

[4]. TS. Mai Hải Đăng, “Pháp luật quốc tế và Việt Nam về môi trường với bảo vệ quyền con người”, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, tr. 55.

[5]. Ví dụ như: Bộ Luật Hình sự, Luật Quản lý và Bảo vệ Môi trường (Environmental Protection and Management Act), Đạo luật sức khoẻ cộng đồng về môi trường (Environmental Public Health Act)…

[6]. TS. Lưu Ngọc Tố Tâm, “Bảo đảm thực hiện quyền con người trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

[7]. Ví dụ như: Cơ quan Bảo vệ môi trường (EPA) của Hoa Kỳ đã thiết lập Trung tâm Giải quyết và ngăn ngừa tranh chấp chuyên cung cấp dịch vụ giải quyết các tranh chấp về môi trường bằng phương thức hòa giải, tiêu biểu như vụ gây ô nhiễm rúng động dư luận nước Mỹ bấy giờ của công ty NIBCO vào năm 1996 và vụ xả thải hoá chất Pfizer năm 1998.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: