Thứ hai 13/04/2026 18:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở

Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp tổng quát và trong một số hợp đồng tặng cho bất động sản cụ thể như hợp đồng tặng cho quyền sử đụng đất và hợp đồng tặng cho nhà ở, từ đó, đưa ra quan điểm và cách lý giải của mình, đồng thời đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập, tạo sự thống nhất trong áp dụng các quy định pháp luật.

Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, hiện nay đang tồn tại một số văn bản pháp luật khác nhau quy định về vấn đề này. Đối với hợp đồng tặng cho nhà ở thì đáng chú ý là các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Nhà ở. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký là thời điểm đăng ký; còn theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng, chứng thực. Chính sự khác nhau của hai quy định này mà đã tồn tại các quan điểm và cách lý giải khác nhau về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở.

1. Quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức giao dịch dân sự, hợp đồng có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản và bằng hành vi cụ thể. Riêng đối với hình thức văn bản, nếu luật có yêu cầu thì văn bản phải được công chứng, chứng thực, đăng ký. Tùy theo hình thức của hợp đồng mà thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của mỗi hợp đồng sẽ khác nhau. Theo quy định tại Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng; thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản; trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm các bên đã thỏa thuận xong về nội dung của hợp đồng.

Theo khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng văn bản có công chứng là thời điểm hợp đồng được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Đối với hợp đồng bằng văn bản có chứng thực, trước đây, Điều 10 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực quy định thời điểm chứng thực hợp đồng là thời điểm người thực hiện chứng thực ký vào văn bản chứng thực. Mặc dù, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch không còn giữ lại nội dung này và không quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng văn bản có chứng thực, tuy nhiên, áp dụng tương tự quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014, có thể thấy rằng, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng văn bản có chứng thực là thời điểm hợp đồng được người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức chứng thực ký và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.

Đối với hợp đồng bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực và đăng ký theo quy định tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, hiện có ba quan điểm khác nhau về vấn đề này: Quan điểm thứ nhất cho rằng, đăng ký tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 là đăng ký quyền sở hữu tài sản[1]; quan điểm thứ hai cho rằng, đó là đăng ký giao dịch dân sự2, chủ yếu là đăng ký giao dịch bảo đảm như đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, đăng ký thế chấp nhà ở…; quan điểm thứ ba cho rằng, đó vừa là đăng ký quyền sở hữu tài sản, vừa là đăng ký giao dịch dân sự3.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, theo đó, đăng ký tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 là đăng ký giao dịch dân sự. Bởi vì, các nhà làm luật đã phân biệt đăng ký tài sản, tức là đăng ký quyền sở hữu tài sản và đăng ký giao dịch dân sự lần lượt tại hai điều luật khác nhau là Điều 106 và khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, nằm tại hai chương khác nhau là Chương VII (Tài sản) và Chương VIII (Giao dịch dân sự).

Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm4, trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tàu bay, tàu biển, thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có đăng ký là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký vào sổ đăng ký. Trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tài sản là động sản khác, thì thời điểm có hiệu lực của của hợp đồng có đăng ký là thời điểm nội dung đăng ký được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm. Cần lưu ý rằng, đây là thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của các biện pháp bảo đảm (Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015). Còn giao dịch bảo đảm, cũng giống như hợp đồng, về nguyên tắc, vẫn phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết như đã phân tích ở trên.

Mặc dù, Bộ luật Dân sự năm 2015 công nhận việc giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể như: Hợp đồng vận chuyển, bao gồm cả vận chuyển hành khách (khoản 1 Điều 523) và vận chuyển tài sản (khoản 1 Điều 531), nhưng Bộ luật không quy định về thời điểm giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, trong một số trường hợp đặc biệt, hợp đồng được giao kết bằng hành vi cụ thể được gọi là hợp đồng thực tại hay hợp đồng thực tế. Hợp đồng thực tại phát sinh hiệu lực tại thời điểm các bên thực tế đã chuyển giao cho nhau tài sản là đối tượng của hợp đồng5. Ví dụ điển hình của hợp đồng thực tại là hợp đồng mượn tài sản. Nếu chỉ có thỏa thuận về việc cho mượn, mà không có sự chuyển giao tài sản từ người cho mượn sang người mượn, thì hợp đồng chưa có hiệu lực pháp luật, nghĩa là người mượn không thể yêu cầu nhà chức trách tiến hành cưỡng chế việc cho mượn6.

2. Thời điểm có hiệu lực của một số hợp đồng cụ thể

- Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định, việc tặng cho quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Ở đây, cần phân biệt thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và thời điểm chuyển quyền sử dụng đất. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và hợp đồng này phát sinh hiệu lực từ thời điểm công chứng, chứng thực xong hợp đồng. Khi hợp đồng có hiệu lực, thì các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau (khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015). Điều này cũng có nghĩa là bên tặng cho phải giao quyền sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho (Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015). Việc tặng cho quyền sử dụng đất, tức hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, được hoàn thành, chứ không phải phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính7. Có thể lý giải cho quy định này là, theo khoản 1 và khoản 7 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013, đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và việc đăng ký đất đai có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng, pháp luật hiện hành đã quy định rõ ràng về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất - một loại tài sản bắt buộc phải đăng ký, là thời điểm công chứng hoặc chứng thực hợp đồng, chứ không phải thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

- Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở

Theo khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, tặng cho nhà ở phải thực hiện việc công chứng, chứng thực hợp đồng. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản. Do nhà ở là bất động sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên hiện có hai quan điểm về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở như sau:

+ Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa luật chung - trong trường hợp này là Bộ luật Dân sự8 và luật riêng (còn gọi là luật chuyên ngành) - tức Luật Nhà ở, thì áp dụng quy định của luật chuyên ngành. Theo quan điểm này, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng hoặc chứng thực hợp đồng.

+ Quan điểm thứ hai cho rằng, trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn. Trong trường hợp này, Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng. Bởi vì, Bộ luật Dân sự là luật chung, có giá trị pháp lý cao hơn Luật Nhà ở (là luật chuyên ngành). Theo quan điểm này, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, tuy nhiên, khác với cách giải thích của quan điểm thứ hai, quan điểm của tác giả như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc áp dụng luật chung và luật chuyên ngành không được quy định chính thức trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), mà chỉ được đúc kết bởi các nhà khoa học luật9. Nguyên tắc áp dụng luật chung và luật chuyên ngành, nếu có, thì chỉ được quy định trong một số văn bản pháp luật cụ thể nào đó. Ví dụ, trước đây, khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: Trường hợp có sự khác nhau của Luật Nhà ở với pháp luật có liên quan về sở hữu nhà ở, phát triển, quản lý việc sử dụng, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở, thì áp dụng quy định của Luật Nhà ở. Tuy nhiên, Luật Nhà ở năm 2014 đã không còn giữ lại quy định này. Có thể lý giải cho việc loại bỏ quy định này là để tránh trùng lặp trong việc quy định về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật giữa Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản pháp luật khác. Do vậy, với cách giải thích này, chưa thể xác định được thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng hay thời điểm đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Thứ hai, rất khó có thể khẳng định rằng bộ luật có giá trị pháp lý cao hơn luật, vì theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), thì bộ luật và luật đều là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành10. Điều này cũng có nghĩa là, với cách lý giải này, chưa thể xác định được thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng hay thời điểm đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Thứ ba, theo khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau. Do Bộ luật Dân sự năm 2015 ban hành sau Luật Nhà ở năm 2014 nên quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 sẽ được áp dụng. Khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định, đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất, tuy nhiên, đăng ký quyền sở hữu nhà ở là không bắt buộc, mà được thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014, một trong những điều kiện để tham gia giao dịch về nhà ở là phải có giấy chứng nhận về quyền sở hữu nhà ở, tức phải đăng ký quyền sở hữu nhà ở. Như vậy, theo khoản 2 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu tặng cho nhà ở, thì chủ sở hữu phải chuyển giao vật chất và chuyển giao pháp lý nhà ở đó bằng cách hoàn thành thủ tục đăng ký nhà ở tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này cũng có nghĩa rằng hợp đồng tặng cho nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

Thứ tư, cũng như pháp luật các nước, điển hình là luật của Cộng hòa Pháp, hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng đơn vụ11, theo đó, chỉ có bên tặng cho có nghĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu của mình cho bên được tặng cho12. Hợp đồng đơn vụ thông thường không có tính chất đền bù13, nghĩa là bên tặng cho không có bất kỳ lợi ích nào khi xác lập hợp đồng tặng cho tài sản14. Do vậy, theo quan điểm của tác giả, các nhà làm luật cần phải bảo vệ ý chí của bên có nghĩa vụ, ở đây là bên tặng cho đến cùng, chừng nào bên tặng cho chưa chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho thì bên tặng cho còn có thể thay đổi ý định của mình. Nói cách khác, quan hệ tặng cho nếu đã được xác lập, nhưng chưa có sự chuyển giao tài sản, chỉ là việc hứa tặng cho, chứ hợp đồng tặng cho tài sản chưa hình thành, do vậy, chưa có hiệu lực. Điều này cũng có nghĩa là, theo khoản 2 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

Để tránh những bất cập nêu trên cũng như để có sự thống nhất giữa luật chung và luật chuyên ngành, giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Nhà ở năm 2014, nếu thực tiễn đã có những bản án, quyết định đưa ra hướng xử lý thuyết phục thì nên phát triển thành án lệ. Nếu chưa phát triển được thành án lệ, thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2014 theo hướng xác định hợp đồng tặng cho nhà ở có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

TS. Lâm Tố Trang
Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh



[1]. Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, 2017, tr. 237.

[2]. Luật Dương Gia, Phân biệt đăng ký giao dịch bảo đảm và đăng ký tài sản, https://luatduonggia.vn/phan-biet-dang-ky-giao-dich-bao-dam-va-dang-ky-tai-san/, đăng ngày: 11/08/2015, truy cập ngày 20/02/2019.

[3]. Lê Minh Hùng, Hiệu lực của hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, 2015, tr. 88 - 89.

[4]. Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm, thay thế Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, đã thay thế thuật ngữ “đăng ký giao dịch bảo đảm” thành thuật ngữ “đăng ký biện pháp bảo đảm”. Bản chất của hai thuật ngữ “giao dịch bảo đảm” và “biện pháp bảo đảm” là khác nhau. Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có thể là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương. Nếu là hợp đồng, thì theo định nghĩa tại Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, phải có thỏa thuận của các bên, ở đây là sự thỏa thuận của các bên về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng. Tuy nhiên, cầm giữ tài sản, một biện pháp bảo đảm mới được quy định tại Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015, không phát sinh trên cơ sở thỏa thuận của các bên mà phát sinh theo quy định của luật.

[5]. Trường Đại học Luật Hà Nội, Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn (Chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb. Công an nhân dân, 2018, tr. 124.

[6]. Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự, Tập 1, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 160 - 161.

[7]. Xem thêm: Đỗ Mai Bích Phượng, Tạp chí Tòa án nhân dân, Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhà đất mà quy định phải có công chứng, chứng thực, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/tu-cac-quy-dinh-neu-tren-hien-nay-dang-co-cac-cach-hieu-khac-nhau-ve-thoi-diem-co-hieu-luc-cua-hop-dong-lien-quan-den-nha-dat-la-loai-hop-dong-ma-phap-luat-co-yeu-cau-cong-chung-chung-thuc, truy cập ngày 05/7/2020.

[8]. Xem khoản 1 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9]. Phan Trung Hiền, Những nội dung cơ bản của môn học Lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2014, tr. 99.

[10]. Xem thêm: Phan Trung Hiền, tlđd, tr. 94.

[11]. Khoản 2 Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 1106 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[12]. Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[13]. Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 1107 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[14]. Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, sđd, Tập 1, tr. 144; Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự, Tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 30.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: