Thứ ba 06/10/2026 07:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là hoạt động quan trọng, góp phần hoàn thiện về nội dung và hình thức dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Hội đồng nhân dân thông qua. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định, dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân. Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, cơ quan trình dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra để thẩm tra. Tuy nhiên, trên thực tiễn, việc thực hiện quy định này còn nhiều bất cập. Qua bài viết này, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Mai đề cập tới thực trạng hoạt động thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hiện nay, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện.


1. Thực trạng hoạt động thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1.1. Hồ sơ dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi thẩm tra

Hồ sơ gửi thẩm tra bao gồm những tài liệu như tờ trình, dự thảo nghị quyết, bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý... nhưng nếu dự thảo do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân (HĐND) thì cần có thêm trong hồ sơ báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định; còn nếu là dự thảo nghị quyết do Ban của HĐND hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình thì không có báo cáo thẩm định nhưng lại có thêm tài liệu là ý kiến của UBND và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của UBND đối với dự thảo. Tuy nhiên, quy trình xây dựng và trình dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành nên quy định về hồ sơ gửi thẩm tra dự thảo nghị quyết cũng không giống nhau. Vì vậy, việc quy định chung trong một điều luật (Điều 124 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015) gây khó khăn cho các chủ thể khi tiến hành thẩm tra.

Đánh giá về công tác chuẩn bị hồ sơ dự thảo nghị quyết để các Ban của HĐND thẩm tra trong thời gian qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẳng định: Việc gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết để các Ban của HĐND thẩm tra còn chậm, hoặc chưa đầy đủ các tài liệu yêu cầu, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo nghị quyết chưa đảm bảo theo quy định, do đó ảnh hưởng đến chất lượng thẩm tra và chất lượng nghị quyết được ban hành[1].

1.2. Nội dung thẩm tra và báo cáo thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Khi tiến hành thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, có ba yếu tố được cơ quan thẩm tra quan tâm nhất là: (i) Sự phù hợp của nội dung dự thảo với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; (ii) Tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật; (iii) Sự phù hợp của nội dung dự thảo với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương... Nội dung cần thẩm tra thì nhiều nhưng trên thực tế, cán bộ thẩm tra thường chú ý đến nội dung về “tính khả thi”, “sự phù hợp” của dự thảo, còn những nội dung khác lại chưa thực sự được chú trọng và ít được đề cập trong báo cáo. Mặc dù trong hồ sơ thẩm tra có tờ trình dự thảo nghị quyết nhưng trong những nội dung cần thẩm tra không có nội dung về sự cần thiết ban hành nghị quyết. Đối với dự thảo nghị quyết do UBND tỉnh trình HĐND thì nội dung này đã được thẩm định ở giai đoạn lập đề nghị xây dựng nghị quyết nhưng đối với dự thảo nghị quyết do Ban của HĐND hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình thì do không được thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết và dự thảo nghị quyết nên nội dung này chưa được xem xét, tiếp tục đến bước thẩm tra lại bị “bỏ qua” trong khi đây là một trong những nội dung rất quan trọng cần phải xem xét trước khi ban hành nghị quyết.

Ở TP. Hồ Chí Minh vào năm 2012, khi tiến hành thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND TP. Hồ Chí Minh về thu và sử dụng phí bảo trì đường bộ, Ban Kinh tế - Ngân sách đã phân tích, chỉ rõ sự không cần thiết và sự chưa phù hợp của dự thảo (về việc sẽ làm tăng chi phí cho người dân), nhờ đó, HĐND đã hoãn không thông qua dự thảo này. Tương tự, khi đơn vị dự án BOT trình HĐND phương án mức thu phí đường ở mức tối đa theo khung của Bộ Tài chính quy định nhưng Ban Kinh tế - Ngân sách với sự hỗ trợ của Hiệp hội vận tải thành phố đã tiến hành khảo sát, đánh giá về tính hợp lý của phương án này và xác định rằng mức thu phí là quá cao (03 cửa thu phí trên khoảng gần 70 km đường bộ) do đó nội dung này đã được thay đổi[2].

Hiện nay, có ý kiến cho rằng, những vấn đề về “tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất” của dự thảo nghị quyết không cần thẩm tra nữa vì đã được kiểm soát ở khâu thẩm định rồi, nên khâu thẩm tra xem xét lại là không cần thiết, thậm chí kéo dài thời gian ban hành văn bản mà nên dành thời gian xem xét, đánh giá tính cần thiết, khả thi của văn bản[3]. Sự trùng lặp này vô hình trung đã làm giảm giá trị của cả hai hoạt động này và ảnh hưởng tới chất lượng của báo cáo thẩm tra. Nhưng bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng, thẩm tra về “tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất” của dự thảo văn bản là hoạt động cần thiết, trong nhiều trường hợp, việc thẩm tra của các Ban của HĐND đã “chặn” lại việc ban hành các nghị quyết không hợp pháp.

Tác giả cho rằng, để ràng buộc trách nhiệm của từng chủ thể tham gia vào quy trình xây dựng nghị quyết của HĐND thì những vấn đề, nội dung đã được xem xét, kiểm tra ở khâu trước đó không cần thiết phải xem xét ở khâu tiếp theo mà chủ thể trước đó (cơ quan thẩm định) phải chịu trách nhiệm về vấn đề mà mình đã kiểm tra. Khi thẩm tra, cơ quan thẩm tra chủ động xem xét kỹ những nội dung mà cơ quan thẩm định chưa có điều kiện nghiên cứu sâu như tập trung vào tính khả thi của văn bản do có lợi thế tốt hơn so với cán bộ thẩm định về kiến thức chuyên môn, nguồn thông tin và có điều kiện khảo sát.

Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phương án xử lý của cơ quan thẩm tra đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Báo cáo thẩm tra phải được gửi đến thường trực HĐND để chuyển đến các đại biểu HĐND chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND cấp tỉnh. Tổng kết công tác thẩm tra ở một số địa phương trong thời gian qua cho thấy, báo cáo thẩm tra của các Ban của HĐND đã cung cấp một cách tương đối có hệ thống thông tin về những vấn đề cơ bản như: Yêu cầu, căn cứ ban hành nghị quyết, sự phù hợp của nghị quyết với các văn bản pháp luật của Nhà nước và tình hình thực tế của địa phương, những ý kiến còn khác nhau… tạo cơ sở cho đại biểu xem xét, đánh giá toàn diện về dự thảo nghị quyết. Việc thẩm tra các nghị quyết bảo đảm tính khách quan, tuân thủ trình tự, thủ tục quy định.

Hoạt động thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND thực sự cần thiết nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn có sự hạn chế cả về nội dung và hình thức. Thực tiễn cho thấy, nhiều báo cáo thẩm tra của Ban của HĐND chưa mang tính phản biện cao, chưa phân tích sâu đến các vấn đề trọng tâm, chưa xác định được vấn đề là đối với dự thảo nghị quyết này có cần phải ban hành hay không? Nhiều báo cáo thẩm tra chỉ đánh giá khái quát, không làm sâu, sáng tỏ được vấn đề cần thẩm tra.

Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng của các báo cáo thẩm tra (cũng như báo cáo thẩm định) dự thảo nghị quyết của HĐND chính là ở chỗ, hiện nay, chưa có văn bản pháp luật của Nhà nước hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí để đánh giá như thế nào là đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý, tính hợp hiến, tính thống nhất... Hoặc khi thẩm tra nội dung về “sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương” thì dựa vào tiêu chí nào? Đây cũng là một trong những khó khăn đối với cán bộ trực tiếp làm công tác thẩm tra. Trên thực tế, báo cáo thẩm tra thường chỉ đánh giá chung chung, khái quát là “phù hợp”, vì vậy, mặc dù đã được thẩm tra nhưng vẫn có văn bản sai sót khi được ban hành.

1.3. Thời hạn thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND hiện nay liên quan đến thời hạn thẩm tra dự thảo. Việc gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết để thẩm tra thì hầu như cơ quan trình dự thảo không tuân thủ đúng thời gian dẫn đến cơ quan thẩm tra bị động, thiếu thời gian cần thiết để tiến hành thẩm tra. Điều 124 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định cơ quan trình dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của HĐND được phân công thẩm tra chậm nhất là 15 ngày trước khi khai mạc kỳ họp HĐND để thẩm tra. Việc quy định thời hạn thẩm tra là cần thiết vì nó nâng cao được trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hoạt động này, qua đó nâng cao được hiệu quả công việc. Tuy nhiên, khi áp dụng những quy định này vào thực tế thì lại bộc lộ nhiều hạn chế. Pháp luật quy định thời gian xây dựng dự thảo nghị quyết rất dài nhưng thời gian thẩm tra dự thảo lại rất ngắn. Thực tế, Ban của HĐND được phân công thẩm tra chỉ có 05 ngày để tiến hành thẩm tra bởi vì Ban phải chuyển Báo cáo thẩm tra đến Thường trực HĐND chậm nhất là 10 ngày trước ngày HĐND khai mạc kỳ họp. Với khoảng thời gian hạn hẹp như vậy, không thể có đủ thời gian để cơ quan thẩm tra phân tích, kiểm tra từng vấn đề một cách kỹ lưỡng hoặc có thể tiến hành khảo sát thực tế (nếu cần), từ đó có thể dẫn đến tình trạng “làm cho kịp”, “làm bừa”, “làm ẩu” ảnh hưởng đến chất lượng của báo cáo thẩm tra.

1.4. Công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong hoạt động thẩm tra

Trong cơ cấu Ban của HĐND cấp tỉnh chỉ có trưởng ban, phó trưởng ban hoạt động chuyên trách còn các thành viên khác là kiêm nhiệm nên thực tế họ cũng dành ít thời gian để nghiên cứu tài liệu, tham gia hoạt động thẩm tra. Vì vậy, có trường hợp báo cáo thẩm tra đã được các thành viên biểu quyết tán thành nhưng khi thảo luận lại có ý kiến trái chiều đưa ra vì lý do thành viên đó vắng mặt các buổi họp thẩm tra. Đối với những nghị quyết liên quan đến nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có sự phối hợp, trao đổi, hỗ trợ giữa các Ban nhưng công việc này hiện nay thực hiện chưa tốt. Ở địa phương, nếu như cơ quan tư pháp giữ vai trò “người gác cổng” để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của các nghị quyết của HĐND thì Ban của HĐND giữ vai trò đảm bảo tính thống nhất về chính sách pháp luật thông qua hoạt động thẩm tra. Tuy nhiên, nếu giao trách nhiệm cho Ban của HĐND thì cũng đồng thời phải giao thẩm quyền cụ thể. Chẳng hạn, nếu qua hoạt động thẩm tra mà 2/3 thành viên của Ban không tán thành dự thảo nghị quyết vì cho rằng có quy định không phù hợp với pháp luật thì đương nhiên dự thảo nghị quyết đó không được trình ra HĐND.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện hoạt động thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Thứ nhất, về hồ sơ gửi thẩm tra

Cần tách khoản 2 Điều 124 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thành hai nội dung để quy định về thành phần hồ sơ gửi thẩm tra vì dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do nhiều chủ thể khác nhau trình HĐND nên thành phần hồ sơ gửi thẩm định không giống nhau. Cụ thể:

(i) Hồ sơ gửi thẩm tra dự thảo nghị quyết do UBND tỉnh trình HĐND gồm: Tờ trình; dự thảo nghị quyết; báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định đối với dự thảo nghị quyết; bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bản chụp ý kiến góp ý; tài liệu khác (nếu có).

(ii) Hồ sơ gửi thẩm tra dự thảo nghị quyết do Ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình HĐND gồm: Tờ trình; dự thảo nghị quyết; ý kiến của UBND và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của UBND đối với dự thảo nghị quyết; bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bản chụp ý kiến góp ý; tài liệu khác (nếu có).

Thứ hai, về nội dung thẩm tra

- Cần bổ sung nội dung thẩm tra về sự cần thiết ban hành nghị quyết đối với dự thảo nghị quyết do các Ban của HĐND hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình bởi lẽ vấn đề này chưa được kiểm tra, kiểm soát ở các giai đoạn trước đó (giai đoạn đề nghị xây dựng nghị quyết và dự thảo nghị quyết) trong quy trình xây dựng nghị quyết của HĐND.

- Cần có hướng dẫn về các tiêu chí cụ thể khi thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nói chung và dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh nói riêng. Đây chính là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét, đánh giá về dự thảo nghị quyết được thẩm tra và cơ quan có thẩm quyền đánh giá về kết quả làm việc của bộ phận chịu trách nhiệm thẩm tra. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng của báo cáo thẩm tra. Chẳng hạn, khi thẩm tra về tính hợp hiến của dự thảo cần xác định hai vấn đề cơ bản sau: (i) Nội dung dự thảo không được trái với các quy định cụ thể của Hiến pháp liên quan tới lĩnh vực điều chỉnh của dự thảo; (ii) Nội dung của dự thảo phải phù hợp với “tinh thần” của Hiến pháp được thể hiện trong các quy phạm của Hiến pháp.

Khi thẩm tra về tính hợp pháp, cơ quan thẩm tra phải xác định được một số vấn đề như: (i) Dự thảo văn bản được ban hành đúng thẩm quyền (gồm có thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung); (ii) Dự thảo phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thủ tục xây dựng, ban hành. Tính thống nhất của dự thảo được xác định dựa trên một số tiêu chí như: Dự thảo văn bản không mâu thuẫn, trùng lặp với các văn bản khác do chính HĐND đã ban hành; dự thảo văn bản không được mâu thuẫn với văn bản do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành...

Thứ ba, về thời hạn thẩm tra

Việc quy định thời gian thẩm tra hợp lý cũng là một trong những yếu tố giúp cho Ban của HĐND được phân công thẩm tra có thể xem xét kỹ lưỡng, đưa ra những ý kiến đánh giá cụ thể, chính xác trong báo cáo thẩm tra. Vì vậy, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới cần sửa đổi theo hướng tăng thời gian thẩm tra đối với dự thảo nghị quyết lên 20 ngày để đảm bảo cơ quan thẩm tra có đủ thời gian cần thiết để tiến hành công tác thẩm tra đảm bảo chất lượng.

Đồng thời, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần quy định thống nhất cách tính thời hạn là theo ngày làm việc hay theo ngày lịch thông thường. Bởi lẽ nếu tính theo ngày lịch thông thường có thể dẫn tới thời gian thẩm tra còn rút ngắn hơn. Tác giả kiến nghị thời hạn trong luật sẽ được tính thống nhất theo ngày làm việc, không tính ngày nghỉ, ngày lễ. Để công tác này đạt hiệu quả cao hơn thì cần phải quy định rõ: (i) Thời gian gửi dự thảo nghị quyết trình tại kỳ họp giữa năm của HĐND cho cơ quan thẩm tra phải trước ngày 30/5 hàng năm; kỳ họp cuối năm trước ngày 30/10 hàng năm để tạo sự chủ động cho hoạt động thẩm tra của các Ban; (ii) Trường hợp cơ quan xây dựng dự thảo gửi hoặc trình nghị quyết chậm hơn thời hạn quy định đề nghị không xem xét văn bản đó ở kỳ họp trên và chuyển nội dung đó sang kỳ họp gần nhất.

Thứ tư, tăng cường phối hợp trong hoạt động thẩm tra dự thảo nghị quyết

Cùng với việc tạo cơ chế phát huy trách nhiệm chủ động của cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan trình dự thảo, các Ban của HĐND được phân công thẩm tra dự thảo nghị quyết cũng cần có những biện pháp phù hợp nhằm tăng cường sự phối hợp trong việc thực hiện công tác thẩm tra. Có thể nêu ra một số biện pháp sau:

(i) HĐND và Thường trực HĐND cần xác định hoạt động thẩm tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của địa phương và là cơ chế kiểm soát hiệu quả nếu được quan tâm đúng mức. Do đó, cần phân công Ban của HĐND thẩm tra dự thảo nghị quyết liên quan đến lĩnh vực phụ trách một cách hợp lý, phù hợp tương đối với chuyên môn và khả năng của cơ quan thẩm tra;

(ii) Cần tổ chức tốt công tác cung cấp tài liệu, thông tin cho các thành viên trong Ban của HĐND được phân công thẩm tra nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu cho việc nghiên cứu, thẩm tra;

(iii) Bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số trong hoạt động thẩm tra, phát huy cao nhất trí tuệ tập thể của các thành viên trong Ban của HĐND được phân công thẩm tra dự thảo nghị quyết. Kiên quyết thể hiện quan điểm đối với những dự thảo nghị quyết không đủ điều kiện trình theo quy định định của luật. Nếu có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số thành viên của Ban không tán thành dự thảo nghị quyết thì dự thảo đó sẽ không được trình HĐND xem xét, thông qua;

(iv) Cần xác định trách nhiệm bắt buộc của Ban Pháp chế của HĐND trong việc phối hợp tham gia thẩm tra về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất… của dự thảo nghị quyết. Để đảm bảo chất lượng của hoạt động thẩm tra nghị quyết của HĐND thì lý tưởng nhất là ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự thảo nên quy định phải có đại diện của Ban của HĐND có liên quan tham gia trong thành phần soạn thảo.

Nguyễn Thị Ngọc Mai

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh





[1]. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Đoàn giám sát, 2017), Báo cáo số 237/BC-ĐGS về kết quả giám sát việc ban hành nghị quyết và hoạt động của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ đầu nhiệm kỳ 2016 - 2021 đến hết tháng 6/2017, ngày 05/12/2017, tr. 4.

[2]. Bộ Tư pháp và Dự án phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam (NLD), “Báo cáo khảo sát đánh giá thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008”, tr. 71.

[3]. Bộ Tư pháp và Dự án phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam (NLD), “Báo cáo khảo sát đánh giá thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008”, tr. 71.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: