Thứ bảy 02/05/2026 05:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là hoạt động quan trọng, góp phần hoàn thiện về nội dung và hình thức dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Hội đồng nhân dân thông qua. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định, dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân. Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, cơ quan trình dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra để thẩm tra. Tuy nhiên, trên thực tiễn, việc thực hiện quy định này còn nhiều bất cập. Qua bài viết này, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Mai đề cập tới thực trạng hoạt động thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hiện nay, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện.


1. Thực trạng hoạt động thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1.1. Hồ sơ dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi thẩm tra

Hồ sơ gửi thẩm tra bao gồm những tài liệu như tờ trình, dự thảo nghị quyết, bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý... nhưng nếu dự thảo do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân (HĐND) thì cần có thêm trong hồ sơ báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định; còn nếu là dự thảo nghị quyết do Ban của HĐND hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình thì không có báo cáo thẩm định nhưng lại có thêm tài liệu là ý kiến của UBND và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của UBND đối với dự thảo. Tuy nhiên, quy trình xây dựng và trình dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành nên quy định về hồ sơ gửi thẩm tra dự thảo nghị quyết cũng không giống nhau. Vì vậy, việc quy định chung trong một điều luật (Điều 124 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015) gây khó khăn cho các chủ thể khi tiến hành thẩm tra.

Đánh giá về công tác chuẩn bị hồ sơ dự thảo nghị quyết để các Ban của HĐND thẩm tra trong thời gian qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẳng định: Việc gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết để các Ban của HĐND thẩm tra còn chậm, hoặc chưa đầy đủ các tài liệu yêu cầu, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo nghị quyết chưa đảm bảo theo quy định, do đó ảnh hưởng đến chất lượng thẩm tra và chất lượng nghị quyết được ban hành[1].

1.2. Nội dung thẩm tra và báo cáo thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Khi tiến hành thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, có ba yếu tố được cơ quan thẩm tra quan tâm nhất là: (i) Sự phù hợp của nội dung dự thảo với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; (ii) Tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật; (iii) Sự phù hợp của nội dung dự thảo với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương... Nội dung cần thẩm tra thì nhiều nhưng trên thực tế, cán bộ thẩm tra thường chú ý đến nội dung về “tính khả thi”, “sự phù hợp” của dự thảo, còn những nội dung khác lại chưa thực sự được chú trọng và ít được đề cập trong báo cáo. Mặc dù trong hồ sơ thẩm tra có tờ trình dự thảo nghị quyết nhưng trong những nội dung cần thẩm tra không có nội dung về sự cần thiết ban hành nghị quyết. Đối với dự thảo nghị quyết do UBND tỉnh trình HĐND thì nội dung này đã được thẩm định ở giai đoạn lập đề nghị xây dựng nghị quyết nhưng đối với dự thảo nghị quyết do Ban của HĐND hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình thì do không được thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết và dự thảo nghị quyết nên nội dung này chưa được xem xét, tiếp tục đến bước thẩm tra lại bị “bỏ qua” trong khi đây là một trong những nội dung rất quan trọng cần phải xem xét trước khi ban hành nghị quyết.

Ở TP. Hồ Chí Minh vào năm 2012, khi tiến hành thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND TP. Hồ Chí Minh về thu và sử dụng phí bảo trì đường bộ, Ban Kinh tế - Ngân sách đã phân tích, chỉ rõ sự không cần thiết và sự chưa phù hợp của dự thảo (về việc sẽ làm tăng chi phí cho người dân), nhờ đó, HĐND đã hoãn không thông qua dự thảo này. Tương tự, khi đơn vị dự án BOT trình HĐND phương án mức thu phí đường ở mức tối đa theo khung của Bộ Tài chính quy định nhưng Ban Kinh tế - Ngân sách với sự hỗ trợ của Hiệp hội vận tải thành phố đã tiến hành khảo sát, đánh giá về tính hợp lý của phương án này và xác định rằng mức thu phí là quá cao (03 cửa thu phí trên khoảng gần 70 km đường bộ) do đó nội dung này đã được thay đổi[2].

Hiện nay, có ý kiến cho rằng, những vấn đề về “tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất” của dự thảo nghị quyết không cần thẩm tra nữa vì đã được kiểm soát ở khâu thẩm định rồi, nên khâu thẩm tra xem xét lại là không cần thiết, thậm chí kéo dài thời gian ban hành văn bản mà nên dành thời gian xem xét, đánh giá tính cần thiết, khả thi của văn bản[3]. Sự trùng lặp này vô hình trung đã làm giảm giá trị của cả hai hoạt động này và ảnh hưởng tới chất lượng của báo cáo thẩm tra. Nhưng bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng, thẩm tra về “tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất” của dự thảo văn bản là hoạt động cần thiết, trong nhiều trường hợp, việc thẩm tra của các Ban của HĐND đã “chặn” lại việc ban hành các nghị quyết không hợp pháp.

Tác giả cho rằng, để ràng buộc trách nhiệm của từng chủ thể tham gia vào quy trình xây dựng nghị quyết của HĐND thì những vấn đề, nội dung đã được xem xét, kiểm tra ở khâu trước đó không cần thiết phải xem xét ở khâu tiếp theo mà chủ thể trước đó (cơ quan thẩm định) phải chịu trách nhiệm về vấn đề mà mình đã kiểm tra. Khi thẩm tra, cơ quan thẩm tra chủ động xem xét kỹ những nội dung mà cơ quan thẩm định chưa có điều kiện nghiên cứu sâu như tập trung vào tính khả thi của văn bản do có lợi thế tốt hơn so với cán bộ thẩm định về kiến thức chuyên môn, nguồn thông tin và có điều kiện khảo sát.

Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phương án xử lý của cơ quan thẩm tra đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Báo cáo thẩm tra phải được gửi đến thường trực HĐND để chuyển đến các đại biểu HĐND chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND cấp tỉnh. Tổng kết công tác thẩm tra ở một số địa phương trong thời gian qua cho thấy, báo cáo thẩm tra của các Ban của HĐND đã cung cấp một cách tương đối có hệ thống thông tin về những vấn đề cơ bản như: Yêu cầu, căn cứ ban hành nghị quyết, sự phù hợp của nghị quyết với các văn bản pháp luật của Nhà nước và tình hình thực tế của địa phương, những ý kiến còn khác nhau… tạo cơ sở cho đại biểu xem xét, đánh giá toàn diện về dự thảo nghị quyết. Việc thẩm tra các nghị quyết bảo đảm tính khách quan, tuân thủ trình tự, thủ tục quy định.

Hoạt động thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND thực sự cần thiết nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn có sự hạn chế cả về nội dung và hình thức. Thực tiễn cho thấy, nhiều báo cáo thẩm tra của Ban của HĐND chưa mang tính phản biện cao, chưa phân tích sâu đến các vấn đề trọng tâm, chưa xác định được vấn đề là đối với dự thảo nghị quyết này có cần phải ban hành hay không? Nhiều báo cáo thẩm tra chỉ đánh giá khái quát, không làm sâu, sáng tỏ được vấn đề cần thẩm tra.

Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng của các báo cáo thẩm tra (cũng như báo cáo thẩm định) dự thảo nghị quyết của HĐND chính là ở chỗ, hiện nay, chưa có văn bản pháp luật của Nhà nước hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí để đánh giá như thế nào là đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý, tính hợp hiến, tính thống nhất... Hoặc khi thẩm tra nội dung về “sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương” thì dựa vào tiêu chí nào? Đây cũng là một trong những khó khăn đối với cán bộ trực tiếp làm công tác thẩm tra. Trên thực tế, báo cáo thẩm tra thường chỉ đánh giá chung chung, khái quát là “phù hợp”, vì vậy, mặc dù đã được thẩm tra nhưng vẫn có văn bản sai sót khi được ban hành.

1.3. Thời hạn thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND hiện nay liên quan đến thời hạn thẩm tra dự thảo. Việc gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết để thẩm tra thì hầu như cơ quan trình dự thảo không tuân thủ đúng thời gian dẫn đến cơ quan thẩm tra bị động, thiếu thời gian cần thiết để tiến hành thẩm tra. Điều 124 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định cơ quan trình dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của HĐND được phân công thẩm tra chậm nhất là 15 ngày trước khi khai mạc kỳ họp HĐND để thẩm tra. Việc quy định thời hạn thẩm tra là cần thiết vì nó nâng cao được trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hoạt động này, qua đó nâng cao được hiệu quả công việc. Tuy nhiên, khi áp dụng những quy định này vào thực tế thì lại bộc lộ nhiều hạn chế. Pháp luật quy định thời gian xây dựng dự thảo nghị quyết rất dài nhưng thời gian thẩm tra dự thảo lại rất ngắn. Thực tế, Ban của HĐND được phân công thẩm tra chỉ có 05 ngày để tiến hành thẩm tra bởi vì Ban phải chuyển Báo cáo thẩm tra đến Thường trực HĐND chậm nhất là 10 ngày trước ngày HĐND khai mạc kỳ họp. Với khoảng thời gian hạn hẹp như vậy, không thể có đủ thời gian để cơ quan thẩm tra phân tích, kiểm tra từng vấn đề một cách kỹ lưỡng hoặc có thể tiến hành khảo sát thực tế (nếu cần), từ đó có thể dẫn đến tình trạng “làm cho kịp”, “làm bừa”, “làm ẩu” ảnh hưởng đến chất lượng của báo cáo thẩm tra.

1.4. Công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong hoạt động thẩm tra

Trong cơ cấu Ban của HĐND cấp tỉnh chỉ có trưởng ban, phó trưởng ban hoạt động chuyên trách còn các thành viên khác là kiêm nhiệm nên thực tế họ cũng dành ít thời gian để nghiên cứu tài liệu, tham gia hoạt động thẩm tra. Vì vậy, có trường hợp báo cáo thẩm tra đã được các thành viên biểu quyết tán thành nhưng khi thảo luận lại có ý kiến trái chiều đưa ra vì lý do thành viên đó vắng mặt các buổi họp thẩm tra. Đối với những nghị quyết liên quan đến nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có sự phối hợp, trao đổi, hỗ trợ giữa các Ban nhưng công việc này hiện nay thực hiện chưa tốt. Ở địa phương, nếu như cơ quan tư pháp giữ vai trò “người gác cổng” để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của các nghị quyết của HĐND thì Ban của HĐND giữ vai trò đảm bảo tính thống nhất về chính sách pháp luật thông qua hoạt động thẩm tra. Tuy nhiên, nếu giao trách nhiệm cho Ban của HĐND thì cũng đồng thời phải giao thẩm quyền cụ thể. Chẳng hạn, nếu qua hoạt động thẩm tra mà 2/3 thành viên của Ban không tán thành dự thảo nghị quyết vì cho rằng có quy định không phù hợp với pháp luật thì đương nhiên dự thảo nghị quyết đó không được trình ra HĐND.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện hoạt động thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Thứ nhất, về hồ sơ gửi thẩm tra

Cần tách khoản 2 Điều 124 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thành hai nội dung để quy định về thành phần hồ sơ gửi thẩm tra vì dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do nhiều chủ thể khác nhau trình HĐND nên thành phần hồ sơ gửi thẩm định không giống nhau. Cụ thể:

(i) Hồ sơ gửi thẩm tra dự thảo nghị quyết do UBND tỉnh trình HĐND gồm: Tờ trình; dự thảo nghị quyết; báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định đối với dự thảo nghị quyết; bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bản chụp ý kiến góp ý; tài liệu khác (nếu có).

(ii) Hồ sơ gửi thẩm tra dự thảo nghị quyết do Ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình HĐND gồm: Tờ trình; dự thảo nghị quyết; ý kiến của UBND và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của UBND đối với dự thảo nghị quyết; bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bản chụp ý kiến góp ý; tài liệu khác (nếu có).

Thứ hai, về nội dung thẩm tra

- Cần bổ sung nội dung thẩm tra về sự cần thiết ban hành nghị quyết đối với dự thảo nghị quyết do các Ban của HĐND hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình bởi lẽ vấn đề này chưa được kiểm tra, kiểm soát ở các giai đoạn trước đó (giai đoạn đề nghị xây dựng nghị quyết và dự thảo nghị quyết) trong quy trình xây dựng nghị quyết của HĐND.

- Cần có hướng dẫn về các tiêu chí cụ thể khi thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nói chung và dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh nói riêng. Đây chính là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét, đánh giá về dự thảo nghị quyết được thẩm tra và cơ quan có thẩm quyền đánh giá về kết quả làm việc của bộ phận chịu trách nhiệm thẩm tra. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng của báo cáo thẩm tra. Chẳng hạn, khi thẩm tra về tính hợp hiến của dự thảo cần xác định hai vấn đề cơ bản sau: (i) Nội dung dự thảo không được trái với các quy định cụ thể của Hiến pháp liên quan tới lĩnh vực điều chỉnh của dự thảo; (ii) Nội dung của dự thảo phải phù hợp với “tinh thần” của Hiến pháp được thể hiện trong các quy phạm của Hiến pháp.

Khi thẩm tra về tính hợp pháp, cơ quan thẩm tra phải xác định được một số vấn đề như: (i) Dự thảo văn bản được ban hành đúng thẩm quyền (gồm có thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung); (ii) Dự thảo phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thủ tục xây dựng, ban hành. Tính thống nhất của dự thảo được xác định dựa trên một số tiêu chí như: Dự thảo văn bản không mâu thuẫn, trùng lặp với các văn bản khác do chính HĐND đã ban hành; dự thảo văn bản không được mâu thuẫn với văn bản do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành...

Thứ ba, về thời hạn thẩm tra

Việc quy định thời gian thẩm tra hợp lý cũng là một trong những yếu tố giúp cho Ban của HĐND được phân công thẩm tra có thể xem xét kỹ lưỡng, đưa ra những ý kiến đánh giá cụ thể, chính xác trong báo cáo thẩm tra. Vì vậy, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới cần sửa đổi theo hướng tăng thời gian thẩm tra đối với dự thảo nghị quyết lên 20 ngày để đảm bảo cơ quan thẩm tra có đủ thời gian cần thiết để tiến hành công tác thẩm tra đảm bảo chất lượng.

Đồng thời, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần quy định thống nhất cách tính thời hạn là theo ngày làm việc hay theo ngày lịch thông thường. Bởi lẽ nếu tính theo ngày lịch thông thường có thể dẫn tới thời gian thẩm tra còn rút ngắn hơn. Tác giả kiến nghị thời hạn trong luật sẽ được tính thống nhất theo ngày làm việc, không tính ngày nghỉ, ngày lễ. Để công tác này đạt hiệu quả cao hơn thì cần phải quy định rõ: (i) Thời gian gửi dự thảo nghị quyết trình tại kỳ họp giữa năm của HĐND cho cơ quan thẩm tra phải trước ngày 30/5 hàng năm; kỳ họp cuối năm trước ngày 30/10 hàng năm để tạo sự chủ động cho hoạt động thẩm tra của các Ban; (ii) Trường hợp cơ quan xây dựng dự thảo gửi hoặc trình nghị quyết chậm hơn thời hạn quy định đề nghị không xem xét văn bản đó ở kỳ họp trên và chuyển nội dung đó sang kỳ họp gần nhất.

Thứ tư, tăng cường phối hợp trong hoạt động thẩm tra dự thảo nghị quyết

Cùng với việc tạo cơ chế phát huy trách nhiệm chủ động của cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan trình dự thảo, các Ban của HĐND được phân công thẩm tra dự thảo nghị quyết cũng cần có những biện pháp phù hợp nhằm tăng cường sự phối hợp trong việc thực hiện công tác thẩm tra. Có thể nêu ra một số biện pháp sau:

(i) HĐND và Thường trực HĐND cần xác định hoạt động thẩm tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của địa phương và là cơ chế kiểm soát hiệu quả nếu được quan tâm đúng mức. Do đó, cần phân công Ban của HĐND thẩm tra dự thảo nghị quyết liên quan đến lĩnh vực phụ trách một cách hợp lý, phù hợp tương đối với chuyên môn và khả năng của cơ quan thẩm tra;

(ii) Cần tổ chức tốt công tác cung cấp tài liệu, thông tin cho các thành viên trong Ban của HĐND được phân công thẩm tra nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu cho việc nghiên cứu, thẩm tra;

(iii) Bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số trong hoạt động thẩm tra, phát huy cao nhất trí tuệ tập thể của các thành viên trong Ban của HĐND được phân công thẩm tra dự thảo nghị quyết. Kiên quyết thể hiện quan điểm đối với những dự thảo nghị quyết không đủ điều kiện trình theo quy định định của luật. Nếu có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số thành viên của Ban không tán thành dự thảo nghị quyết thì dự thảo đó sẽ không được trình HĐND xem xét, thông qua;

(iv) Cần xác định trách nhiệm bắt buộc của Ban Pháp chế của HĐND trong việc phối hợp tham gia thẩm tra về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất… của dự thảo nghị quyết. Để đảm bảo chất lượng của hoạt động thẩm tra nghị quyết của HĐND thì lý tưởng nhất là ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự thảo nên quy định phải có đại diện của Ban của HĐND có liên quan tham gia trong thành phần soạn thảo.

Nguyễn Thị Ngọc Mai

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh





[1]. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Đoàn giám sát, 2017), Báo cáo số 237/BC-ĐGS về kết quả giám sát việc ban hành nghị quyết và hoạt động của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ đầu nhiệm kỳ 2016 - 2021 đến hết tháng 6/2017, ngày 05/12/2017, tr. 4.

[2]. Bộ Tư pháp và Dự án phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam (NLD), “Báo cáo khảo sát đánh giá thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008”, tr. 71.

[3]. Bộ Tư pháp và Dự án phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam (NLD), “Báo cáo khảo sát đánh giá thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008”, tr. 71.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: