Thứ tư 20/05/2026 10:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo tính thống nhất với các luật khác có liên quan

Tóm tắt: Bài viết phân tích những vấn đề pháp lý cơ bản của Luật Sở hữu trí tuệ đặt trong mối quan hệ với với các luật khác có liên quan bằng cách chỉ ra những điểm còn bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những vấn đề pháp lý cơ bản của Luật Sở hữu trí tuệ đặt trong mối quan hệ với với các luật khác có liên quan bằng cách chỉ ra những điểm còn bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Abstract: The paper analyzes the basic legal issues of the Intellectual Property Law in relation to other relevant laws by pointing out the inadequacies and proposing solutions to improve the law on intellectual property law.

1. Nhận diện về tài sản trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ

Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận là một loại quyền tài sản và có đối tượng là tài sản trí tuệ (được thể hiện bằng các tác phẩm, cuộc biểu diễn, sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu…). Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ, là quyền trên tài sản. Theo khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 - sửa đổi, bổ sung năm 2009 (say đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ), thì quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Tiếp theo, quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận bao gồm tập hợp quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các tài sản trí tuệ[1]. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 lại ghi nhận quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản.

Có thể nhận thấy, cách tiếp cận của Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ là không đồng nhất với nhau. Nếu Luật Sở hữu trí tuệ tiếp cận quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ chỉ là quyền năng của chủ thể đối với tài sản trí tuệ, thì Bộ luật Dân sự năm 2015 lại ghi nhận quyền này chính là một loại tài sản, hay chính là tài sản được phái sinh từ một tài sản khác. Cụ thể, tài sản trí tuệ là tài sản vô hình, quyền trên tài sản đó (gồm những quyền có thể trị giá được thành tiền, có thể chuyển giao được trong giao dịch) lại trở thành một loại tài sản mới. Điều này khiến cho người đọc luật khó hình dung khi nhận diện về chúng, bởi lúc này quyền trên tài sản cũng là tài sản, vậy chúng là một hay là hai loại tài sản?

Theo tác giả, cách tiếp cận của hai văn bản pháp luật trên cần thống nhất ở những điểm sau:

(i) Cần bổ sung định nghĩa về tài sản trí tuệ theo hướng coi đó là một loại tài sản tồn tại song song và có quan hệ không thể tách rời với tài sản hữu hình. Cách tiếp cận này giúp cho việc nhìn nhận tài sản một cách toàn diện vì hầu hết tài sản hữu hình (hàng hóa) đều chứa đựng tài sản trí tuệ trong đó và ngược lại tài sản trí tuệ chỉ có thể được nhận biết và được pháp luật ghi nhận và bảo hộ khi nó được thể hiện, gắn với tài sản hữu hình. Để từ đó, các chủ thể có thể biết được mình đang thực sự sở hữu loại tài sản gì và sẽ ứng xử với các tài sản đó như thế nào để phù hợp với quy định của pháp luật và bản chất của tài sản.

(ii) Nếu tiếp cận quyền sở hữu trí tuệ cũng giống cách tiếp cận quyền sở hữu tài sản thông thường, thì cần ghi nhận các quyền cơ bản của chủ sở hữu tài sản trí tuệ bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt với những đặc điểm riêng của chúng.

Việc chiếm hữu đối với tài sản trí tuệ khác hẳn với chiếm hữu tài sản hữu hình, đó là chủ thể không thể nắm giữ bằng các động tác có tính vật lý cơ học mà chỉ là hành vi quản lý chúng như đi đăng ký xác lập quyền, giữ bí mật thông tin về tài sản trí tuệ. Việc đăng ký quyền tác giả chỉ là khuyến khích nhưng nếu các chủ thể hiểu được bản chất của loại tài sản mà mình đang sở hữu thì cách bảo vệ tốt nhất là dựa vào pháp luật, thông qua thủ tục đăng ký quyền hoặc phải có những biện pháp bảo mật thành quả sáng tạo trí tuệ của mình. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, các sản phẩm giải trí phát triển ngày càng mạnh mẽ dựa trên nền tảng số, vì vậy, việc nhận diện quyền của mỗi bên trong quan hệ tài sản trí tuệ rất quan trọng, sẽ hạn chế các xung đột có thể phát sinh, tạo môi trường sáng tạo lành mạnh. Do đó, để bảo vệ mình thì bất kỳ ai sở hữu các sản phẩm sáng tạo đều phải có ý thức công bố, cụ thể như đi đăng ký bản quyền, hoặc sử dụng các hình thức công bố khác. Đây được coi là một trong những chứng cứ rất quan trọng để chứng minh các quyền của mình đối với tác phẩm nếu có xảy ra tranh chấp.

Quyền sử dụng tài sản được hiểu là quyền khai thác công dụng của tài sản để hưởng lợi. Việc sử dụng tài sản trí tuệ hoàn toàn khác so với sử dụng tài sản hữu hình thông thường. Sử dụng tài sản trí tuệ chính là sử dụng các thông tin nên sẽ không hạn chế số lượng người sử dụng và không bị mất đi mà còn là cơ sở để tiếp tục tạo ra những tài sản trí tuệ mới. Việc sử dụng này do chủ sở hữu quyền tự thực hiện hoặc cho phép người khác sử dụng thông qua việc ký kết các hợp đồng cho phép người khác sử dụng để nhận về những lợi ích vật chất nhất định. Luật Sở hữu trí tuệ nên hướng dẫn cụ thể các hành vi sử dụng tài sản trí tuệ cho phù hợp với từng loại tài sản. Mỗi hành vi sử dụng có thể tạo thành những quyền cụ thể như quyền làm bản sao, quyền phân phối tác phẩm, quyền làm tác phẩm phái sinh…; các quyền sản xuất, phân phối, lưu thông sản phẩm gắn với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp… Chủ thể có thể tách từng quyền trong tập hợp các quyền đó để cho phép chủ thể khác được sử dụng trong một thời hạn nhất định, trong phạm vi lãnh thổ nhất định. Vì giá trị thương mại nằm trong các tài sản trí tuệ nên chúng còn được sử dụng bằng cách dùng làm tài sản thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay.

Quyền định đoạt tài sản trí tuệ là dịch chuyển toàn bộ các quyền năng gắn với tài sản trí tuệ cho chủ thể khác trong thời hạn còn hiệu lực của quyền. Quyền định đoạt bao gồm dùng tài sản trí tuệ để góp vốn đầu tư, để tặng cho, chuyển nhượng, trao đổi, để lại thừa kế khi lập di chúc. Tuy nhiên, trong Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành mới chỉ quy định về quyền chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ mà chưa có quy định để điều chỉnh việc dịch chuyển đối với các trường hợp còn lại.

Với phân tích trên, có thể thấy rằng, cách ghi nhận các quyền của chủ sở hữu tài sản trí tuệ không dựa trên tư duy về quyền đối với tài sản nói chung. Lẽ ra cần quy định cụ thể các quyền của chủ sở hữu tài sản trí tuệ theo 03 quyền cơ bản thì Luật Sở hữu trí tuệ lại quy định về các quyền này theo 02 loại quyền là quyền nhân thân và quyền tài sản. Điều này dẫn đến hệ quả là Luật Sở hữu trí tuệ bỏ sót một số quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản trí tuệ và chưa bảo vệ tốt nhất quyền của chủ sở hữu tài sản trí tuệ theo đúng như bản chất của chúng.

2. Bảo đảm sự nhất quán khi sử dụng các thuật ngữ trong Luật Sở hữu trí tuệ

Tài sản trí tuệ được thể hiện thông qua những đối tượng cụ thể như: Trong lĩnh vực quyền tác giả có những loại đối tượng của quyền tác giả như tác phẩm, chương trình biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp có sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý… Từ đối tượng này, nhà làm luật mới ghi nhận quyền của các chủ thể đối với chúng, bao gồm quyền của người trực tiếp sáng tạo ra chúng và quyền của chủ sở hữu đối với các tài sản này, cụ thể như tác giả tác phẩm, tác giả sáng chế, tác giả giải pháp hữu ích, chủ sở hữu tác phẩm, chủ sở hữu sáng chế, chủ sở hữu nhãn hiệu… Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ đưa ra thuật ngữ “chủ sở hữu quyền tác giả” (Điều 36), “chủ sở hữu quyền liên quan” (Điều 44), theo đó, quyền tác giả và quyền liên quan mới là đối tượng của quyền sở hữu chứ không phải tài sản trí tuệ (tác phẩm, chương trình biểu diễn, bản ghi âm ghi hình, chương trình phát sóng). Ngoài ra, Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ quy định dấu hiệu nhận diện chủ sở hữu quyền tác giả là những chủ thể có các quyền tài sản được ghi nhận. Về bản chất, chủ sở hữu của quyền tác giả cũng chính là chủ sở hữu tác phẩm nhưng với các quy định như hiện nay của Luật Sở hữu trí tuệ thì dường như vấn đề trở nên khá rắc rối.

Do đó, tác giả cho rằng, thuật ngữ chủ sở quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan nên được đổi thành chủ sở hữu tác phẩm; chủ sở hữu cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng. Điều này, giúp bảo đảm tính thống nhất với quy định về quyền sở hữu công nghiệp, cụ thể như đối với sáng chế thì có tác giả sáng chế và chủ sở hữu sáng chế nên việc ghi nhận tác giả của tác phẩm và chủ sở hữu tác phẩm sẽ là hợp lý hơn.

3. Việc đăng ký, xác lập các quyền sở hữu trí tuệ

Mặc dù, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật yêu cầu các quốc gia ghi nhận nguyên tắc bảo hộ tự động đối với quyền tác giả. Tuy nhiên, theo tác giả, việc đăng ký quyền tác giả nên được ghi nhận là thủ tục bắt buộc để xác lập quyền đối với một số loại tác phẩm mà nhu cầu khai thác thương mại cao và thường ẩn chứa những tranh chấp, theo đó, thủ tục đăng ký có thể là cơ chế đăng ký thông báo và theo hình thức online. Bởi lẽ, hiện nay, việc chia sẻ các thông tin diễn ra vô cùng nhanh chóng và việc sử dụng các tác phẩm đã có để tạo ra các tác phẩm, công trình mới là rất phổ biến. Điều này dẫn đến nguy cơ xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ nên việc đăng ký quyền tác giả của các chủ thể khi tạo ra tác phẩm sẽ tạo ra chứng cứ cho Tòa án giải quyết các tranh chấp này.

Do vậy, cần bổ sung cơ chế xác lập quyền và bảo hộ quyền đối với các ý tưởng kinh doanh gắn với các giải pháp kỹ thuật ngay cả trước khi chủ thể nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế. Các ý tưởng này có thể được đăng ký tạm thời, để các chủ thể có thể yên tâm triển khai hoạt động đầu tư kinh doanh của mình đối với các giải pháp đó mà không phải lo sợ có người khác sử dụng mất. Đây cũng là lẽ công bằng và bảo đảm cho việc cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh.

Các quy định về đăng ký tên doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và điều kiện bảo hộ tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cần thống nhất với nhau. Điều 39 Luật Doanh nghiệp năm 2014 yêu cầu tên doanh nghiệp chỉ cần đáp ứng điều kiện không trùng với tên doanh nghiệp của người khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Tuy nhiên, tên doanh nghiệp sau này có khả năng là tên thương mại (vì tên doanh nghiệp được sử dụng trong các hoạt động thương mại của doanh nghiệp thì sẽ trở thành tên thương mại - đây là đối tượng được ghi nhận và bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ), nên các điều kiện của tên thương mại cũng phải chính là các điều kiện để cho phép đăng ký tên doanh nghiệp. Đó là, tên doanh nghiệp không được trùng với tên thương mại, với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của chủ thể khác. Tương tự, tên doanh nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cũng có khả năng trở thành tên miền; do đó, pháp luật về doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ và quy định về đăng ký tên miền cần có sự thống nhất với nhau. Điều kiện để được phép đăng ký cần phải thống nhất để đảm bảo không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, vì đây là những yếu tố để kết nối khách hàng, hàng hóa và chủ thể sản xuất kinh doanh hàng hóa đó.

4. Về thời điểm có hiệu lực của các giao dịch có đối tượng là tài sản trí tuệ

Các giao dịch có đối tượng là tài sản trí tuệ có thể phân thành 03 nhóm cơ bản như: (i) Nhóm các hợp đồng có mục đích chuyển quyền sử dụng tài sản trí tuệ như hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp (còn gọi là hợp đồng li - xăng); (ii) Nhóm hợp đồng có mục đích chuyển quyền sở hữu tài sản trí tuệ như hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp; hợp đồng tặng cho, góp vốn, trao đổi tài sản trí tuệ; (iii) Nhóm hợp đồng bảo đảm có đối tượng là tài sản trí tuệ. Thời điểm nào các hợp đồng trên có hiệu lực ràng buộc giữa các bên hoặc có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba? Liệu có áp dụng quy định chung của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng đối với trường hợp của tài sản trí tuệ không? Theo tác giả, tài sản trí tuệ có đặc điểm riêng biệt, đó là những thông tin được tạo ra từ hoạt động sáng tạo tinh thần nên cần có những quy định riêng về hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng này cho phù hợp.

Bên cạnh đó, đối với tài sản trí tuệ mà Nhà nước quản lý (đó là những tài sản mà việc khai thác, sử dụng chúng không được gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ như nhãn hiệu, tên thương mại), thì những hợp đồng có đối tượng là tài sản này phải đáp ứng được các điều kiện luật định mới hợp pháp. Do đó, những giao dịch mà có sự dịch chuyển quyền từ chủ thể được cấp văn bằng sang chủ thể mới thì cơ quan quản lý (Cục Sở hữu trí tuệ[2]) cần có sự kiểm tra về điều kiện chuyển nhượng. Đăng ký được coi là điều kiện để hợp đồng này có hiệu lực và cũng là căn cứ làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba được hiểu là người nào được đứng tên trên văn bằng bảo hộ với tư cách là bên nhận chuyển nhượng thì sẽ được pháp luật ghi nhận và được bảo vệ quyền trong trường hợp có những chủ thể khác đã ký hợp đồng nhận chuyển nhượng trước nhưng không đi đăng ký.

Đối với giao dịch chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp và giao dịch bảo đảm có đối tượng là tài sản trí tuệ thì việc đăng ký là không bắt buộc và chỉ có giá trị đối kháng với người thứ ba mà không phải là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Do đó, việc đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp được thực hiện tại Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), còn đăng ký giao dịch thế chấp và chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp cần được thực hiện tại Trung tâm Đăng ký quốc gia về giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng Ký quốc gia giao dịch bảo đảm của Bộ Tư Pháp.

5. Việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu tài sản trí tuệ

Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định về quyền góp vốn bằng tài sản trí tuệ nên Luật Sở hữu trí tuệ cần bổ sung thêm nội hàm những quyền này và có những quy định để điều chỉnh chúng. Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014 chưa có sự nhất quán khi xác định tài sản góp vốn là quyền sở hữu trí tuệ (khoản 2) hay giá trị quyền sở hữu trí tuệ (khoản 1)? Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ ghi nhận quyền tài sản của quyền sở hữu trí tuệ mới là một loại tài sản. Tác giả cho rằng, cách quy định của cả Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đều chưa hợp lý. Bởi vì, đối tượng dùng để góp vốn vào doanh nghiệp phải là tài sản trí tuệ chứ không phải quyền đối với tài sản trí tuệ hay giá trị của tài sản trí tuệ. Nguyên tắc của góp vốn là chủ thể góp vốn phải là chủ sở hữu của tài sản góp vốn, thì mới đạt được mục đích của góp vốn là dịch chuyển quyền sở hữu tài sản đó từ chủ sở hữu tài sản trí tuệ sang cho doanh nghiệp. Nếu ghi nhận giá trị tài sản trí tuệ là tài sản góp vốn thì đã vô hình chung loại bỏ tài sản trí tuệ, bởi lúc này tài sản góp vốn được hiểu là “tiền” - được định giá từ tài sản trí tuệ chứ không phải là tài sản trí tuệ. Còn quy định quyền sở hữu trí tuệ là tài sản góp vốn thì lại chưa đúng bản chất của tài sản cũng như bản chất đối tượng của hợp đồng. Việc tách quyền tài sản trong nội hàm quyền sở hữu trí tuệ để ghi nhận nó là một loại quyền tài sản cũng chưa thực sự chính xác bởi đó không phải là tài sản mà chỉ là các quyền được pháp luật ghi nhận cho chủ thể đối với tài sản trí tuệ. Vì khi góp vốn, bên nhận góp vốn có đầy đủ các quyền của một chủ sở hữu đối với tài sản trí tuệ và có quyền thực hiện mọi các quyền năng của một chủ sở hữu đối với tài sản đó như quyền khai thác, sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn...

Điều mấu chốt đầu tiên là cần có những quy định về việc thành lập các cơ quan định giá chuyên nghiệp về tài sản trí tuệ, bởi có định giá được bằng một đại lượng tiền cụ thể thì tài sản trí tuệ mới có thể được các chủ thể lựa chọn làm tài sản góp vốn hay tài sản thế chấp. Thẩm định tài sản trí tuệ vô cùng cần thiết vì nó quyết định đến giá trị của tài sản trí tuệ, để đưa ra một bản báo cáo về thời hạn bảo hộ, các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng mà chủ sáng chế đã ký kết, những hợp đồng liên quan đến cung ứng sản phẩm có chứa đựng công nghệ, các vụ kiện đã diễn ra và có thể diễn ra liên quan đến sáng chế bảo đảm, công ty luật nào đã tư vấn để cấp văn bằng bảo hộ sáng chế (vì để đánh giá khả năng có thể bị hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nếu có tranh chấp xảy ra); tên của luật sư đã trực tiếp soạn thảo đơn và liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để cấp văn bằng bảo hộ.

Hiện nay, việc thế chấp bằng tài sản trí tuệ tại các tổ chức tín dụng còn chưa phổ biến tại Việt Nam, bởi sự hiểu biết của cán bộ thẩm định hồ sơ vay vốn còn thiếu căn cứ pháp lý hướng dẫn cụ thể về nội dung này. Do đây là tài sản đặc thù nên cần có những nội dung cần thẩm định cụ thể như: Về thời hạn bảo hộ của tài sản trí tuệ, đối thủ cạnh tranh của tài sản trí tuệ thế chấp, chế độ pháp lý bảo hộ của đơn xin cấp bằng bảo hộ tài sản trí tuệ, mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh với pháp luật về sáng chế nếu tài sản thế chấp là sáng chế…

Đảo đảm tính thống nhất của Luật Sở hữu trí tuệ với các luật khác có liên quan là một yêu cầu tất yếu để tạo ra một cơ chế tốt nhất để bảo vệ các quan hệ có đối tượng là tài sản trí tuệ. Cho dù có tính đặc thù nhưng quyền sở hữu trí tuệ vẫn phải tuân theo các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự về định giá, về xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền cho các chủ thể có liên quan.

PGS.TS. Vũ Thị Hồng yến

Đại học Sài Gòn





[1]. Xem các điều 20, 36, 123 Luật Sở hữu trí tuệ.

[2]. Xem điểm a Điều 40 Thông tư số 16/2016/TT-BKHCN ngày 30/6/2016 của Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30/7/2010, Thông tư số 18/2011/TT-BKHCN ngày 22/7/2011 và Thông tư số 05/2013/TT-BKHCN ngày 20/02/2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: