Thứ sáu 17/07/2026 03:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của cơ quan quản trị nội bộ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên - Từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Tóm tắt: Trong bối cảnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam, yêu cầu nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong quản trị nội bộ doanh nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế thẩm quyền gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; đồng thời, so sánh các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025) với Luật mẫu RULLCA và luật công ty một số bang điển hình của Hoa Kỳ. Nghiên cứu cho thấy, sự khác biệt về triết lý lập pháp giữa hai hệ thống: pháp luật Việt Nam thiên về kiểm soát thông qua cấu trúc tổ chức, trong khi pháp luật Hoa Kỳ nhấn mạnh hợp đồng hóa quản trị và cơ chế hậu kiểm dựa trên nghĩa vụ ủy thác. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng làm rõ ranh giới thẩm quyền, chuẩn hóa nghĩa vụ ủy thác và tăng cường trách nhiệm giải trình nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong quản trị nội bộ doanh nghiệp.

Abstract: In the context of completing the market economy institutions and the strong development of the private sector in Vietnam, the need to improve the effectiveness of power control in internal corporate governance is becoming increasingly urgent. This research analyzes and clarifies the theoretical and practical basis for designing authority linked to power control mechanisms in limited liability companies with two or more members; and simultaneously compares the provisions of the 2020 Enterprise Law (amended and supplemented in 2022 and 2025) with the RULLCA model law and the company laws of several typical US states. The research shows a difference in legislative philosophy between the two systems: Vietnamese law tends to favor control through organizational structure, while US law emphasizes contracted governance and post-audit mechanisms based on fiduciary duty. Based on this, the study proposes improving the law by clarifying the boundaries of authority, standardizing delegated obligations, and strengthening accountability to enhance the effectiveness of power control in internal corporate governance.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong quản trị nội bộ doanh nghiệp trở thành yêu cầu cấp thiết. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên, việc xác định và thực thi thẩm quyền của các cơ quan quản trị nội bộ có tác động đến bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các thành viên và sự ổn định của doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp năm 2020, sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025 (Luật Doanh nghiệp năm 2020) đã quy định về cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên và chức năng, phạm vi quyết định giữa các chủ thể quản lý. Về bản chất, thẩm quyền quản lý là quyền lực nội bộ có khả năng tác động trực tiếp đến lợi ích của thành viên và của công ty. Việc nghiên cứu hoàn thiện thẩm quyền các cơ quan quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên cần được đặt trong tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực của doanh nghiệp, đồng thời, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế nhằm làm rõ triết lý lập pháp và cách tiếp cận khác nhau trong kiểm soát quyền lực, qua đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp theo hướng bảo đảm cân bằng giữa trao quyền và ràng buộc trách nhiệm trong quản trị nội bộ công ty, góp phần nâng cao mức độ tương thích của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam với thông lệ quản trị quốc tế và tăng cường năng lực cạnh tranh thể chế trong điều kiện hội nhập kinh tế sâu rộng hiện nay.

1. Thẩm quyền của cơ quan quản trị nội bộ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam, từ góc độ cấu trúc quyền lực và nghĩa vụ ủy thác

Theo Từ điển thuật ngữ kinh doanh, thẩm quyền là quyền lực hợp pháp được trao cho chủ thể trong tổ chức để quản lý, chỉ đạo, ra quyết định đối với người khác[1]. Thẩm quyền quản trị nội bộ công ty không chỉ nhìn nhận từ góc độ tổng hợp các quyền pháp luật trao cho chủ thể cụ thể, mà còn được hiểu như một thiết chế phân bổ và kiểm soát quyền lực trong cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp[2]. Trong công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Việt Nam, thẩm quyền của các cơ quan quản trị nội bộ được thiết kế trên cơ sở tập trung quyền lực vào hội đồng thành viên với tư cách là cơ quan quyết định cao nhất, đồng thời, trao quyền điều hành công việc hàng ngày của công ty cho giám đốc/tổng giám đốc, nếu chủ tịch hội đồng thành viên không kiêm nhiệm chức danh này[3].

Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không trao quyền cho điều lệ công ty trong thiết kế cấu trúc tổ chức quản trị nội bộ công ty, mà duy trì khuôn khổ tổ chức luật định, phản ánh lựa chọn lập pháp theo hướng kiểm soát bằng thiết kế tổ chức và quyền lực quản trị được quy tụ vào thiết chế đại diện. Tuy nhiên, hiệu quả kiểm soát không chỉ phụ thuộc vào sự tập trung quyền lực, mà còn phụ thuộc vào cơ chế cân bằng và phân tách chức năng giữa các thiết chế quản trị nội bộ[4]. Việc hội đồng thành viên vừa nắm quyền quyết định các vấn đề trọng yếu, vừa có khả năng chi phối hoạt động quản lý điều hành thông qua cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm, giám sát người quản lý[5] là cấu trúc phù hợp với đặc trưng sở hữu tập trung của công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Việt Nam, loại hình bị giới hạn từ 02 đến 50 thành viên và trên thực tế, thường được tổ chức với số ít thành viên có quan hệ gắn bó tương đối chặt chẽ.

Tuy nhiên, từ góc độ kiểm soát quyền lực, khi cơ chế biểu quyết theo tỷ lệ vốn góp giữ vai trò trung tâm và thiếu các thiết chế bảo vệ hữu hiệu cho thành viên thiểu số, cấu trúc quyền lực nội bộ có nguy cơ nghiêng về phía thành viên chi phối, làm gia tăng rủi ro lạm dụng quyền lực[6]. Vấn đề này càng trở nên quan trọng trong điều kiện hệ thống pháp luật chưa thiết lập đầy đủ cơ chế ràng buộc, kiểm soát quyền lực quản trị nội bộ tương tự như các mô hình quản trị phân quyền ở một số hệ thống pháp luật phát triển như Mỹ và Anh[7]. Trong các hệ thống đó, quyền lực quản trị không chỉ được trao mà còn được đặt trong mạng lưới ràng buộc thông qua các nghĩa vụ ủy thác, cơ chế minh bạch thông tin và thiết chế thực thi, qua đó, tạo các giới hạn pháp lý thực chất đối với nguy cơ lạm dụng quyền lực. Việc giao quyền ra quyết định cho nhà quản lý làm phát sinh chi phí đại diện do sự khác biệt lợi ích giữa chủ sở hữu và người quản lý, đòi hỏi phải có cơ chế giám sát và ràng buộc thích hợp[8]. Khoản 1 Điều 71 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định nghĩa vụ trung thực, trung thành và cẩn trọng của người quản lý, thể hiện quyền quản lý doanh nghiệp thực chất là quyền lực phân phối lợi ích, do đó, phải chịu sự kiểm soát thông qua cơ chế ràng buộc trách nhiệm người quản lý.

Ở phương diện thực thi, cơ chế trách nhiệm giải trình quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 chủ yếu dựa vào quyền tiếp cận thông tin và quyền khởi kiện dân sự người quản lý[9]. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc vào khả năng thực thi trên thực tế. Các nghiên cứu cho thấy, việc thực thi trách nhiệm của người quản lý công ty còn gặp nhiều hạn chế cả về cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng[10]. Việc áp dụng các chuẩn mực như trung thành, cẩn trọng chưa cụ thể, thống nhất, phản ánh những khó khăn nhất định trong thực thi quy định này. Khi quyền quyết định tập trung vào hội đồng thành viên, nhưng chuẩn mực trung thành, cẩn trọng và cơ chế thực thi chưa cụ thể, thiếu hiệu quả, quan hệ giữa quyền lực và trách nhiệm có nguy cơ mất cân bằng, làm suy giảm chức năng kiểm soát nội tại của thiết chế quản trị nội bộ.

Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi những điều kiện nhất định về hành nghề như luật sư, kiểm toán, thẩm định giá, y tế…, thẩm quyền quản trị thực tế bị điều kiện hóa bởi pháp luật chuyên ngành. Việc trở thành thành viên công ty cũng như phạm vi quyền biểu quyết, thẩm quyền quyết định chuyên môn bị giới hạn bởi yêu cầu về chứng chỉ hành nghề và quy tắc đạo đức nghề nghiệp theo luật chuyên ngành như Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), Luật Kiểm toán độc lập năm 2011, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023… Điều này dẫn đến, trong công ty TNHH hai thành viên trở lên hoạt động nghề nghiệp, quyền sở hữu vốn không hoàn toàn đồng nhất với quyền kiểm soát hoạt động chuyên môn. Thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ bị “phân tầng”: (i) thẩm quyền sở hữu tài sản theo Luật Doanh nghiệp năm 2020; (ii) thẩm quyền chuyên môn và chứng chỉ hành nghề theo luật chuyên ngành. Cơ chế kiểm soát vận hành theo hai tầng tương ứng: (i) kiểm soát nội bộ bởi hội đồng thành viên; (ii) kiểm soát thông qua cơ quan quản lý chuyên ngành và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. So với công ty TNHH hai thành viên trở lên thông thường, mô hình này làm gia tăng mức độ ràng buộc cá nhân của thành viên công ty, bởi họ còn phải chịu trách nhiệm nghề nghiệp độc lập trước khách hàng và cơ quan quản lý chuyên ngành.

Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty con của doanh nghiệp nhà nước, cấu trúc quản trị nội bộ theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 vẫn giữ nguyên về hình thức, nhưng mô hình kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình có sự chi phối đáng kể của đại diện chủ sở hữu nhà nước[11].

2. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ về thiết kế thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và cơ chế ràng buộc nghĩa vụ ủy thác, từ góc độ so sánh

Để đánh giá đầy đủ hơn về thiết kế thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên và cơ chế ràng buộc nghĩa vụ ủy thác, cần đặt trong tương quan so sánh với hệ thống pháp luật đã phát triển từ lâu về vấn đề này. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ, nơi nghĩa vụ ủy thác được phát triển thành chuẩn mực hành vi và cơ chế thực thi thông qua án lệ, là đối tượng tham chiếu phù hợp để làm rõ tiêu chí cân bằng giữa thiết kế thẩm quyền, trao quyền và ràng buộc trách nhiệm trong quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Khác với cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Hoa Kỳ được xây dựng trên nền tảng hợp đồng hóa quản trị nội bộ thông qua thỏa thuận điều lệ công ty và kiểm soát quyền lực qua nghĩa vụ ủy thác tối thiểu. Do Hoa Kỳ không có luật doanh nghiệp cấp liên bang, mà các bang có quyền thiết lập hệ thống luật doanh nghiệp riêng theo quy định của Tu chính án thứ 10 Hiến pháp Hoa Kỳ[12], năm 2013, Ủy ban Luật thống nhất Hoa Kỳ đã ban hành Luật mẫu về công ty TNHH (Luật mẫu RULLCA) để các bang tham khảo trong quá trình xây dựng luật công ty TNHH của bang mình[13]. Điều 105(a) Luật mẫu RULLCA xác định điều lệ công ty là văn bản “trung tâm” điều chỉnh việc phân bổ quyền lực quản trị nội bộ. Điều 407 Luật mẫu RULLCA cho phép lựa chọn giữa một trong hai mô hình quản trị là: (i) thành viên trực tiếp quản lý điều hành công ty; (ii) thuê/chỉ định người quản lý điều hành công ty. Tuy nhiên, sự linh hoạt này được đặt trong khuôn khổ một số nghĩa vụ ủy thác bắt buộc áp dụng đối với chủ thể thực thi quyền quản lý[14]. Điểm cốt lõi không nằm ở quy định lựa chọn cấu trúc quản trị nội bộ, mà ở nguyên tắc thẩm quyền luôn đi kèm nghĩa vụ tương ứng. Trong mô hình thành viên trực tiếp quản lý điều hành công ty, mỗi thành viên đều có quyền ngang nhau trong đại diện và điều hành hoạt động hàng ngày của công ty, đồng thời, phải tuân thủ nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng và thiện chí[15], cấm chiếm đoạt cơ hội kinh doanh của công ty và cấm giao dịch tư lợi gây xung đột lợi ích[16]. Ở mô hình thuê/chỉ định người quản lý điều hành công ty, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành được bù đắp bằng hệ thống nghĩa vụ ủy thác áp dụng cho người quản lý với tư cách chủ thể thực hiện quyền quản trị[17]. Cơ chế khởi kiện đại diện pháp nhân cũng được ghi nhận nhằm bảo vệ lợi ích công ty khi người quản lý vi phạm nghĩa vụ[18]. Điều này phản ánh nguyên tắc được khẳng định trong học thuyết quản trị công ty, quyền lực quản lý chịu sự ràng buộc bởi các nghĩa vụ ủy thác và cơ chế giải trình, thay vì là quyền lực tuyệt đối[19].

Tại các bang có quy mô kinh tế lớn và số doanh nghiệp đang hoạt động nhiều như California, Texas, New York và Delaware[20], sự khác biệt giữa luật công ty TNHH cấp bang chủ yếu ở mức độ mặc định của nghĩa vụ ủy thác và phạm vi tự do hợp đồng hóa quản trị thông qua điều lệ công ty. Trong đó, bang California và New York duy trì hệ thống nghĩa vụ ủy thác tương đối rõ ràng với các nghĩa vụ tối thiểu gồm trung thành và cẩn trọng[21]. Bang Texas và Delaware có sự mở rộng hơn, cho phép điều lệ công ty giới hạn hoặc loại trừ một số nghĩa vụ ủy thác luật định[22].

Bên cạnh đó, án lệ đóng vai trò trung tâm trong xác lập ranh giới giữa quyết định kinh doanh hợp lý và hành vi vi phạm nghĩa vụ ủy thác[23]. Điều này cho thấy, pháp luật công ty TNHH các bang như California, Texas, New York và Delaware mở rộng không gian tự do thiết kế thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ, cơ chế xét xử trở thành công cụ hậu kiểm bảo đảm cân bằng quyền lực quản trị công ty.

Từ góc độ cấu trúc quyền lực quản trị nội bộ, mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên của Hoa Kỳ vận hành theo logic trao quyền rộng gắn với kiểm soát mạnh, miễn là bảo đảm sự ràng buộc với các chuẩn mực hành vi và giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế xét xử của Tòa án. Các phán quyết của Tòa án Hoa Kỳ thiên về bảo vệ quyết định kinh doanh thiện chí, có cơ sở hợp lý[24], không bảo vệ hành vi gây xung đột lợi ích hoặc vi phạm các nghĩa vụ ủy thác luật định[25]. Tức là, án lệ đã giúp cụ thể hóa các tiêu chuẩn kiểm soát hành vi quản lý, qua đó, tạo nền tảng cho việc trao quyền rộng rãi và gia tăng hiệu quả kiểm soát. Nhờ đó, thẩm quyền quản trị nội bộ được bảo đảm linh hoạt mà vẫn duy trì trách nhiệm giải trình và trách nhiệm cá nhân người quản lý.

Đối với công ty TNHH hoạt động nghề nghiệp, các bang New York và Texas yêu cầu thành viên phải có chứng chỉ hành nghề và tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo chuyên ngành[26]. Điều này tạo cơ chế kiểm soát hai tầng: (i) nghĩa vụ ủy thác theo luật công ty TNHH của bang; (ii) nghĩa vụ nghề nghiệp theo pháp luật chuyên ngành. Thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ không chỉ bị giới hạn bởi lợi ích công ty, mà còn bởi lợi ích cộng đồng gắn với hoạt động hành nghề. Ngoài ra, pháp luật Hoa Kỳ không thiết lập mô hình công ty TNHH là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty con của doanh nghiệp nhà nước như Việt Nam.

So sánh pháp luật Hoa Kỳ và Việt Nam cho thấy, mức độ hợp lý của thiết kế thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ phụ thuộc vào sự tương thích giữa phạm vi quyền được trao, nội hàm nghĩa vụ ủy thác và hiệu quả cơ chế thực thi. Khi nghĩa vụ ủy thác được xác lập rõ ràng và có khả năng thực thi, giải thích thông qua án lệ, có thể trao quyền quản lý rộng hơn[27].

Khoản 1 Điều 55, Điều 63 và Điều 71 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thiết lập cấu trúc quản trị theo hướng quy định “cứng” cấu trúc tổ chức quản trị nội bộ với hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất, giám đốc/tổng giám đốc có nghĩa vụ trung thành và cẩn trọng khi thực hiện quản lý điều hành công ty. Tức là, sự khác biệt không chỉ nằm ở kỹ thuật lập pháp, mà còn phản ánh sự khác biệt ở mô hình kiểm soát quyền lực trong doanh nghiệp. Cụ thể:

- Về cách tiếp cận, Việt Nam lựa chọn theo hướng tiền kiểm thông qua thiết kế tổ chức, quyền lực được định hình và giới hạn ngay từ cấu trúc pháp định của cơ quan quản trị nội bộ. Còn Hoa Kỳ theo hướng hậu kiểm, gắn quyền với chuẩn mực hành vi và chế tài trách nhiệm ủy thác tối thiểu.

- Hoa Kỳ coi điều lệ công ty là trung tâm của trật tự quyền lực doanh nghiệp, phản ánh mức độ tự do hợp đồng hóa quản trị nội bộ ở mức cao, trong khi Việt Nam chưa cho phép ở mức độ như Hoa Kỳ.

- Về cơ chế bảo đảm thực thi, Hoa Kỳ dựa trên hệ thống án lệ đã phát triển từ lâu và hệ thống Tòa án để kiểm soát hành vi lạm quyền, trong khi Việt Nam chủ yếu dựa vào quy định thành văn, cơ chế thực thi và án lệ chưa phát triển như Hoa Kỳ.

Sự khác biệt này bắt nguồn từ yếu tố thể chế và lịch sử pháp lý. Tại Hoa Kỳ, án lệ đóng vai trò trung tâm và niềm tin vào cơ chế xét xử cho phép nhà làm luật trao quyền rộng hơn cho chủ thể sở hữu doanh nghiệp. Trong khi Việt Nam chịu ảnh hưởng của truyền thống dân luật và yêu cầu quản lý nhà nước nhằm bảo đảm tính an toàn, ổn định của giao dịch, do đó, có xu hướng kiểm soát quyền lực thông qua thiết kế pháp định. Ngoài ra, mức độ phát triển của thị trường, tính minh bạch thông tin và hiệu quả của hệ thống tư pháp cũng là những yếu tố tác động đến lựa chọn mô hình kiểm soát quyền lực tương ứng.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của cơ quan quản trị nội bộ trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và cơ chế ràng buộc nghĩa vụ ủy thác, từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ, nơi quyền quản lý được xem như một dạng quyền ủy thác và được kiểm soát bằng chuẩn mực hành vi, án lệ, hậu kiểm thông qua Tòa án, Việt Nam cần hoàn thiện Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng tiếp thu có chọn lọc các yếu tố hợp lý của mô hình trao quyền gắn với trách nhiệm của Hoa Kỳ. Theo đó, cần bổ sung cơ chế kiểm soát hành vi theo hướng chuyển từ kiểm soát quyền lực dựa trên cấu trúc sang kết hợp giữa cấu trúc và kiểm soát hành vi, nhằm bảo đảm cân bằng giữa thẩm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giải trình, phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển thị trường tại Việt Nam, qua đó, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.

Thứ nhất, bổ sung quy định tại Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2020 nhằm xác lập nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa hội đồng thành viên và giám đốc/tổng giám đốc.

Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2020 chủ yếu liệt kê quyền và nghĩa vụ của giám đốc/tổng giám đốc, chưa thiết lập rõ nguyên tắc phân quyền theo chức năng giữa cơ quan quyết định chiến lược (hội đồng thành viên) và chủ thể điều hành (giám đốc/tổng giám đốc). Điều này có thể dẫn đến khó khăn trong xác định trách nhiệm pháp lý khi phát sinh tranh chấp liên quan đến các quyết định quản lý quan trọng. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất bổ sung nguyên tắc phân định thẩm quyền tại Điều 63 theo hướng làm rõ giới hạn thẩm quyền điều hành và nghĩa vụ báo cáo bắt buộc đối với các quyết định của giám đốc/tổng giám đốc vượt ngưỡng giá trị nhất định hoặc có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của công ty. Theo đó, giao dịch vượt ngưỡng giá trị có thể được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tổng giá trị tài sản ghi nhận trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty (ví dụ 10%) hoặc theo mức cụ thể do điều lệ công ty quy định. Quyết định có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của công ty được hiểu là các quyết định liên quan đến đầu tư, vay nợ, bảo lãnh, chuyển nhượng tài sản hoặc giao dịch với người có liên quan vượt quá ngưỡng giá trị trên. Việc bổ sung quy định này nhằm nâng cao tính minh bạch trong phân bổ quyền lực quản trị nội bộ, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Hoa Kỳ, không can thiệp sâu vào cấu trúc tổ chức, nhưng thiết lập ranh giới thẩm quyền thông qua các tiêu chí vận hành và trách nhiệm giải trình, qua đó, phân quyền linh hoạt gắn với kiểm soát hành vi, khắc phục khó khăn thiếu ranh giới rõ ràng trong xác định trách nhiệm pháp lý khi phát sinh tranh chấp liên quan đến các quyết định quản lý quan trọng.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Điều 71 Luật Doanh nghiệp năm 2020 nhằm chuẩn hóa và cụ thể hóa nội hàm nghĩa vụ ủy thác của người quản lý.

Điều 71 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng và trung thành ở mức khái quát, mà chưa phân định rõ nội dung cụ thể của từng nghĩa vụ và tiêu chuẩn đánh giá hành vi vi phạm. Để tiệm cận thông lệ quốc tế trong chuyển hóa nghĩa vụ ủy thác từ nguyên tắc đạo đức pháp lý thành chuẩn mực hành vi có thể áp dụng và kiểm chứng trong thực tiễn, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 71 theo hướng:

- Bổ sung quy định về người quản lý công ty không được: (i) chiếm đoạt hoặc sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty vì lợi ích cá nhân; (ii) thực hiện giao dịch có xung đột lợi ích với công ty; (iii) sử dụng thông tin, bí mật kinh doanh của công ty vì mục đích cá nhân.

- Quy định rõ tiêu chuẩn đánh giá nghĩa vụ cẩn trọng theo tiêu chí “người quản lý hợp lý trong điều kiện tương tự”, tập trung vào quy trình ra quyết định hợp lý trong cùng hoàn cảnh đối với người quản lý có trình độ, kinh nghiệm tương đương, thay vì chỉ yêu cầu chung về cẩn trọng.

- Bổ sung quy định về cơ chế miễn trừ trách nhiệm có điều kiện đối với quyết định kinh doanh được thực hiện trên cơ sở thiện chí, thông tin đầy đủ và vì lợi ích tốt nhất của công ty nhằm khuyến khích tinh thần chủ động trong quản lý, đồng thời, tạo tiêu chí rõ ràng cho cơ quan xét xử khi đánh giá hành vi vi phạm.

Đề xuất này trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Hoa Kỳ, nơi nghĩa vụ ủy thác được cụ thể hóa thành các chuẩn mực hành vi có thể kiểm chứng thông qua án lệ. Việc chuẩn hóa nghĩa vụ ủy thác là điều kiện để mở rộng không gian tự chủ trong quản trị nội bộ, mà vẫn bảo đảm kiểm soát quyền lực, theo logic trao quyền gắn với trách nhiệm của pháp luật Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc nội luật hóa tại Việt Nam cần bảo đảm phù hợp lộ trình quy phạm hóa và sự phát triển hệ thống án lệ.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung Điều 24 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về nội dung điều lệ công ty nhằm nâng cao vai trò của điều lệ trong phân định và kiểm soát thẩm quyền các cơ quan quản trị nội bộ.

Điều lệ công ty là văn bản quan trọng, nhưng chưa được định hướng đầy đủ về nội dung phân quyền và kiểm soát nội bộ. Để khắc phục hạn chế về không gian tự chủ trong thiết kế quản trị nội bộ, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 24 Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng điều lệ công ty phải quy định rõ: (i) ranh giới giữa quyền quyết định chiến lược và quyền điều hành; (ii) cơ chế phê duyệt giao dịch có xung đột lợi ích; (iii) cơ chế giám sát nội bộ phù hợp với quy mô và tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Việc tăng cường vai trò của điều lệ công ty nhằm tạo không gian linh hoạt có kiểm soát, nâng cao trách nhiệm của thành viên công ty trong xác định thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ và ràng buộc trách nhiệm ủy thác của người quản lý doanh nghiệp. Đề xuất này trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc nguyên tắc hợp đồng hóa quản trị nội bộ trong luật công ty TNHH của Hoa Kỳ theo hướng vẫn duy trì kiểm soát rủi ro khi năng lực tự quản của doanh nghiệp và cơ chế giám sát thị trường tại Việt Nam chưa phát triển đồng đều.

Thứ tư, hoàn thiện và chuẩn hóa cơ chế khởi kiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trách nhiệm của người quản lý.

Điều 72 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về quyền khởi kiện của thành viên công ty đối với người quản lý khi có hành vi vi phạm, nhưng chủ yếu mới thừa nhận quyền khởi kiện mang tính nguyên tắc, mà chưa thiết lập cơ chế khởi kiện đại diện với tư cách là công cụ pháp lý đặc thù nhằm bảo vệ lợi ích của công ty, trong trường hợp cơ quan quản trị nội bộ không thực hiện hoặc không thể thực hiện chức năng kiểm soát nhằm bảo đảm tính khả thi trong thực thi rõ ràng như Hoa Kỳ. Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện Điều 72 theo hướng làm rõ trường hợp thành viên được khởi kiện nhân danh công ty để bảo vệ lợi ích của pháp nhân và thiết lập nguyên tắc phân định giữa khởi kiện trực tiếp, khởi kiện đại diện nhằm cụ thể hóa, nâng cao hiệu quả thực thi luật.

Thứ năm, đẩy mạnh lựa chọn, phát triển án lệ trong lĩnh vực doanh nghiệp.

Từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ cho thấy, án lệ trong lĩnh vực doanh nghiệp đã cụ thể hóa việc xác định các chuẩn mực hành vi nhằm hỗ trợ phân biệt ranh giới giữa quyền tự do kinh doanh hợp lý và hành vi lạm dụng quyền lực quản trị nội bộ. Do đó, trong điều kiện Việt Nam, khi các chuẩn mực như trung thành, cẩn trọng còn mang tính khái quát dẫn đến khó khăn trong áp dụng, nghiên cứu đề xuất đẩy mạnh lựa chọn, phát triển các án lệ trong lĩnh vực doanh nghiệp, đặc biệt, các tranh chấp liên quan đến xung đột lợi ích và án lệ đối với các chuẩn mực mang tính “mở” như nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng, thiện chí của người quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát trong quản trị nội bộ doanh nghiệp.

Kết luận

Thẩm quyền của cơ quan quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên là cơ sở pháp lý quan trọng trong phân bổ và kiểm soát quyền lực. Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã xây dựng cấu trúc tổ chức quản trị nội bộ tương đối cụ thể, rõ ràng, tuy nhiên, cơ chế ràng buộc nghĩa vụ ủy thác và thực thi trách nhiệm người quản lý chưa tương xứng với phạm vi thẩm quyền được trao. Trong khi kinh nghiệm của Hoa Kỳ cho thấy, mô hình kiểm soát quyền lực dựa trên trách nhiệm ủy thác, hợp đồng hóa quản trị nội bộ thông qua điều lệ, xác định chuẩn mực hành vi, tăng cường vai trò của án lệ và Tòa án là những gợi mở mà Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong quá trình hoàn thiện pháp luật công ty TNHH hai thành viên trở lên theo hướng tăng cường tính tương thích giữa thẩm quyền, nghĩa vụ ủy thác và cơ chế thực thi, chuẩn hóa nội hàm nghĩa vụ ủy thác, cá thể hóa trách nhiệm của chủ thể quản lý và củng cố cơ chế giải trình. Khi quyền lực quản trị nội bộ được đặt trong khuôn khổ trách nhiệm thực chất, công ty TNHH hai thành viên trở lên sẽ vận hành hiệu quả cao và bền vững hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình đổi mới và hội nhập trong giai đoạn hiện nay.

Nguyễn Hoài Thu

Học viện Chính trị khu vực I

[1]. Jack P.Friedman (2000), Dictionary of Business Terms, Barron’s Educational Series Inc., 3th Edition, p.43.

[2]. Bob Tricker (2015), Corporate Governance: Principles, Policies and Practices, Oxford University Press, 3th Edition, pp.30-55.

[3]. Khoản 1 Điều 54 và khoản 1 Điều 56 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[4]. Eugene F. Fama & Michael C. Jensen (1983), Separation of Ownership and Control, Journal of Law and Economics, Vol. 26, No. 2, pp.8-9.

[5]. Khoản 2 Điều 56 và Khoản 2 Điều 59 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[6]. La Porta, R., Lopez-de-Silanes, F., & Shleifer, A (1999), Corporate ownership around the world, Journal of Finance, 54(2), pp.471-517.

[7]. Hansmann, H., & Kraakman, R (2000), The end of history for corporate law, Georgetown Law Journal, 89(2), pp.7-11.

[8]. Michael Jensen & William Meckling (1976), Theory of The Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure, Journal of Financial Economics, 10/1976, Volumn 3, No.4, pp.5-9.

[9]. Khoản 2 Điều 49 và khoản 1 Điều 72 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[10]. Tạ Kiến Tường (2024), Trách nhiệm của người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 339 (4/2024), tr.5-7; Võ Trung Hậu & Lê Thị Minh (2023), Vietnam’s Legal Policy on Obligations of Company Managers, International Journal of Law and Society, No. 6(1), pp.97-101.

[11]. Điều 6 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025.

[12]. Văn phòng in ấn Chính phủ Hoa Kỳ - GPO (1992), 10th Amendment US Constitution-Reserved Powers, https://www.govinfo.gov/content/pkg/GPO-CONAN-1992/pdf/GPO-CONAN-1992-10-11.pdf, truy cập ngày 16/3/2026.

[13]. Uniform Law Commission (2013), Revised Uniform Limited Liability Company Act, RULLCA 2006, Last Amended 2013, https://www.uniformlaws.org/viewdocument/final-act-83?CommunityKey=bbea059c-6853-4f45-b69b-7ca2e49cf740, truy cập ngày 16/3/2026.

[14]. Điều 409 Luật mẫu RULLCA.

[15]. Điều 407(b) và Điều 409(b)(c)(d) Luật mẫu RULLCA.

[16]. Tòa phúc thẩm bang New York (1928), Án lệ Meinhard v. Salmon, 249 N.Y. 458 (1928), https://www.nycourts.gov/reporter/archives/meinhard_salmon.htm, truy cập ngày 16/3/2026.

[17]. William A. Klein (2017), Business Organization and Finance, Nxb. Thomson Reuters/Foundation Press, 12thed., pp.110-115.

[18]. Từ Điều 901 đến Điều 905 Luật mẫu RULLCA.

[19]. Reinier R. Kraakman (2004), The Anatomy of Corporate Law: A Comparative and Functional Approach, Nxb. Oxford University Press, pp.23-27.

[20]. Cục Quản lý doanh nghiệp Hoa Kỳ - SBA (2025), 2025 Small Business Profiles for the States, Territories, and Nation, https://advocacy.sba.gov/2025/06/30/2025-small-business-profiles-for-the-states-territories-and-nation/, truy cập ngày 16/3/2026.

[21]. Điều 17704.09 Luật Công ty TNHH thống nhất sửa đổi bang California và Điều 409 Luật Công ty TNHH bang New York.

[22]. Điều 101.401 Bộ luật Tổ chức kinh doanh Texas và Điều 18-1101(c) Bộ luật bang Delaware năm 2025.

[23]. Tòa án Tối cao bang Delaware (1939), Án lệ Guth v. Loft, Inc., 5 A.2d 503 (Del. 1939), https://case-law.vlex.com/vid/guth-v-loft-inc-897317292, truy cập ngày 16/3/2026.

[24]. Tòa án Tối cao bang Delaware (1983), Án lệ Aronson v. Lewis, 473 A.2d 805 (Del. 1984), https://law.justia.com/cases/delaware/supreme-court/1984/473-a-2d-805-4.html, truy cập ngày 16/3/2026.

[25]. Tòa án Tối cao bang Delaware (2012), Án lệ Auriga Capital Corp. v. Gatz Properties, 40 A.3d 839 (Del. Ch.2012), https://law.justia.com/cases/delaware/supreme-court/2012/148-2012.html, truy cập ngày 16/3/2026.

[26]. Điều 301.003 Bộ luật Tổ chức kinh doanh Texas; Điều 1203 Luật Công ty TNHH bang New York.

[27]. Frank H. Easterbrook & Daniel R. Fischel (1996), The Economic Structure of Corporate Law, Harvard University Press, pp.90-94.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bob Tricker (2015), Corporate Governance: Principles, Policies and Practices, Oxford University Press, 3th Edition.

2. Cục Quản lý doanh nghiệp Hoa Kỳ - SBA (2025), 2025 Small Business Profiles for the States, Territories, and Nation, https://advocacy.sba.gov/2025/06/30/2025-small-business-profiles-for-the-states-territories-and-nation/, truy cập ngày 16/3/2026.

3. Eugene F. Fama & Michael C. Jensen (1983), Separation of Ownership and Control, Journal of Law and Economics, Vol. 26, No. 2.

4. Frank H. Easterbrook & Daniel R. Fischel (1996), The Economic Structure of Corporate Law, Harvard University Press.

5. Hansmann, H., & Kraakman, R (2000), The end of history for corporate law, Georgetown Law Journal, 89(2).

6. Hội đồng lập pháp bang Delaware (2025), Delaware Limited Liability Company Law, https://delcode.delaware.gov/title6/Title6.pdf, truy cập ngày 16/3/2026.

7. Jack P.Friedman (2000), Dictionary of Business Terms, Barron’s Educational Series Inc., 3th Edition.

8. Justia U.S.Law (2024), California Revised Uniform Limited Liability Company Act, https://law.justia.com/codes/california/code-corp/title-2-6/, truy cập ngày 16/3/2026.

9. La Porta, R., Lopez-de-Silanes, F., & Shleifer, A (1999), Corporate ownership around the world, Journal of Finance, 54(2).

10. Michael Jensen & William Meckling (1976), Theory of The Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure, Journal of Financial Economics, 10/1976, Volumn 3, No.4.

11. NewYork.Public.Law (2014), New York Limited Liability Company Law, https://newyork.public.law/laws/n.y.limitedliabilitycompanylaw, truy cập ngày 16/3/2026.

12. Reinier R. Kraakman (2004), The Anatomy of Corporate Law: A Comparative and Functional Approach, Oxford University Press.

13. Tạ Kiến Tường (2024), Trách nhiệm của người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 339 (4/2024).

14. Texas.Public.Law (2006), Texas Business Organizations Code, https://texas.public.law/statutes/tex.bus.orgs.codetitle3chapter101, truy cập ngày 16/3/2026.

15. Tòa án Tối cao bang Delaware (1939), Án lệ Guth v. Loft, Inc., 5 A.2d 503 (Del. 1939), https://case-law.vlex.com/vid/guth-v-loft-inc-897317292, truy cập ngày 16/3/2026.

16. Tòa án Tối cao bang Delaware (1983), Án lệ Aronson v. Lewis, 473 A.2d 805 (Del. 1984), https://law.justia.com/cases/delaware/supreme-court/1984/473-a-2d-805-4.html, truy cập ngày 16/3/2026.

17. Tòa án Tối cao bang Delaware (2012), Án lệ Auriga Capital Corp. v. Gatz Properties, 40 A.3d 839 (Del. Ch. 2012), https://law.justia.com/cases/delaware/supreme-court/2012/148-2012. html, truy cập ngày 16/3/2026.

18. Tòa phúc thẩm bang New York (1928), Án lệ Meinhard v. Salmon, 249 N.Y. 458 (1928), https://www.nycourts.gov/reporter/archives/meinhardsalmon.htm, truy cập ngày 16/3/2026.

19. Uniform Law Commission (2013), Revised Uniform Limited Liability Company Act, RULLCA 2006, Last Amended 2013, https://www.uniformlaws.org/viewdocument/final-act-83?CommunityKey=bbea059c-6853-4f45-b69b-7ca2e49cf740, truy cập ngày 16/3/2026.

20. Văn phòng in ấn Chính phủ Hoa Kỳ - GPO (1992), 10th Amendment US Constitution- Reserved Powers, https://www.govinfo.gov/content/pkg/GPO-CONAN-1992/pdf/GPO- CONAN-1992-10-11.pdf, truy cập ngày 16/3/2026.

21. Võ Trung Hậu & Lê Thị Minh (2023), Vietnam’s Legal Policy on Obligations of Company Managers, International Journal of Law and Society, No. 6(1).

22. William A. Klein (2017), Business Organization and Finance, Thomson Reuters/ Foundation Press, 12th ed.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (452) tháng 5/2026)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông tại Việt Nam vượt khả năng ngân sách, khai thác quỹ đất trở thành giải pháp quan trọng. Nghiên cứu phân tích, đánh giá cơ sở pháp lý và kinh nghiệm quốc tế về thu hồi giá trị gia tăng từ đất gắn với hạ tầng qua các mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), tái điều chỉnh đất đai và kết hợp hạ tầng - bất động sản. Kết quả cho thấy, pháp luật Việt Nam còn hạn chế về cơ chế phân chia địa tô chênh lệch, tiêu chí vùng phụ cận và tính đồng bộ pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứ đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả khai thác quỹ đất phục vụ phát triển hạ tầng giao thông.
Trách nhiệm pháp lý của công ty mẹ đối với các vi phạm quyền con người trong nhóm công ty - Kinh nghiệm từ pháp luật Anh và gợi mở đối với Việt Nam

Trách nhiệm pháp lý của công ty mẹ đối với các vi phạm quyền con người trong nhóm công ty - Kinh nghiệm từ pháp luật Anh và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Việc áp dụng cứng nhắc nguyên tắc tư cách pháp nhân độc lập và chế độ trách nhiệm hữu hạn trong cấu trúc nhóm công ty đã tạo khoảng trống trách nhiệm đối với các vi phạm quyền con người. Bài viết phân tích cách tiếp cận của pháp luật Anh thông qua các án lệ Chandler v Cape plc, Vedanta v Lungowe và Okpabi v Royal Dutch Shell plc. Tòa án Anh đã vận dụng học thuyết nghĩa vụ cẩn trọng trong trách nhiệm ngoài hợp đồng để xác lập trách nhiệm trực tiếp của công ty mẹ. Từ góc độ so sánh, bài viết nhận diện những hạn chế của pháp luật Việt Nam và đề xuất cách tiếp cận kết hợp giữa cơ chế xuyên thủng bức màn pháp nhân trong luật doanh nghiệp và lồng ghép nghĩa vụ cẩn trọng vào chế định trách nhiệm ngoài hợp đồng. Cách tiếp cận này góp phần phân bổ trách nhiệm hợp lý hơn và tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hoạt động của các nhóm công ty.
Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Việt Nam - So sánh quy định và kiến nghị hoàn thiện

Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Việt Nam - So sánh quy định và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Phạt tiền là một trong những hình phạt không tước tự do trong chính sách hình sự hiện đại, được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (Bộ luật Hình sự năm 2015) của Việt Nam và Bộ luật Hình sự Liên bang Nga. Tuy nhiên, các quy định hiện hành của hai quốc gia có những khác biệt đáng kể về đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng và cách thức xác định mức phạt. Trên cơ sở phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu làm rõ đặc điểm lập pháp và thực tiễn áp dụng hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Liên bang Nga, đồng thời, luận giải vị trí của hình phạt này trong hệ thống hình phạt hiện đại. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất một số định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hình phạt tiền nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, bảo đảm tính khả thi trong thi hành và phù hợp với xu hướng phát triển của chính sách hình sự hiện đại.
Một số quy định của Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ - Mexico - Canada và đề xuất đối với Việt Nam

Một số quy định của Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ - Mexico - Canada và đề xuất đối với Việt Nam

Tóm tắt: Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ - Mexico - Canada (USMCA) có hiệu lực từ năm 2020, chính thức thay thế Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ. Nghiên cứu phân tích một số quy định nổi bật và quan trọng của USMCA liên quan đến: Điều khoản hoàng hôn, sở hữu trí tuệ (IP), nông nghiệp, quy tắc xuất xứ (ROO) và chứng nhận xuất xứ; thương mại kỹ thuật số; lao động và môi trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đánh giá kinh nghiệm và đề xuất Việt Nam tiếp thu có chọn lọc tiến hành đàm phán các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước Bắc Mỹ, đặc biệt là Hoa Kỳ trong tương lai.
Quyền môi trường và công lý khí hậu trong ý kiến tư vấn của Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ - Khuyến nghị đối với Việt Nam

Quyền môi trường và công lý khí hậu trong ý kiến tư vấn của Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ - Khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu toàn cầu ngày càng gia tăng, quyền được sống trong môi trường trong lành ngày càng được nhìn nhận như một quyền con người cơ bản, đòi hỏi các quốc gia phải thiết lập và thực thi các nghĩa vụ pháp lý cụ thể. Nghiên cứu phân tích hai Ý kiến tư vấn năm 2025 của Tòa án Công lý Quốc tế và Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ, qua đó, cho thấy quyền môi trường là một quyền con người độc lập, gắn với các nghĩa vụ pháp lý cụ thể của quốc gia. Từ đó, nghiên cứu đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật để phù hợp với các cam kết quốc tế về quyền môi trường phù hợp với nguyên tắc công lý khí hậu và công bằng liên thế hệ tại Việt Nam.
Pháp luật về quản lý hạn ngạch và chống khai thác IUU - Kinh nghiệm từ Indonesia và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật về quản lý hạn ngạch và chống khai thác IUU - Kinh nghiệm từ Indonesia và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh gia tăng hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, việc hoàn thiện cơ chế quản lý hạn ngạch khai thác và tăng cường thực thi các nghĩa vụ quốc tế theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 trở thành yêu cầu quan trọng đối với các quốc gia ven biển. Nghiên cứu phân tích, tổng hợp và so sánh pháp luật thông qua kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn thực thi tại Indonesia để đánh giá thực trạng pháp luật và cơ chế thực thi tại Việt Nam, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả phòng, chống khai thác IUU tại Việt Nam.
Giao dịch tín chỉ carbon theo pháp luật liên minh châu Âu và Trung Quốc - một số gợi mở đối với Việt Nam

Giao dịch tín chỉ carbon theo pháp luật liên minh châu Âu và Trung Quốc - một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quản lý tín chỉ carbon là một trong những giải pháp quan trọng để kiểm soát ô nhiễm môi trường. Vì thế, nhiều quốc gia trên thế giới đã hình thành thị trường giao dịch tín chỉ carbon. Nghiên cứu phân tích khái niệm, bản chất pháp lý của giao dịch tín chỉ carbon dưới góc độ quyền tài sản và giao dịch dân sự - thương mại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm pháp lý của Liên minh châu Âu và Trung Quốc trong tổ chức thị trường carbon, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam theo hướng minh bạch, có khả năng giao dịch, bảo đảm tương thích với thông lệ quốc tế và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
Vai trò của Tòa án trong thỏa thuận nhận tội ở Hoa Kỳ và Pháp - Gợi mở đối với Việt Nam

Vai trò của Tòa án trong thỏa thuận nhận tội ở Hoa Kỳ và Pháp - Gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án hình sự cả về số lượng và chất lượng, thỏa thuận nhận tội dần trở thành xu hướng được nhiều quốc gia nghiên cứu, áp dụng, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực thi cơ chế này cũng đặt ra những thách thức lớn trong việc bảo đảm cân bằng giữa hiệu quả tố tụng với quyền và lợi ích của người bị buộc tội, đòi hỏi vai trò giám sát chặt chẽ của cơ quan tư pháp, mà trọng tâm là Tòa án. Nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò, thẩm quyền, quy trình phê chuẩn thỏa thuận nhận tội của Tòa án theo quy định pháp luật của Hoa Kỳ, Pháp và so sánh với pháp luật Việt Nam, từ đó, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế thỏa thuận nhận tội phù hợp với Việt Nam.
Pháp luật Liên minh châu Âu trong xác định tình trạng việc làm của người làm việc thông qua nền tảng - Kinh nghiệm từ Tây Ban Nha, Pháp và gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật Liên minh châu Âu trong xác định tình trạng việc làm của người làm việc thông qua nền tảng - Kinh nghiệm từ Tây Ban Nha, Pháp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế số đặt ra thách thức lớn trong xác định tình trạng việc làm của người làm việc thông qua nền tảng kỹ thuật số. Chỉ thị (EU) 2024/2831 đã thiết lập giả định pháp lý về quan hệ lao động nếu người làm việc bị kiểm soát thông qua hệ thống thuật toán, đồng thời, cho phép các quốc gia thành viên linh hoạt thiết kế cơ chế xác định tình trạng việc làm phù hợp với đặc thù pháp luật quốc gia. Nghiên cứu phân tích hai mô hình tiêu biểu tại Tây Ban Nha và Pháp thuộc Liên minh châu Âu (EU), đại diện cho hai cách tiếp cận khác nhau: luật hóa cứng (Tây Ban Nha), án lệ linh hoạt (Pháp), chỉ ra ưu điểm, hạn chế của từng mô hình, qua đó, đề xuất một số kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng khung pháp luật phù hợp với thực tế nhằm bảo vệ người lao động thông qua nền tảng mà vẫn bảo đảm sự linh hoạt của thị trường.
Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Trong khuôn khổ Dự án tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II - Hợp phần hỗ trợ các cơ quan nhà nước (Dự án EU JULE II), chiều ngày 12/5, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam tổ chức cuộc họp kỹ thuật góp ý đối với dự thảo tài liệu tập huấn thử về công tác tổ chức thi hành pháp luật. Bà Nguyễn Thị Minh Phương, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp và bà Nguyễn Thị Thanh Hải, Cố vấn trưởng Dự án EU JULE đồng chủ trì cuộc họp.
Hoàn thiện quy định về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động - từ kinh nghiệm của Indonesia

Hoàn thiện quy định về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động - từ kinh nghiệm của Indonesia

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân có xu hướng gia tăng, đòi hỏi cơ chế hòa giải phải thực sự hiệu quả để bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, ổn định. Tuy nhiên, quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua hòa giải viên lao động còn bộc lộ một số hạn chế, đặc biệt liên quan đến thời hiệu yêu cầu hòa giải, tiêu chuẩn và quyền hạn của hòa giải viên, cũng như thời hạn thực hiện hòa giải. Trên cơ sở phương pháp so sánh, phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật Indonesia và Việt Nam, làm rõ những điểm tương đồng, hạn chế của pháp luật Việt Nam, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cơ chế hòa giải và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động.
Pháp luật về hoàn trả và bảo hành hàng hóa trong thương mại điện tử - so sánh giữa pháp luật Việt Nam và Trung quốc

Pháp luật về hoàn trả và bảo hành hàng hóa trong thương mại điện tử - so sánh giữa pháp luật Việt Nam và Trung quốc

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh, các chính sách hậu mãi như hoàn trả và bảo hành trở thành công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ người tiêu dùng. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật Việt Nam và Trung Quốc về hai chính sách này, nghiên cứu làm rõ các nguyên tắc “niềm tin chính đáng”, “trách nhiệm chia sẻ” và cơ chế “ba bảo đảm” tại Trung Quốc, nhận diện những hạn chế trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp và sàn thương mại điện tử, nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy trong môi trường thương mại điện tử.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: