Abstract: In the context of completing the market economy institutions and the strong development of the private sector in Vietnam, the need to improve the effectiveness of power control in internal corporate governance is becoming increasingly urgent. This research analyzes and clarifies the theoretical and practical basis for designing authority linked to power control mechanisms in limited liability companies with two or more members; and simultaneously compares the provisions of the 2020 Enterprise Law (amended and supplemented in 2022 and 2025) with the RULLCA model law and the company laws of several typical US states. The research shows a difference in legislative philosophy between the two systems: Vietnamese law tends to favor control through organizational structure, while US law emphasizes contracted governance and post-audit mechanisms based on fiduciary duty. Based on this, the study proposes improving the law by clarifying the boundaries of authority, standardizing delegated obligations, and strengthening accountability to enhance the effectiveness of power control in internal corporate governance.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong quản trị nội bộ doanh nghiệp trở thành yêu cầu cấp thiết. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên, việc xác định và thực thi thẩm quyền của các cơ quan quản trị nội bộ có tác động đến bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các thành viên và sự ổn định của doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp năm 2020, sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025 (Luật Doanh nghiệp năm 2020) đã quy định về cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên và chức năng, phạm vi quyết định giữa các chủ thể quản lý. Về bản chất, thẩm quyền quản lý là quyền lực nội bộ có khả năng tác động trực tiếp đến lợi ích của thành viên và của công ty. Việc nghiên cứu hoàn thiện thẩm quyền các cơ quan quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên cần được đặt trong tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực của doanh nghiệp, đồng thời, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế nhằm làm rõ triết lý lập pháp và cách tiếp cận khác nhau trong kiểm soát quyền lực, qua đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp theo hướng bảo đảm cân bằng giữa trao quyền và ràng buộc trách nhiệm trong quản trị nội bộ công ty, góp phần nâng cao mức độ tương thích của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam với thông lệ quản trị quốc tế và tăng cường năng lực cạnh tranh thể chế trong điều kiện hội nhập kinh tế sâu rộng hiện nay.
1. Thẩm quyền của cơ quan quản trị nội bộ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam, từ góc độ cấu trúc quyền lực và nghĩa vụ ủy thác
Theo Từ điển thuật ngữ kinh doanh, thẩm quyền là quyền lực hợp pháp được trao cho chủ thể trong tổ chức để quản lý, chỉ đạo, ra quyết định đối với người khác[1]. Thẩm quyền quản trị nội bộ công ty không chỉ nhìn nhận từ góc độ tổng hợp các quyền pháp luật trao cho chủ thể cụ thể, mà còn được hiểu như một thiết chế phân bổ và kiểm soát quyền lực trong cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp[2]. Trong công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Việt Nam, thẩm quyền của các cơ quan quản trị nội bộ được thiết kế trên cơ sở tập trung quyền lực vào hội đồng thành viên với tư cách là cơ quan quyết định cao nhất, đồng thời, trao quyền điều hành công việc hàng ngày của công ty cho giám đốc/tổng giám đốc, nếu chủ tịch hội đồng thành viên không kiêm nhiệm chức danh này[3].
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không trao quyền cho điều lệ công ty trong thiết kế cấu trúc tổ chức quản trị nội bộ công ty, mà duy trì khuôn khổ tổ chức luật định, phản ánh lựa chọn lập pháp theo hướng kiểm soát bằng thiết kế tổ chức và quyền lực quản trị được quy tụ vào thiết chế đại diện. Tuy nhiên, hiệu quả kiểm soát không chỉ phụ thuộc vào sự tập trung quyền lực, mà còn phụ thuộc vào cơ chế cân bằng và phân tách chức năng giữa các thiết chế quản trị nội bộ[4]. Việc hội đồng thành viên vừa nắm quyền quyết định các vấn đề trọng yếu, vừa có khả năng chi phối hoạt động quản lý điều hành thông qua cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm, giám sát người quản lý[5] là cấu trúc phù hợp với đặc trưng sở hữu tập trung của công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Việt Nam, loại hình bị giới hạn từ 02 đến 50 thành viên và trên thực tế, thường được tổ chức với số ít thành viên có quan hệ gắn bó tương đối chặt chẽ.
Tuy nhiên, từ góc độ kiểm soát quyền lực, khi cơ chế biểu quyết theo tỷ lệ vốn góp giữ vai trò trung tâm và thiếu các thiết chế bảo vệ hữu hiệu cho thành viên thiểu số, cấu trúc quyền lực nội bộ có nguy cơ nghiêng về phía thành viên chi phối, làm gia tăng rủi ro lạm dụng quyền lực[6]. Vấn đề này càng trở nên quan trọng trong điều kiện hệ thống pháp luật chưa thiết lập đầy đủ cơ chế ràng buộc, kiểm soát quyền lực quản trị nội bộ tương tự như các mô hình quản trị phân quyền ở một số hệ thống pháp luật phát triển như Mỹ và Anh[7]. Trong các hệ thống đó, quyền lực quản trị không chỉ được trao mà còn được đặt trong mạng lưới ràng buộc thông qua các nghĩa vụ ủy thác, cơ chế minh bạch thông tin và thiết chế thực thi, qua đó, tạo các giới hạn pháp lý thực chất đối với nguy cơ lạm dụng quyền lực. Việc giao quyền ra quyết định cho nhà quản lý làm phát sinh chi phí đại diện do sự khác biệt lợi ích giữa chủ sở hữu và người quản lý, đòi hỏi phải có cơ chế giám sát và ràng buộc thích hợp[8]. Khoản 1 Điều 71 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định nghĩa vụ trung thực, trung thành và cẩn trọng của người quản lý, thể hiện quyền quản lý doanh nghiệp thực chất là quyền lực phân phối lợi ích, do đó, phải chịu sự kiểm soát thông qua cơ chế ràng buộc trách nhiệm người quản lý.
Ở phương diện thực thi, cơ chế trách nhiệm giải trình quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 chủ yếu dựa vào quyền tiếp cận thông tin và quyền khởi kiện dân sự người quản lý[9]. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc vào khả năng thực thi trên thực tế. Các nghiên cứu cho thấy, việc thực thi trách nhiệm của người quản lý công ty còn gặp nhiều hạn chế cả về cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng[10]. Việc áp dụng các chuẩn mực như trung thành, cẩn trọng chưa cụ thể, thống nhất, phản ánh những khó khăn nhất định trong thực thi quy định này. Khi quyền quyết định tập trung vào hội đồng thành viên, nhưng chuẩn mực trung thành, cẩn trọng và cơ chế thực thi chưa cụ thể, thiếu hiệu quả, quan hệ giữa quyền lực và trách nhiệm có nguy cơ mất cân bằng, làm suy giảm chức năng kiểm soát nội tại của thiết chế quản trị nội bộ.
Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi những điều kiện nhất định về hành nghề như luật sư, kiểm toán, thẩm định giá, y tế…, thẩm quyền quản trị thực tế bị điều kiện hóa bởi pháp luật chuyên ngành. Việc trở thành thành viên công ty cũng như phạm vi quyền biểu quyết, thẩm quyền quyết định chuyên môn bị giới hạn bởi yêu cầu về chứng chỉ hành nghề và quy tắc đạo đức nghề nghiệp theo luật chuyên ngành như Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), Luật Kiểm toán độc lập năm 2011, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023… Điều này dẫn đến, trong công ty TNHH hai thành viên trở lên hoạt động nghề nghiệp, quyền sở hữu vốn không hoàn toàn đồng nhất với quyền kiểm soát hoạt động chuyên môn. Thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ bị “phân tầng”: (i) thẩm quyền sở hữu tài sản theo Luật Doanh nghiệp năm 2020; (ii) thẩm quyền chuyên môn và chứng chỉ hành nghề theo luật chuyên ngành. Cơ chế kiểm soát vận hành theo hai tầng tương ứng: (i) kiểm soát nội bộ bởi hội đồng thành viên; (ii) kiểm soát thông qua cơ quan quản lý chuyên ngành và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. So với công ty TNHH hai thành viên trở lên thông thường, mô hình này làm gia tăng mức độ ràng buộc cá nhân của thành viên công ty, bởi họ còn phải chịu trách nhiệm nghề nghiệp độc lập trước khách hàng và cơ quan quản lý chuyên ngành.
Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty con của doanh nghiệp nhà nước, cấu trúc quản trị nội bộ theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 vẫn giữ nguyên về hình thức, nhưng mô hình kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình có sự chi phối đáng kể của đại diện chủ sở hữu nhà nước[11].
2. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ về thiết kế thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và cơ chế ràng buộc nghĩa vụ ủy thác, từ góc độ so sánh
Để đánh giá đầy đủ hơn về thiết kế thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên và cơ chế ràng buộc nghĩa vụ ủy thác, cần đặt trong tương quan so sánh với hệ thống pháp luật đã phát triển từ lâu về vấn đề này. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ, nơi nghĩa vụ ủy thác được phát triển thành chuẩn mực hành vi và cơ chế thực thi thông qua án lệ, là đối tượng tham chiếu phù hợp để làm rõ tiêu chí cân bằng giữa thiết kế thẩm quyền, trao quyền và ràng buộc trách nhiệm trong quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Khác với cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Hoa Kỳ được xây dựng trên nền tảng hợp đồng hóa quản trị nội bộ thông qua thỏa thuận điều lệ công ty và kiểm soát quyền lực qua nghĩa vụ ủy thác tối thiểu. Do Hoa Kỳ không có luật doanh nghiệp cấp liên bang, mà các bang có quyền thiết lập hệ thống luật doanh nghiệp riêng theo quy định của Tu chính án thứ 10 Hiến pháp Hoa Kỳ[12], năm 2013, Ủy ban Luật thống nhất Hoa Kỳ đã ban hành Luật mẫu về công ty TNHH (Luật mẫu RULLCA) để các bang tham khảo trong quá trình xây dựng luật công ty TNHH của bang mình[13]. Điều 105(a) Luật mẫu RULLCA xác định điều lệ công ty là văn bản “trung tâm” điều chỉnh việc phân bổ quyền lực quản trị nội bộ. Điều 407 Luật mẫu RULLCA cho phép lựa chọn giữa một trong hai mô hình quản trị là: (i) thành viên trực tiếp quản lý điều hành công ty; (ii) thuê/chỉ định người quản lý điều hành công ty. Tuy nhiên, sự linh hoạt này được đặt trong khuôn khổ một số nghĩa vụ ủy thác bắt buộc áp dụng đối với chủ thể thực thi quyền quản lý[14]. Điểm cốt lõi không nằm ở quy định lựa chọn cấu trúc quản trị nội bộ, mà ở nguyên tắc thẩm quyền luôn đi kèm nghĩa vụ tương ứng. Trong mô hình thành viên trực tiếp quản lý điều hành công ty, mỗi thành viên đều có quyền ngang nhau trong đại diện và điều hành hoạt động hàng ngày của công ty, đồng thời, phải tuân thủ nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng và thiện chí[15], cấm chiếm đoạt cơ hội kinh doanh của công ty và cấm giao dịch tư lợi gây xung đột lợi ích[16]. Ở mô hình thuê/chỉ định người quản lý điều hành công ty, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành được bù đắp bằng hệ thống nghĩa vụ ủy thác áp dụng cho người quản lý với tư cách chủ thể thực hiện quyền quản trị[17]. Cơ chế khởi kiện đại diện pháp nhân cũng được ghi nhận nhằm bảo vệ lợi ích công ty khi người quản lý vi phạm nghĩa vụ[18]. Điều này phản ánh nguyên tắc được khẳng định trong học thuyết quản trị công ty, quyền lực quản lý chịu sự ràng buộc bởi các nghĩa vụ ủy thác và cơ chế giải trình, thay vì là quyền lực tuyệt đối[19].
Tại các bang có quy mô kinh tế lớn và số doanh nghiệp đang hoạt động nhiều như California, Texas, New York và Delaware[20], sự khác biệt giữa luật công ty TNHH cấp bang chủ yếu ở mức độ mặc định của nghĩa vụ ủy thác và phạm vi tự do hợp đồng hóa quản trị thông qua điều lệ công ty. Trong đó, bang California và New York duy trì hệ thống nghĩa vụ ủy thác tương đối rõ ràng với các nghĩa vụ tối thiểu gồm trung thành và cẩn trọng[21]. Bang Texas và Delaware có sự mở rộng hơn, cho phép điều lệ công ty giới hạn hoặc loại trừ một số nghĩa vụ ủy thác luật định[22].
Bên cạnh đó, án lệ đóng vai trò trung tâm trong xác lập ranh giới giữa quyết định kinh doanh hợp lý và hành vi vi phạm nghĩa vụ ủy thác[23]. Điều này cho thấy, pháp luật công ty TNHH các bang như California, Texas, New York và Delaware mở rộng không gian tự do thiết kế thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ, cơ chế xét xử trở thành công cụ hậu kiểm bảo đảm cân bằng quyền lực quản trị công ty.
Từ góc độ cấu trúc quyền lực quản trị nội bộ, mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên của Hoa Kỳ vận hành theo logic trao quyền rộng gắn với kiểm soát mạnh, miễn là bảo đảm sự ràng buộc với các chuẩn mực hành vi và giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế xét xử của Tòa án. Các phán quyết của Tòa án Hoa Kỳ thiên về bảo vệ quyết định kinh doanh thiện chí, có cơ sở hợp lý[24], không bảo vệ hành vi gây xung đột lợi ích hoặc vi phạm các nghĩa vụ ủy thác luật định[25]. Tức là, án lệ đã giúp cụ thể hóa các tiêu chuẩn kiểm soát hành vi quản lý, qua đó, tạo nền tảng cho việc trao quyền rộng rãi và gia tăng hiệu quả kiểm soát. Nhờ đó, thẩm quyền quản trị nội bộ được bảo đảm linh hoạt mà vẫn duy trì trách nhiệm giải trình và trách nhiệm cá nhân người quản lý.
Đối với công ty TNHH hoạt động nghề nghiệp, các bang New York và Texas yêu cầu thành viên phải có chứng chỉ hành nghề và tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo chuyên ngành[26]. Điều này tạo cơ chế kiểm soát hai tầng: (i) nghĩa vụ ủy thác theo luật công ty TNHH của bang; (ii) nghĩa vụ nghề nghiệp theo pháp luật chuyên ngành. Thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ không chỉ bị giới hạn bởi lợi ích công ty, mà còn bởi lợi ích cộng đồng gắn với hoạt động hành nghề. Ngoài ra, pháp luật Hoa Kỳ không thiết lập mô hình công ty TNHH là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty con của doanh nghiệp nhà nước như Việt Nam.
So sánh pháp luật Hoa Kỳ và Việt Nam cho thấy, mức độ hợp lý của thiết kế thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ phụ thuộc vào sự tương thích giữa phạm vi quyền được trao, nội hàm nghĩa vụ ủy thác và hiệu quả cơ chế thực thi. Khi nghĩa vụ ủy thác được xác lập rõ ràng và có khả năng thực thi, giải thích thông qua án lệ, có thể trao quyền quản lý rộng hơn[27].
Khoản 1 Điều 55, Điều 63 và Điều 71 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thiết lập cấu trúc quản trị theo hướng quy định “cứng” cấu trúc tổ chức quản trị nội bộ với hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất, giám đốc/tổng giám đốc có nghĩa vụ trung thành và cẩn trọng khi thực hiện quản lý điều hành công ty. Tức là, sự khác biệt không chỉ nằm ở kỹ thuật lập pháp, mà còn phản ánh sự khác biệt ở mô hình kiểm soát quyền lực trong doanh nghiệp. Cụ thể:
- Về cách tiếp cận, Việt Nam lựa chọn theo hướng tiền kiểm thông qua thiết kế tổ chức, quyền lực được định hình và giới hạn ngay từ cấu trúc pháp định của cơ quan quản trị nội bộ. Còn Hoa Kỳ theo hướng hậu kiểm, gắn quyền với chuẩn mực hành vi và chế tài trách nhiệm ủy thác tối thiểu.
- Hoa Kỳ coi điều lệ công ty là trung tâm của trật tự quyền lực doanh nghiệp, phản ánh mức độ tự do hợp đồng hóa quản trị nội bộ ở mức cao, trong khi Việt Nam chưa cho phép ở mức độ như Hoa Kỳ.
- Về cơ chế bảo đảm thực thi, Hoa Kỳ dựa trên hệ thống án lệ đã phát triển từ lâu và hệ thống Tòa án để kiểm soát hành vi lạm quyền, trong khi Việt Nam chủ yếu dựa vào quy định thành văn, cơ chế thực thi và án lệ chưa phát triển như Hoa Kỳ.
Sự khác biệt này bắt nguồn từ yếu tố thể chế và lịch sử pháp lý. Tại Hoa Kỳ, án lệ đóng vai trò trung tâm và niềm tin vào cơ chế xét xử cho phép nhà làm luật trao quyền rộng hơn cho chủ thể sở hữu doanh nghiệp. Trong khi Việt Nam chịu ảnh hưởng của truyền thống dân luật và yêu cầu quản lý nhà nước nhằm bảo đảm tính an toàn, ổn định của giao dịch, do đó, có xu hướng kiểm soát quyền lực thông qua thiết kế pháp định. Ngoài ra, mức độ phát triển của thị trường, tính minh bạch thông tin và hiệu quả của hệ thống tư pháp cũng là những yếu tố tác động đến lựa chọn mô hình kiểm soát quyền lực tương ứng.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của cơ quan quản trị nội bộ trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và cơ chế ràng buộc nghĩa vụ ủy thác, từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ, nơi quyền quản lý được xem như một dạng quyền ủy thác và được kiểm soát bằng chuẩn mực hành vi, án lệ, hậu kiểm thông qua Tòa án, Việt Nam cần hoàn thiện Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng tiếp thu có chọn lọc các yếu tố hợp lý của mô hình trao quyền gắn với trách nhiệm của Hoa Kỳ. Theo đó, cần bổ sung cơ chế kiểm soát hành vi theo hướng chuyển từ kiểm soát quyền lực dựa trên cấu trúc sang kết hợp giữa cấu trúc và kiểm soát hành vi, nhằm bảo đảm cân bằng giữa thẩm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giải trình, phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển thị trường tại Việt Nam, qua đó, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, bổ sung quy định tại Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2020 nhằm xác lập nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa hội đồng thành viên và giám đốc/tổng giám đốc.
Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2020 chủ yếu liệt kê quyền và nghĩa vụ của giám đốc/tổng giám đốc, chưa thiết lập rõ nguyên tắc phân quyền theo chức năng giữa cơ quan quyết định chiến lược (hội đồng thành viên) và chủ thể điều hành (giám đốc/tổng giám đốc). Điều này có thể dẫn đến khó khăn trong xác định trách nhiệm pháp lý khi phát sinh tranh chấp liên quan đến các quyết định quản lý quan trọng. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất bổ sung nguyên tắc phân định thẩm quyền tại Điều 63 theo hướng làm rõ giới hạn thẩm quyền điều hành và nghĩa vụ báo cáo bắt buộc đối với các quyết định của giám đốc/tổng giám đốc vượt ngưỡng giá trị nhất định hoặc có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của công ty. Theo đó, giao dịch vượt ngưỡng giá trị có thể được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tổng giá trị tài sản ghi nhận trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty (ví dụ 10%) hoặc theo mức cụ thể do điều lệ công ty quy định. Quyết định có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của công ty được hiểu là các quyết định liên quan đến đầu tư, vay nợ, bảo lãnh, chuyển nhượng tài sản hoặc giao dịch với người có liên quan vượt quá ngưỡng giá trị trên. Việc bổ sung quy định này nhằm nâng cao tính minh bạch trong phân bổ quyền lực quản trị nội bộ, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Hoa Kỳ, không can thiệp sâu vào cấu trúc tổ chức, nhưng thiết lập ranh giới thẩm quyền thông qua các tiêu chí vận hành và trách nhiệm giải trình, qua đó, phân quyền linh hoạt gắn với kiểm soát hành vi, khắc phục khó khăn thiếu ranh giới rõ ràng trong xác định trách nhiệm pháp lý khi phát sinh tranh chấp liên quan đến các quyết định quản lý quan trọng.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Điều 71 Luật Doanh nghiệp năm 2020 nhằm chuẩn hóa và cụ thể hóa nội hàm nghĩa vụ ủy thác của người quản lý.
Điều 71 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng và trung thành ở mức khái quát, mà chưa phân định rõ nội dung cụ thể của từng nghĩa vụ và tiêu chuẩn đánh giá hành vi vi phạm. Để tiệm cận thông lệ quốc tế trong chuyển hóa nghĩa vụ ủy thác từ nguyên tắc đạo đức pháp lý thành chuẩn mực hành vi có thể áp dụng và kiểm chứng trong thực tiễn, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 71 theo hướng:
- Bổ sung quy định về người quản lý công ty không được: (i) chiếm đoạt hoặc sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty vì lợi ích cá nhân; (ii) thực hiện giao dịch có xung đột lợi ích với công ty; (iii) sử dụng thông tin, bí mật kinh doanh của công ty vì mục đích cá nhân.
- Quy định rõ tiêu chuẩn đánh giá nghĩa vụ cẩn trọng theo tiêu chí “người quản lý hợp lý trong điều kiện tương tự”, tập trung vào quy trình ra quyết định hợp lý trong cùng hoàn cảnh đối với người quản lý có trình độ, kinh nghiệm tương đương, thay vì chỉ yêu cầu chung về cẩn trọng.
- Bổ sung quy định về cơ chế miễn trừ trách nhiệm có điều kiện đối với quyết định kinh doanh được thực hiện trên cơ sở thiện chí, thông tin đầy đủ và vì lợi ích tốt nhất của công ty nhằm khuyến khích tinh thần chủ động trong quản lý, đồng thời, tạo tiêu chí rõ ràng cho cơ quan xét xử khi đánh giá hành vi vi phạm.
Đề xuất này trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Hoa Kỳ, nơi nghĩa vụ ủy thác được cụ thể hóa thành các chuẩn mực hành vi có thể kiểm chứng thông qua án lệ. Việc chuẩn hóa nghĩa vụ ủy thác là điều kiện để mở rộng không gian tự chủ trong quản trị nội bộ, mà vẫn bảo đảm kiểm soát quyền lực, theo logic trao quyền gắn với trách nhiệm của pháp luật Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc nội luật hóa tại Việt Nam cần bảo đảm phù hợp lộ trình quy phạm hóa và sự phát triển hệ thống án lệ.
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung Điều 24 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về nội dung điều lệ công ty nhằm nâng cao vai trò của điều lệ trong phân định và kiểm soát thẩm quyền các cơ quan quản trị nội bộ.
Điều lệ công ty là văn bản quan trọng, nhưng chưa được định hướng đầy đủ về nội dung phân quyền và kiểm soát nội bộ. Để khắc phục hạn chế về không gian tự chủ trong thiết kế quản trị nội bộ, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 24 Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng điều lệ công ty phải quy định rõ: (i) ranh giới giữa quyền quyết định chiến lược và quyền điều hành; (ii) cơ chế phê duyệt giao dịch có xung đột lợi ích; (iii) cơ chế giám sát nội bộ phù hợp với quy mô và tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Việc tăng cường vai trò của điều lệ công ty nhằm tạo không gian linh hoạt có kiểm soát, nâng cao trách nhiệm của thành viên công ty trong xác định thẩm quyền cơ quan quản trị nội bộ và ràng buộc trách nhiệm ủy thác của người quản lý doanh nghiệp. Đề xuất này trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc nguyên tắc hợp đồng hóa quản trị nội bộ trong luật công ty TNHH của Hoa Kỳ theo hướng vẫn duy trì kiểm soát rủi ro khi năng lực tự quản của doanh nghiệp và cơ chế giám sát thị trường tại Việt Nam chưa phát triển đồng đều.
Thứ tư, hoàn thiện và chuẩn hóa cơ chế khởi kiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trách nhiệm của người quản lý.
Điều 72 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về quyền khởi kiện của thành viên công ty đối với người quản lý khi có hành vi vi phạm, nhưng chủ yếu mới thừa nhận quyền khởi kiện mang tính nguyên tắc, mà chưa thiết lập cơ chế khởi kiện đại diện với tư cách là công cụ pháp lý đặc thù nhằm bảo vệ lợi ích của công ty, trong trường hợp cơ quan quản trị nội bộ không thực hiện hoặc không thể thực hiện chức năng kiểm soát nhằm bảo đảm tính khả thi trong thực thi rõ ràng như Hoa Kỳ. Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện Điều 72 theo hướng làm rõ trường hợp thành viên được khởi kiện nhân danh công ty để bảo vệ lợi ích của pháp nhân và thiết lập nguyên tắc phân định giữa khởi kiện trực tiếp, khởi kiện đại diện nhằm cụ thể hóa, nâng cao hiệu quả thực thi luật.
Thứ năm, đẩy mạnh lựa chọn, phát triển án lệ trong lĩnh vực doanh nghiệp.
Từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ cho thấy, án lệ trong lĩnh vực doanh nghiệp đã cụ thể hóa việc xác định các chuẩn mực hành vi nhằm hỗ trợ phân biệt ranh giới giữa quyền tự do kinh doanh hợp lý và hành vi lạm dụng quyền lực quản trị nội bộ. Do đó, trong điều kiện Việt Nam, khi các chuẩn mực như trung thành, cẩn trọng còn mang tính khái quát dẫn đến khó khăn trong áp dụng, nghiên cứu đề xuất đẩy mạnh lựa chọn, phát triển các án lệ trong lĩnh vực doanh nghiệp, đặc biệt, các tranh chấp liên quan đến xung đột lợi ích và án lệ đối với các chuẩn mực mang tính “mở” như nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng, thiện chí của người quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát trong quản trị nội bộ doanh nghiệp.
Kết luận
Thẩm quyền của cơ quan quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên trở lên là cơ sở pháp lý quan trọng trong phân bổ và kiểm soát quyền lực. Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã xây dựng cấu trúc tổ chức quản trị nội bộ tương đối cụ thể, rõ ràng, tuy nhiên, cơ chế ràng buộc nghĩa vụ ủy thác và thực thi trách nhiệm người quản lý chưa tương xứng với phạm vi thẩm quyền được trao. Trong khi kinh nghiệm của Hoa Kỳ cho thấy, mô hình kiểm soát quyền lực dựa trên trách nhiệm ủy thác, hợp đồng hóa quản trị nội bộ thông qua điều lệ, xác định chuẩn mực hành vi, tăng cường vai trò của án lệ và Tòa án là những gợi mở mà Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong quá trình hoàn thiện pháp luật công ty TNHH hai thành viên trở lên theo hướng tăng cường tính tương thích giữa thẩm quyền, nghĩa vụ ủy thác và cơ chế thực thi, chuẩn hóa nội hàm nghĩa vụ ủy thác, cá thể hóa trách nhiệm của chủ thể quản lý và củng cố cơ chế giải trình. Khi quyền lực quản trị nội bộ được đặt trong khuôn khổ trách nhiệm thực chất, công ty TNHH hai thành viên trở lên sẽ vận hành hiệu quả cao và bền vững hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình đổi mới và hội nhập trong giai đoạn hiện nay.
Nguyễn Hoài Thu
Học viện Chính trị khu vực I
[1]. Jack P.Friedman (2000), Dictionary of Business Terms, Barron’s Educational Series Inc., 3th Edition, p.43.
[2]. Bob Tricker (2015), Corporate Governance: Principles, Policies and Practices, Oxford University Press, 3th Edition, pp.30-55.
[3]. Khoản 1 Điều 54 và khoản 1 Điều 56 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
[4]. Eugene F. Fama & Michael C. Jensen (1983), Separation of Ownership and Control, Journal of Law and Economics, Vol. 26, No. 2, pp.8-9.
[5]. Khoản 2 Điều 56 và Khoản 2 Điều 59 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
[6]. La Porta, R., Lopez-de-Silanes, F., & Shleifer, A (1999), Corporate ownership around the world, Journal of Finance, 54(2), pp.471-517.
[7]. Hansmann, H., & Kraakman, R (2000), The end of history for corporate law, Georgetown Law Journal, 89(2), pp.7-11.
[8]. Michael Jensen & William Meckling (1976), Theory of The Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure, Journal of Financial Economics, 10/1976, Volumn 3, No.4, pp.5-9.
[9]. Khoản 2 Điều 49 và khoản 1 Điều 72 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
[10]. Tạ Kiến Tường (2024), Trách nhiệm của người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 339 (4/2024), tr.5-7; Võ Trung Hậu & Lê Thị Minh (2023), Vietnam’s Legal Policy on Obligations of Company Managers, International Journal of Law and Society, No. 6(1), pp.97-101.
[11]. Điều 6 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025.
[12]. Văn phòng in ấn Chính phủ Hoa Kỳ - GPO (1992), 10th Amendment US Constitution-Reserved Powers, https://www.govinfo.gov/content/pkg/GPO-CONAN-1992/pdf/GPO-CONAN-1992-10-11.pdf, truy cập ngày 16/3/2026.
[13]. Uniform Law Commission (2013), Revised Uniform Limited Liability Company Act, RULLCA 2006, Last Amended 2013, https://www.uniformlaws.org/viewdocument/final-act-83?CommunityKey=bbea059c-6853-4f45-b69b-7ca2e49cf740, truy cập ngày 16/3/2026.
[14]. Điều 409 Luật mẫu RULLCA.
[15]. Điều 407(b) và Điều 409(b)(c)(d) Luật mẫu RULLCA.
[16]. Tòa phúc thẩm bang New York (1928), Án lệ Meinhard v. Salmon, 249 N.Y. 458 (1928), https://www.nycourts.gov/reporter/archives/meinhard_salmon.htm, truy cập ngày 16/3/2026.
[17]. William A. Klein (2017), Business Organization and Finance, Nxb. Thomson Reuters/Foundation Press, 12thed., pp.110-115.
[18]. Từ Điều 901 đến Điều 905 Luật mẫu RULLCA.
[19]. Reinier R. Kraakman (2004), The Anatomy of Corporate Law: A Comparative and Functional Approach, Nxb. Oxford University Press, pp.23-27.
[20]. Cục Quản lý doanh nghiệp Hoa Kỳ - SBA (2025), 2025 Small Business Profiles for the States, Territories, and Nation, https://advocacy.sba.gov/2025/06/30/2025-small-business-profiles-for-the-states-territories-and-nation/, truy cập ngày 16/3/2026.
[21]. Điều 17704.09 Luật Công ty TNHH thống nhất sửa đổi bang California và Điều 409 Luật Công ty TNHH bang New York.
[22]. Điều 101.401 Bộ luật Tổ chức kinh doanh Texas và Điều 18-1101(c) Bộ luật bang Delaware năm 2025.
[23]. Tòa án Tối cao bang Delaware (1939), Án lệ Guth v. Loft, Inc., 5 A.2d 503 (Del. 1939), https://case-law.vlex.com/vid/guth-v-loft-inc-897317292, truy cập ngày 16/3/2026.
[24]. Tòa án Tối cao bang Delaware (1983), Án lệ Aronson v. Lewis, 473 A.2d 805 (Del. 1984), https://law.justia.com/cases/delaware/supreme-court/1984/473-a-2d-805-4.html, truy cập ngày 16/3/2026.
[25]. Tòa án Tối cao bang Delaware (2012), Án lệ Auriga Capital Corp. v. Gatz Properties, 40 A.3d 839 (Del. Ch.2012), https://law.justia.com/cases/delaware/supreme-court/2012/148-2012.html, truy cập ngày 16/3/2026.
[26]. Điều 301.003 Bộ luật Tổ chức kinh doanh Texas; Điều 1203 Luật Công ty TNHH bang New York.
[27]. Frank H. Easterbrook & Daniel R. Fischel (1996), The Economic Structure of Corporate Law, Harvard University Press, pp.90-94.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bob Tricker (2015), Corporate Governance: Principles, Policies and Practices, Oxford University Press, 3th Edition.
2. Cục Quản lý doanh nghiệp Hoa Kỳ - SBA (2025), 2025 Small Business Profiles for the States, Territories, and Nation, https://advocacy.sba.gov/2025/06/30/2025-small-business-profiles-for-the-states-territories-and-nation/, truy cập ngày 16/3/2026.
3. Eugene F. Fama & Michael C. Jensen (1983), Separation of Ownership and Control, Journal of Law and Economics, Vol. 26, No. 2.
4. Frank H. Easterbrook & Daniel R. Fischel (1996), The Economic Structure of Corporate Law, Harvard University Press.
5. Hansmann, H., & Kraakman, R (2000), The end of history for corporate law, Georgetown Law Journal, 89(2).
6. Hội đồng lập pháp bang Delaware (2025), Delaware Limited Liability Company Law, https://delcode.delaware.gov/title6/Title6.pdf, truy cập ngày 16/3/2026.
7. Jack P.Friedman (2000), Dictionary of Business Terms, Barron’s Educational Series Inc., 3th Edition.
8. Justia U.S.Law (2024), California Revised Uniform Limited Liability Company Act, https://law.justia.com/codes/california/code-corp/title-2-6/, truy cập ngày 16/3/2026.
9. La Porta, R., Lopez-de-Silanes, F., & Shleifer, A (1999), Corporate ownership around the world, Journal of Finance, 54(2).
10. Michael Jensen & William Meckling (1976), Theory of The Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure, Journal of Financial Economics, 10/1976, Volumn 3, No.4.
11. NewYork.Public.Law (2014), New York Limited Liability Company Law, https://newyork.public.law/laws/n.y.limitedliabilitycompanylaw, truy cập ngày 16/3/2026.
12. Reinier R. Kraakman (2004), The Anatomy of Corporate Law: A Comparative and Functional Approach, Oxford University Press.
13. Tạ Kiến Tường (2024), Trách nhiệm của người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 339 (4/2024).
14. Texas.Public.Law (2006), Texas Business Organizations Code, https://texas.public.law/statutes/tex.bus.orgs.codetitle3chapter101, truy cập ngày 16/3/2026.
15. Tòa án Tối cao bang Delaware (1939), Án lệ Guth v. Loft, Inc., 5 A.2d 503 (Del. 1939), https://case-law.vlex.com/vid/guth-v-loft-inc-897317292, truy cập ngày 16/3/2026.
16. Tòa án Tối cao bang Delaware (1983), Án lệ Aronson v. Lewis, 473 A.2d 805 (Del. 1984), https://law.justia.com/cases/delaware/supreme-court/1984/473-a-2d-805-4.html, truy cập ngày 16/3/2026.
17. Tòa án Tối cao bang Delaware (2012), Án lệ Auriga Capital Corp. v. Gatz Properties, 40 A.3d 839 (Del. Ch. 2012), https://law.justia.com/cases/delaware/supreme-court/2012/148-2012. html, truy cập ngày 16/3/2026.
18. Tòa phúc thẩm bang New York (1928), Án lệ Meinhard v. Salmon, 249 N.Y. 458 (1928), https://www.nycourts.gov/reporter/archives/meinhardsalmon.htm, truy cập ngày 16/3/2026.
19. Uniform Law Commission (2013), Revised Uniform Limited Liability Company Act, RULLCA 2006, Last Amended 2013, https://www.uniformlaws.org/viewdocument/final-act-83?CommunityKey=bbea059c-6853-4f45-b69b-7ca2e49cf740, truy cập ngày 16/3/2026.
20. Văn phòng in ấn Chính phủ Hoa Kỳ - GPO (1992), 10th Amendment US Constitution- Reserved Powers, https://www.govinfo.gov/content/pkg/GPO-CONAN-1992/pdf/GPO- CONAN-1992-10-11.pdf, truy cập ngày 16/3/2026.
21. Võ Trung Hậu & Lê Thị Minh (2023), Vietnam’s Legal Policy on Obligations of Company Managers, International Journal of Law and Society, No. 6(1).
22. William A. Klein (2017), Business Organization and Finance, Thomson Reuters/ Foundation Press, 12th ed.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (452) tháng 5/2026)