Thứ năm 30/04/2026 04:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở

Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp tổng quát và trong một số hợp đồng tặng cho bất động sản cụ thể như hợp đồng tặng cho quyền sử đụng đất và hợp đồng tặng cho nhà ở, từ đó, đưa ra quan điểm và cách lý giải của mình, đồng thời đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập, tạo sự thống nhất trong áp dụng các quy định pháp luật.

Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, hiện nay đang tồn tại một số văn bản pháp luật khác nhau quy định về vấn đề này. Đối với hợp đồng tặng cho nhà ở thì đáng chú ý là các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Nhà ở. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký là thời điểm đăng ký; còn theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng, chứng thực. Chính sự khác nhau của hai quy định này mà đã tồn tại các quan điểm và cách lý giải khác nhau về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở.

1. Quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức giao dịch dân sự, hợp đồng có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản và bằng hành vi cụ thể. Riêng đối với hình thức văn bản, nếu luật có yêu cầu thì văn bản phải được công chứng, chứng thực, đăng ký. Tùy theo hình thức của hợp đồng mà thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của mỗi hợp đồng sẽ khác nhau. Theo quy định tại Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng; thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản; trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm các bên đã thỏa thuận xong về nội dung của hợp đồng.

Theo khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng văn bản có công chứng là thời điểm hợp đồng được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Đối với hợp đồng bằng văn bản có chứng thực, trước đây, Điều 10 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực quy định thời điểm chứng thực hợp đồng là thời điểm người thực hiện chứng thực ký vào văn bản chứng thực. Mặc dù, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch không còn giữ lại nội dung này và không quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng văn bản có chứng thực, tuy nhiên, áp dụng tương tự quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014, có thể thấy rằng, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng văn bản có chứng thực là thời điểm hợp đồng được người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức chứng thực ký và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.

Đối với hợp đồng bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực và đăng ký theo quy định tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, hiện có ba quan điểm khác nhau về vấn đề này: Quan điểm thứ nhất cho rằng, đăng ký tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 là đăng ký quyền sở hữu tài sản[1]; quan điểm thứ hai cho rằng, đó là đăng ký giao dịch dân sự2, chủ yếu là đăng ký giao dịch bảo đảm như đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, đăng ký thế chấp nhà ở…; quan điểm thứ ba cho rằng, đó vừa là đăng ký quyền sở hữu tài sản, vừa là đăng ký giao dịch dân sự3.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, theo đó, đăng ký tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 là đăng ký giao dịch dân sự. Bởi vì, các nhà làm luật đã phân biệt đăng ký tài sản, tức là đăng ký quyền sở hữu tài sản và đăng ký giao dịch dân sự lần lượt tại hai điều luật khác nhau là Điều 106 và khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, nằm tại hai chương khác nhau là Chương VII (Tài sản) và Chương VIII (Giao dịch dân sự).

Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm4, trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tàu bay, tàu biển, thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có đăng ký là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký vào sổ đăng ký. Trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tài sản là động sản khác, thì thời điểm có hiệu lực của của hợp đồng có đăng ký là thời điểm nội dung đăng ký được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm. Cần lưu ý rằng, đây là thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của các biện pháp bảo đảm (Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015). Còn giao dịch bảo đảm, cũng giống như hợp đồng, về nguyên tắc, vẫn phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết như đã phân tích ở trên.

Mặc dù, Bộ luật Dân sự năm 2015 công nhận việc giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể như: Hợp đồng vận chuyển, bao gồm cả vận chuyển hành khách (khoản 1 Điều 523) và vận chuyển tài sản (khoản 1 Điều 531), nhưng Bộ luật không quy định về thời điểm giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, trong một số trường hợp đặc biệt, hợp đồng được giao kết bằng hành vi cụ thể được gọi là hợp đồng thực tại hay hợp đồng thực tế. Hợp đồng thực tại phát sinh hiệu lực tại thời điểm các bên thực tế đã chuyển giao cho nhau tài sản là đối tượng của hợp đồng5. Ví dụ điển hình của hợp đồng thực tại là hợp đồng mượn tài sản. Nếu chỉ có thỏa thuận về việc cho mượn, mà không có sự chuyển giao tài sản từ người cho mượn sang người mượn, thì hợp đồng chưa có hiệu lực pháp luật, nghĩa là người mượn không thể yêu cầu nhà chức trách tiến hành cưỡng chế việc cho mượn6.

2. Thời điểm có hiệu lực của một số hợp đồng cụ thể

- Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định, việc tặng cho quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Ở đây, cần phân biệt thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và thời điểm chuyển quyền sử dụng đất. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và hợp đồng này phát sinh hiệu lực từ thời điểm công chứng, chứng thực xong hợp đồng. Khi hợp đồng có hiệu lực, thì các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau (khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015). Điều này cũng có nghĩa là bên tặng cho phải giao quyền sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho (Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015). Việc tặng cho quyền sử dụng đất, tức hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, được hoàn thành, chứ không phải phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính7. Có thể lý giải cho quy định này là, theo khoản 1 và khoản 7 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013, đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và việc đăng ký đất đai có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng, pháp luật hiện hành đã quy định rõ ràng về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất - một loại tài sản bắt buộc phải đăng ký, là thời điểm công chứng hoặc chứng thực hợp đồng, chứ không phải thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

- Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở

Theo khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, tặng cho nhà ở phải thực hiện việc công chứng, chứng thực hợp đồng. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản. Do nhà ở là bất động sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên hiện có hai quan điểm về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở như sau:

+ Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa luật chung - trong trường hợp này là Bộ luật Dân sự8 và luật riêng (còn gọi là luật chuyên ngành) - tức Luật Nhà ở, thì áp dụng quy định của luật chuyên ngành. Theo quan điểm này, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng hoặc chứng thực hợp đồng.

+ Quan điểm thứ hai cho rằng, trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn. Trong trường hợp này, Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng. Bởi vì, Bộ luật Dân sự là luật chung, có giá trị pháp lý cao hơn Luật Nhà ở (là luật chuyên ngành). Theo quan điểm này, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, tuy nhiên, khác với cách giải thích của quan điểm thứ hai, quan điểm của tác giả như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc áp dụng luật chung và luật chuyên ngành không được quy định chính thức trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), mà chỉ được đúc kết bởi các nhà khoa học luật9. Nguyên tắc áp dụng luật chung và luật chuyên ngành, nếu có, thì chỉ được quy định trong một số văn bản pháp luật cụ thể nào đó. Ví dụ, trước đây, khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: Trường hợp có sự khác nhau của Luật Nhà ở với pháp luật có liên quan về sở hữu nhà ở, phát triển, quản lý việc sử dụng, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở, thì áp dụng quy định của Luật Nhà ở. Tuy nhiên, Luật Nhà ở năm 2014 đã không còn giữ lại quy định này. Có thể lý giải cho việc loại bỏ quy định này là để tránh trùng lặp trong việc quy định về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật giữa Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản pháp luật khác. Do vậy, với cách giải thích này, chưa thể xác định được thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng hay thời điểm đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Thứ hai, rất khó có thể khẳng định rằng bộ luật có giá trị pháp lý cao hơn luật, vì theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), thì bộ luật và luật đều là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành10. Điều này cũng có nghĩa là, với cách lý giải này, chưa thể xác định được thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng hay thời điểm đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Thứ ba, theo khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau. Do Bộ luật Dân sự năm 2015 ban hành sau Luật Nhà ở năm 2014 nên quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 sẽ được áp dụng. Khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định, đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất, tuy nhiên, đăng ký quyền sở hữu nhà ở là không bắt buộc, mà được thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014, một trong những điều kiện để tham gia giao dịch về nhà ở là phải có giấy chứng nhận về quyền sở hữu nhà ở, tức phải đăng ký quyền sở hữu nhà ở. Như vậy, theo khoản 2 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu tặng cho nhà ở, thì chủ sở hữu phải chuyển giao vật chất và chuyển giao pháp lý nhà ở đó bằng cách hoàn thành thủ tục đăng ký nhà ở tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này cũng có nghĩa rằng hợp đồng tặng cho nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

Thứ tư, cũng như pháp luật các nước, điển hình là luật của Cộng hòa Pháp, hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng đơn vụ11, theo đó, chỉ có bên tặng cho có nghĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu của mình cho bên được tặng cho12. Hợp đồng đơn vụ thông thường không có tính chất đền bù13, nghĩa là bên tặng cho không có bất kỳ lợi ích nào khi xác lập hợp đồng tặng cho tài sản14. Do vậy, theo quan điểm của tác giả, các nhà làm luật cần phải bảo vệ ý chí của bên có nghĩa vụ, ở đây là bên tặng cho đến cùng, chừng nào bên tặng cho chưa chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho thì bên tặng cho còn có thể thay đổi ý định của mình. Nói cách khác, quan hệ tặng cho nếu đã được xác lập, nhưng chưa có sự chuyển giao tài sản, chỉ là việc hứa tặng cho, chứ hợp đồng tặng cho tài sản chưa hình thành, do vậy, chưa có hiệu lực. Điều này cũng có nghĩa là, theo khoản 2 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

Để tránh những bất cập nêu trên cũng như để có sự thống nhất giữa luật chung và luật chuyên ngành, giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Nhà ở năm 2014, nếu thực tiễn đã có những bản án, quyết định đưa ra hướng xử lý thuyết phục thì nên phát triển thành án lệ. Nếu chưa phát triển được thành án lệ, thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014 theo hướng xác định hợp đồng tặng cho nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

TS. Lâm Tố Trang
Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh



[1]. Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, 2017, tr. 237.

[2]. Luật Dương Gia, Phân biệt đăng ký giao dịch bảo đảm và đăng ký tài sản, https://luatduonggia.vn/phan-biet-dang-ky-giao-dich-bao-dam-va-dang-ky-tai-san/, đăng ngày: 11/08/2015, truy cập ngày 20/02/2019.

[3]. Lê Minh Hùng, Hiệu lực của hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, 2015, tr. 88 - 89.

[4]. Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm, thay thế Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, đã thay thế thuật ngữ “đăng ký giao dịch bảo đảm” thành thuật ngữ “đăng ký biện pháp bảo đảm”. Bản chất của hai thuật ngữ “giao dịch bảo đảm” và “biện pháp bảo đảm” là khác nhau. Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có thể là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương. Nếu là hợp đồng, thì theo định nghĩa tại Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, phải có thỏa thuận của các bên, ở đây là sự thỏa thuận của các bên về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng. Tuy nhiên, cầm giữ tài sản, một biện pháp bảo đảm mới được quy định tại Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015, không phát sinh trên cơ sở thỏa thuận của các bên mà phát sinh theo quy định của luật.

[5]. Trường Đại học Luật Hà Nội, Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn (Chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb. Công an nhân dân, 2018, tr. 124.

[6]. Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự, Tập 1, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 160 - 161.

[7]. Xem thêm: Đỗ Mai Bích Phượng, Tạp chí Tòa án nhân dân, Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhà đất mà quy định phải có công chứng, chứng thực, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/tu-cac-quy-dinh-neu-tren-hien-nay-dang-co-cac-cach-hieu-khac-nhau-ve-thoi-diem-co-hieu-luc-cua-hop-dong-lien-quan-den-nha-dat-la-loai-hop-dong-ma-phap-luat-co-yeu-cau-cong-chung-chung-thuc, truy cập ngày 05/7/2020.

[8]. Xem khoản 1 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9]. Phan Trung Hiền, Những nội dung cơ bản của môn học Lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2014, tr. 99.

[10]. Xem thêm: Phan Trung Hiền, tlđd, tr. 94.

[11]. Khoản 2 Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 1106 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[12]. Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[13]. Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 1107 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[14]. Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, sđd, Tập 1, tr. 144; Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự, Tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 30.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: